XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO LUẬT

THS. LÊ TIẾN CHÂU –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Xây dựng đội ngũ nhà giáo nói chung, đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở đào tạo luật nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm trong sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Bác Hồ đã từng nói: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người”. Muốn “trồng người” thật tốt trước hết chúng ta phải xây dựng đội ngũ những người “trồng người”. Đây chính là là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Đánh giá những kết quả đạt được trong công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo những năm qua, chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng đã ghi nhận “những năm qua chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước”.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua, công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo vẫn chưa được các cấp có thẩm quyền quan tâm đầy đủ. Chỉ thị 40-CT/TW đánh giá “số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế xã hội… Chế độ chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của đội ngũ này”.

Hiện nay, trong điều kiện Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong đó pháp luật phải được tôn trọng và thực hiện, quyền tự do dân chủ của công dân phải được đảm bảo, trong xu thế đổi mới để hiện đại hóa giáo dục, việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo tại các cơ sở đào tạo luật – phần lớn còn rất non trẻ so với các ngành khoa học xã hội khác – càng trở nên cấp thiết.

II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO HIÊN NAY Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO LUẬT

Có thể nhận xét rằng hiện nay công tác giáo dục và đào tạo pháp luật nói riêng đangcó sự mất cân đối rất lớn giữa yêu cầu phát triển về quy mô, về số lượng và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; giữa hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, sự kế thừa của đội ngũ nhà giáo trong hiện tại với yêu cầu của công cuộc đổi mới; hụt hẫng giữa cơ chế tạo nguồn với cơ chế đào tạo và sử dụng đội ngũ nhà giáo, giữa yêu cầu nâng cao chất lượng với cơ chế trả thù lao cho đội ngũ nhà giáo. Có thể thấy rõ điều này qua một số thông tin sau đây:

– Về số lượng: Mặc dù các cơ sở đào tạo luật đã có nhiều biện pháp trong việc bổ sung lực lượng giáo viên, song so với quy mô đào tạo thì hầu hết các cơ sở đào tạo luật đều thiếu giáo viên cơ hữu. Thống kê của các trường cho thấy cơ sở có số lượng giáo viên đông nhất cũng chỉ đạt 62,05 sinh viên/1 giáo viên, thấp nhất chỉ đạt 101,78 sinh viên/1 giáo viên; các cơ sở đào tạo khác đạt trung bình từ 72,10 sinh viên/1 giáo viên đến 95,71 sinh viên/1giáo viên; cá biệt có cơ sở đào tạo luật có số lượng sinh viên trên 4.000 nhưng không có một giáo viên luật nào mà hoàn toàn phụ thuộc vào giáo viên bên ngoài (xem thêm Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2005). Chúng ta đều biết rằng việc sử dụng đội ngũ giáo viên thỉnh giảng trong quá trình đào tạo ở các trường cũng có những ưu điểm nhất định: các trường có thể lựa chọn được những giáo viên có uy tín, có kinh nghiệm và trình độ mà nhà trường lại không phải gánh nặng các khoản lương, phúc lợi và các khoản bồi dưỡng, các khoản đầu tư khác để trả cho giáo viên… Tuy nhiên điều này chỉ thật sự phát huy hiệu quả khi sử dụng một tỷ lệ giáo viên thỉnh giảng thích hợp, khó có thể chấp nhận tình trạng nhiều cơ sở đào tạo luật hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng bên ngoài.

– Về trình độ chuyên môn: Thống kê của các trường cho thấy cơ sở đào tạo có số lượng giáo viên đạt trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ cao nhất là 84%, còn lại có tỷ lệ dao động từ 21,42% đến 42,72%, trong đó số giáo viên có học vị tiến sĩ chiếm từ 14% đến 34%; có không ít cơ sở đào tạo được phép đào tạo luật khá lâu và có số lượng sinh viên lên trên 2.000 nhưng chưa có một giáo viên luật nào có học vị tiến sĩ (xem thêm Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2005).

