HOẠT ĐỘNG PHÁP LUẬT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

GS. TS. VÕ KHÁNH VINH –  Viện Nhà nước và Pháp luật

Hoạt động là một trong những phạm trù quan trọng của xã hội học nói chung; theo lôgic đó, hoạt động pháp luật là một trong những vấn đề quan trọng thuộc đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật. Trong sách báo pháp lý nước ta, khái niệm hoạt động pháp luật nói chung và các dạng hoạt động pháp luật cụ thể: hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động áp dụng pháp luật, hoạt động thông tin pháp luật,… thường được sử dụng và được phân tích ở phương diện pháp lý thực chứng. Điều đó là cần nhưng chưa đủ. Ngoài cách tiếp cận pháp lý thực chứng cần phải dựa vào cách tiếp cận xã hội học để làm sáng tỏ vấn đề đó. Bài viết này bước đầu tìm hiểu những vấn đề lý luận của hoạt động pháp luật dưới phương diện xã hội học pháp luật.

1. Khái niệm hoạt động pháp luật

Hoạt động pháp luật là một loại hoạt động xã hội, do vậy nó có tất cả các dấu hiệu của hoạt động xã hội. Mọi loại hoạt động xã hội đều được hiểu là sự tác động có định hướng mục đích của chủ thể đối với khách thể. Chủ thể của hoạt động có thể là những cá nhân cụ thể và cũng có thể là các cấu thành tập thể của họ (các tổ chức, các cơ quan), các cộng đồng dân tộc – xã hội (nhân dân, các dân tộc, các tộc người) và Nhà nước, các cơ quan nhà nước. Khách thể của hoạt động có thể là các hiện tượng và các quá trình của tự nhiên hoặc của xã hội, trong đó có con người.

Hoạt động bao gồm những hành động cụ thể, tức là mọi hoạt động đều hướng đến việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Ở đây những hành động cụ thể có thể được phân thành hai loại: (1) những hành động nhận thức, đó là những hành động hướng đến việc nhận thức hiện thực khách quan hoặc tạo ra những của cải tinh thần; (2) những hành động giao tiếp xã hội, đó là những hành động hướng đến việc thiết lập, ủng hộ hoặc chấm dứt mối quan hệ lẫn nhau giữa mọi người hoặc chấm dứt sự tác động lẫn nhau giữa họ. Một phần nào đó trong những hoạt động giao tiếp xã hội, những hoạt động thể hiện trạng thái chủ quan của con người hoặc thái độ của họ đối với những người khác, đối với những quy phạm do họ tiếp nhận hoặc đối với những mục đích và những giá trị của họ tạo thành tác vi và trong tổng thể các tác vi đó được gọi là hành vi.

Nội dung của hoạt động pháp luật được quyết định bởi đặc trưng của khách thể hoạt động. Pháp luật với sự thể hiện phong phú, đa dạng về các quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật, ý thức pháp luật và điều chỉnh pháp luật là khách thể của hoạt động pháp luật không chỉ vì hoạt động đó hướng đến pháp luật, mà còn bởi vì hoạt động đó dẫn đến những kết quả có ý nghĩa về mặt pháp luật và bằng cách đó làm thay đổi hoặc ngược lại bảo vệ, duy trì sự tồn tại hiện có của hiện thực pháp luật.

Ý nghĩa pháp lý của hoạt động pháp luật có thể được thể hiện ở hai kết quả sau: (1) đó là những hành động dẫn đến những thay đổi, những sửa đổi, bổ sung nhất định trong lĩnh vực pháp luật; (2) đó là trong xã hội có được những trật tự, những quan hệ pháp luật mà nhà làm luật mong muốn đạt được khi ban hành quy phạm pháp luật tương ứng. Thông thường, khi hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, chủ thể làm thay đổi hoặc nhiều, hoặc ít hiện thực pháp luật đang hiện có, đưa ra những sửa đổi, bổ sung này hay sửa đổi, bổ sung khác đối với hiện thực đó. Nói chung, hoạt động như vậy được thể hiện dưới hình thức những hành động cụ thể và dẫn đến những kết quả, những thay đổi có ý nghĩa về mặt pháp lý trong lĩnh vực cụ thể nào đó của pháp luật, của điều chỉnh pháp luật: xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật hoặc cưỡng chế nhà nước.

Các kết quả trước tiên được coi là những kết quả có ý nghĩa về mặt pháp lý là những kết quả hoạt động của cơ chế pháp lý của điều chỉnh pháp luật. Chẳng hạn, ở giai đoạn hoạt động xây dựng pháp luật những kết quả có ý nghĩa lớn nhất được thể hiện ở việc soạn thảo dự án văn bản quy phạm pháp luật, ở các đánh giá thẩm định về dự án, ở việc thông qua và công bố văn bản quy phạm pháp luật đó.

Giai đoạn thực hiện các quy phạm pháp luật quy tụ về việc thực hiện những hành động cụ thể làm xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể và hoàn thiện hệ thống các quan hệ pháp luật đã được hình thành. Hoạt động trong lĩnh vực này có đặc trưng thể hiện ở chỗ là một số người được tham gia vào quan hệ cụ thể, mối liên hệ pháp luật của những người khác lại bị chấm dứt, còn đối với nhóm người thứ ba thì chỉ quy định các điều kiện mà dựa vào đó quan hệ pháp luật giữa họ có thể được kết thúc. Trong lĩnh vực cưỡng chế nhà nước, các chủ thể thực hiện hoạt động một cách tích cực để đấu tranh với các vi phạm pháp luật bằng cách ngăn chặn những vi phạm pháp luật, làm sáng tỏ những người vi phạm pháp luật và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với họ. Các kết quả của hoạt động đó có thể được thể hiện dưới dạng quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm giam người phạm tội, quyết định tạm giữ người vi phạm pháp luật, quyết định đánh giá chứng cứ, quyết định hình phạt (loại và mức hình phạt) đối với người phạm tội.

Hoạt động pháp luật cũng có thể và do những người làm công tác nghiên cứu khoa học, những người hoạt động chính trị và xã hội, những nhà báo và những người khác thực hiện khi họ khách quan hóa những hiểu biết, tư tưởng của mình dưới dạng các công trình nghiên cứu khoa học, các công trình khác đã được công bố. Các kết quả pháp luật của hoạt động cũng có thể bao hàm cả những thay đổi diễn ra trong ý thức pháp luật xã hội và ý thức pháp luật cá nhân, trong văn hóa pháp luật của xã hội và của Nhà nước do có sự ảnh hưởng của những công trình đã được công bố hoặc của hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

Hoạt động trong lĩnh vực pháp luật cũng có thể được thực hiện dưới hình thức hành vi thụ động. Một trong những dạng của hành vi đó là không hành động. Không hành động xảy ra trong trường hợp khi pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm của chủ thể kiềm chế mình không thực hiện tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Cũng có cả những trường hợp theo đó do bản án có hiệu lực pháp luật mà chủ thể có trách nhiệm không thực hiện những hành động nhất định.

Trong trường hợp chủ thể tuân thủ một cách nghiêm chỉnh các điều cấm, thì đừng cho rằng trong trường hợp đó chủ thể không hành động, không gây ra những thay đổi trong lĩnh vực pháp luật và không coi hành vi của chủ thể đó là hoạt động pháp luật. Việc nhận thức như vậy về một trong những hình thức rất quan trọng của thực hiện pháp luật là hoàn toàn không đúng. Khi cấm thực hiện những hành vi gây ra thiệt hại cho xã hội thì nhà làm luật đã nhìn thấy cả những kết quả có ý nghĩa về mặt pháp lý của điều cấm do mình ban hành là ở chỗ các công dân và những người khác sẽ không vi phạm các điều cấm do mình đưa ra, mà chỉ hoạt động một cách hợp pháp. Hành vi hợp pháp trong trường hợp này được hiểu là một dạng của hoạt động pháp luật, bởi vì nó đem đến những kết quả mà nhà làm luật muốn nhìn thấy, duy trì được trật tự pháp luật ổn định và củng cố pháp chế trong xã hội.

Chủ thể của hoạt động pháp luật được coi là người bằng những hành động của mình đem đến những hậu quả có ý nghĩa về mặt pháp lý. Chủ thể của hoạt động đó có thể là các cơ quan nhà nước được giao những thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước, những tổ chức chính trị – xã hội có những thẩm quyền tương tự và những công dân, những người có tâm lý bình thường và có năng lực nhận thức một cách đúng đắn ý nghĩa xã hội của những hành động của mình. Trẻ em và những người bị Tòa án coi là những người không có năng lực hành vi do bị mắc bệnh tâm thần không thể là chủ thể của hoạt động pháp luật.

Như vậy, hoạt động pháp luật được hiểu là hoạt động hợp pháp của công dân và của các chủ thể khác của pháp luật nhằm duy trì hoặc hoàn thiện cơ chế pháp lý của điều chỉnh pháp luật, trong đó có các yếu tố cấu thành của nó: cơ chế xây dựng pháp luật, cơ chế thực hiện pháp luật và cơ chế cưỡng chế nhà nước.