– Về trình độ lý luận chính trị: Chưa có thống kê đầy đủ về số lượng giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị nhưng chắc rằng tỷ lệ này ở các trường đào tạo luật là khá thấp. Các trường chưa thật sự quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức này, nếu có thì chỉ quan tâm đến các vị trí lãnh đạo, quản lý mà thôi. Trong khi đó Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới đã yêu cầu: “… bảo đảm các sinh viên sau khi tốt nghiệp phải có quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và nắm vững kiến thức pháp luật”. Yêu cầu này đòi hỏi đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở đào tạo luật hiện nay phải vững vàng về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời phải được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức lý luận chính trị. Không thể có được lớp sinh viên sau khi tốt nghiệp có quan điểm chính trị vững vàng trong khi đó người thầy lại không có hoặc không vững vàng về chính trị. Điều đáng quan tâm là ở các cơ sở đào tạo luật mà hình thức đào tạo từ xa, theo quy định sinh viên chỉ cần lên lớp 20% số tiết, thời gian còn lại tự nghiên cứu, tự học không có những hoạt động ngoại khoá, không có những sinh hoạt chính trị tư tưởng và nói chung là thiếu hoạt động quản lý thì yêu cầu sinh viên sau khi tốt nghiệp phải vững vàng về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị là khó có khả năng thực hiện.

– Về trình độ nghiệp vụ: Chưa có thống kê đầy đủ về số lượng giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm, nhưng qua khảo sát cho thấy các cơ sở đào tạo luật mới được thành lập gần đây do áp lực thiếu giáo viên nên hầu hết chưa được tạo về nghiệp vụ sư phạm, chủ yếu là người trước hướng dẫn cho người đi sau theo kinh nghiệm cá nhân hoặc giáo viên tự tìm tòi, nghiên cứu mà không qua một lớp bồi dưỡng nào, nhiều tình huống, nhiều vấn đề giáo viên lẽ ra phải biết nhưng không được biết trước khi lên lớp là hiện tượng có thật, cần phải được khắc phục. Do đặc thù về nguồn tuyển dụng giáo viên không phải từ các trường sư phạm nên yêu cầu được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở đào luật.

– Về trình độ ngoại ngữ: Đây là điểm hạn chế của không ít cơ sở đào tạo luật hiện nay. Biểu hiện rõ ràng nhất là tại các kỳ thi cao học và nghiên cứu sinh đi học nước ngoài có rất ít giáo viên tham gia do chưa đủ điều kiện về ngoại ngữ. Tỷ lệ giáo viên có thể sử dụng ngoại ngữ trong nghiên cứu, giảng dạy còn khá thấp. Trong điều kiện hội nhập như hiện nay, yêu cầu về việc sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện nghiên cứu, giảng dạy, giao tiếp, đàm phán… là rất quan trọng, các trường cần phải thật sự quan tâm vấn đề này.

– Về cơ cấu: Việc tuyển dụng giáo viên ở một số cơ sở đào tạo luật hiện nay chưa chú trọng sự đồng đều ở các bộ môn, có một số bộ môn rất đông giáo viên nhưng cũng có những bộ môn không có giáo viên cơ hữu nào. Do vậy, khi có giáo viên nào đó không lên lớp được sẽ không có giáo viên khác thay thế kịp thời, buộc sinh viên phải nghỉ học hoặc phải thay thế môn học khác mà không theo một trình tự bắt buộc nào. Hiện tượng này xảy ra ở không ít cơ sở đào tạo luật.