2. Đối tượng và những giới hạn của hoạt động pháp luật

Với tư cách là một loại hoạt động xã hội, hoạt động pháp luật không mang tính chất khái quát chung và do vậy một trong những nhiệm vụ của xã hội học pháp luật là xác định chính xác các ranh giới về lĩnh vực đối tượng của nó hoặc nói cách khác là xác định những giới hạn của nó. Nhu cầu đó được thể hiện rất rõ ở những giới hạn như: ở giai đoạn bắt đầu và ở giai đoạn kết thúc của điều chỉnh pháp luật, nơi mà các hiện tượng pháp luật gắn kết, tiếp giáp một cách rất chặt chẽ với các hiện tượng xã hội và do vậy việc phân biệt các hiện tượng đó là nhiệm vụ nhận thức rất phức tạp.

Điều chỉnh pháp luật với tư cách là quá trình thông qua các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung có đối tượng của mình là các quan hệ xã hội, tức là các quá trình, hiện tượng xã hội, chứ không phải các quá trình, hiện tượng pháp lý. Trong xã hội hiện nay ở nước ta cũng như ở các nước, phần lớn các quan hệ xã hội có thể tồn tại và phát triển một cách tích cực chỉ dưới hình thức các quan hệ pháp luật. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là cần phải mở rộng một cách không có giới hạn nhóm các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Do vậy, một trong những nhiệm vụ gắn liền với việc xác định các giới hạn của hoạt động pháp luật là xác định một cách đúng đắn ranh giới, tức là tổng thể các quan hệ xã hội mà về mặt khách quan đòi hỏi phải có sự điều chỉnh pháp luật.

Chúng ta có thể nói về những ranh giới của điều chỉnh pháp luật với tư cách là cái tối thiểu ở hai lĩnh vực: (1) ở hệ thống các quan hệ xã hội mà về mặt khách quan đòi hỏi phải có sự điều chỉnh pháp luật; (2) và ở hoạt động sáng tạo của Nhà nước trong việc hình thành các quan hệ pháp luật mới chưa có trong xã hội.

Xã hội đương đại có lĩnh vực rất rộng lớn là lĩnh vực mà ở đó cá nhân có ý chí tự do hoạt động theo nhận thức riêng của mình trên cơ sở cân nhắc những định hướng giá trị, các quy phạm đạo đức, xã hội, các quy phạm không mang tính chất pháp lý và các lợi ích cá nhân. Có thể khái quát lại cá nhân hoạt động trong các loại trường hợp sau: (1) trong khi thực hiện các tự do chính trị, tự do của đời sống riêng tư, tự do ngôn luận và tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do sáng tạo văn học nghệ thuật, khoa học và các tự do sáng tạo khác; (2) trong các lĩnh vực quan hệ lẫn nhau mang tính cá nhân trong gia đình; (3) với tư cách thành viên của các hiệp hội xã hội hoặc của các tổ chức tôn giáo.

Nhà nước có trách nhiệm điều chỉnh những vấn đề liên quan đến việc bảo đảm trên thực tế tự do của cá nhân, khắc phục mọi cản trở việc thực hiện tự do của cá nhân có thể có từ phía những người khác và từ phía các cơ quan nhà nước. Đồng thời, Nhà nước cũng quy định các giới hạn của tự do cá nhân mà việc vượt ra khỏi các giới hạn đó sẽ tạo ra sự đe dọa gây thiệt hại về mặt thực tế cho những người khác, cho xã hội và Nhà nước hoặc là tự do cá nhân là công việc cá nhân bởi vì nó không xâm phạm đến các quyền và tự do của những người khác. Căn cứ vào mức độ quan trọng của sự xâm hại đến các quyền của những người khác và các tình tiết khác, Nhà nước có thể coi sự lạm dụng tự do là hành vi vi phạm hành chính hoặc là tội phạm.

Pháp luật không chỉ phản ánh các quan hệ xã hội mà ở một chừng mực đáng kể còn sáng tạo ra các quan hệ xã hội. Chẳng hạn, cơ cấu, thẩm quyền và trật tự hoạt động của các cơ quan nhà nước và của những người có chức vụ, quyền hạn, hoạt động xét xử, hoạt động của các cơ quan Viện kiểm sát, hoạt động điều tra, hoạt động thu thuế không thể tồn tại bên ngoài pháp luật. Nhờ vào pháp luật mà Nhà nước có được khả năng bảo vệ và phát triển các quan hệ đang ở giai đoạn hình thành trong xã hội, những quan hệ mà Nhà nước có thể dựa vào đó để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của xã hội nói chung hoặc của một lĩnh vực cụ thể của