Qua đợt khảo sát do Bộ giáo dục và đào tạo phối hợp với các bộ ngành có liên quan tiến hành, cũng như qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng: có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân là do một thời gian dài các trường đại học nói chung, các cơ sở đào tạo luật nói riêng bị giới hạn bởi chỉ tiêu biên chế và cơ chế về tài chính. Trong một thời gian khá dài nhiều trường không được tăng biên chế, trong khi đó các trường đều phải tăng quy mô đào tạo để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho xã hội. Để giải quyết bài toán về nhân lực, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 18/TTg ngày 27/8/2001, cho phép các trường ký hợp đồng với những người có đủ điều kiện để làm giáo viên và yêu cầu các trường phải đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ như đối với công chức. Khi Bộ giao chỉ tiêu cho các trường nhưng lại chưa phân cấp cho các trường tổ chức thi tuyển giáo viên, các trường buộc phải ký hợp đồng (gọi là hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế) nhưng theo quy định của pháp luật thì không có loại hợp đồng nào phản ánh thực chất quan hệ lao động này, buộc các trường phải dùng đến mẫu hợp đồng lao động. Mãi đến năm 2004, khi Bộ phân cấp cho các trường được tự chủ một phần về nhân sự và tài chính thì các trường khá bị động trong việc giải quyết thực trạng trên. Thậm chí, cho đến nay, có trường chưa tổ chức thi tuyển giáo viên để đưa số giáo viên ký hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế vào biên chế; chưa xây dựng kế hoạch dài hạn, khoa học về việc đào tạo, bồi dưỡng. Và thực tế cũng cho thấy rằng, công tác đánh giá phân loại, công tác thi đua khen thưởng… tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay chưa được thật sự quan tâm nên đã tạo ra khoảng trống về lực lượng.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Từ những phân tích trên có thể kết luận rằng, mặc dù có không ít khó khăn nhưng các cơ sở đào tạo luật đều có những cố gắng và đã đạt được những kết quả nhất định trong việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo về tất cả các mặt: số lượng, trình độ, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị… Trong chừng mực nào đó những kết quả này đã đáp ứng được phần lớn yêu cầu trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, góp phần quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục và đào tạo pháp luật nói riêng, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cũng như công cuộc đổi mới giáo dục đại học hiện nay, công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo trong các cơ sở đào tạo luật còn không ít những khó khăn và bất cập, cụ thể là: đội ngũ nhà giáo còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội; cơ cấu thiếu đồng bộ; công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa được thật sự quan tâm và tiến hành thường xuyên, đồng bộ; các chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo đời sống cũng như nâng cao trình độ chưa rõ ràng và chưa thật sự hấp dẫn; công tác đánh giá phân loại, thi đua khen thưởng chưa được thực hiện kịp thời, công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng nhằm tăng cường về số lượng và nâng cao trình độ chưa được quan tâm đúng mức.

2. Kiến nghị

Từ thực tiễn và kết luận nêu trên, xuất phát từ yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, chúng tôi kiến nghị các cơ sở đào tạo luật cần phải:

2.1 Tiến hành khảo sát, đánh giá lại một cách chính xác thực trạng đội ngũ nhà giáo, đối chiếu với các tiêu chuẩn của từng ngạch để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng. Đồng thời, căn cứ vào kế hoạch phát triển nhà trường trong những năm tiếp theo để xác định nhu cầu tuyển dụng… làm cơ sở cho việc xác định kế hoạch xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo cho đơn vị mình.

2.2 Khẩn trương xây dựng kế hoạch tổng thể, khoa học và dài hạn về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo như là một yêu cầu bắt buộc trong sự phát triển nhà trường. Trong nội dung kế hoạch cần xác định rõ những vấn đề sau đây:

a. Về công tác tuyển dụng: Phải xác định rõ số lượng tuyển dụng trong một giai đoạn nhất định (trong 5 năm, 10 năm). Trên cơ sở đó xác định số lượng tuyển dụng cho từng năm, cho từng bộ môn, từng khoa và cho toàn trường; đa dạng nguồn tuyển dụng: từ trong sinh viên, từ các viện nghiên cứu, từ nguồn đào tạo ở nước ngoài, từ những đối tượng đang làm công tác thực tiễn…; xác định tiêu chuẩn và quy trình tuyển dụng, đồng thời phải xác định rõ trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phận có liên quan trong công tác tuyển dụng.

b. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng:

– Vấn đề đào tạo: Bằng cấp không phải là tiêu chí duy nhất quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên ở các trường đại học, nhưng đó chính là phần định lượng để đánh giá đội ngũ giáo viên, là mặt tiền khẳng định vị thế, uy tín của nhà trường. Trong kế hoạch cần xác định cụ thể số lượng và trình độ đào tạo hàng năm, xác định thời gian hoàn thành khóa học, xác định trách nhiệm đối với giáo viên mới được tuyển dụng trong việc nâng cao trình độ; việc đào tạo trong và ngoài nước; nguồn kinh phí đào tạo…

– Vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm: Việc nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm cần được đặt ra như một yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên trước khi cho phép lên lớp. Trong kế hoạch của mình các cơ sở đào tạo luật cần phải phối hợp với các khoa, trường sư phạm xây dựng chương trình bồi dưỡng riêng cho giáo viên luật và thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng cho các cơ sở đào tạo của mình.

– Vấn đề học tập chính trị để nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị cần phải được quan tâm. Do tính chất và yêu cầu của việc giảng dạy luật, giáo viên luật phải có quan điểm chính trị rõ ràng. Vì vậy, trong kế hoạch cũng cần phải thể hiện rõ yêu cầu này đối với giáo viên, đồng thời nhà trường cần thường xuyên mở các khoá bồi dưỡng kiến thức này.

– Mở lớp hoặc cử giáo viên đi học ở các trường, trung tâm để nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học; khai thác có hiệu quả các dự án hợp tác quốc tế trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ,… và phải đặt ra các yêu cầu về thời gian và trình độ cụ thể đối với giáo viên.

– Vấn đề thẩm định bài giảng; thông qua bài giảng để đảm bảo tính chính xác và yêu cầu khoa học của một bài giảng; vấn đề phân công giáo viên có kinh nghiệm giúp đỡ giáo viên trẻ trong thời gian tập sự nhằm định hướng chuyên môn, hướng dẫn cách soạn bài, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học và phương pháp sư phạm, cách thức chuẩn bị bài giảng, những giá trị của nghề nghiệp… là việc làm quan trọng và có tính bắt buộc cần phải được quy định cụ thể.

c. Công tác đánh giá, phân loại giáo viên phải được thực hiện thường xuyên, nghiêm chỉnh; các tiêu chí đánh giá, phân loại phải được cụ thể hóa cho phù hợp với tình hình và yêu cầu cụ thể của từng trường; hệ thống các tiêu chuẩn phải là động lực, là môi trường tốt cho cho giáo viên phấn đấu và cống hiến, làm cơ sở để thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật của trường.

d. Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích:

– Ở cấp vĩ mô: Nhà nước phải giành một phần kinh phí cần và đủ (có thể kinh phí nằm trong chương trình cải cách tư pháp) để xây dựng một quỹ tạm gọi là “Quỹ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng giảng viên trẻ”; tiếp tục tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục – đào tạo, đặc biệt là giáo dục pháp luật; tập trung đầu tư cho các nhiệm vụ trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia; đổi mới cơ bản chế độ học phí; có cơ chế, chính sách đào tạo đủ về số lượng giáo viên… theo tinh thần Nghị quyết số 50/ NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về xã hội hóa giáo dục

– Ở cấp vi mô: Nhà trường cần phải đa dạng hóa chính sách và tăng mức hỗ trợ, khuyến khích cả về vật chất và tinh thần cho giáo viên; xây dựng chế độ thưởng phạt cụ thể về việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tạo ra môi trường làm việc phù hợp, lành mạnh để cho giáo viên yên tâm công tác và phát huy tối đa khả năng của mình.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 5/2005

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: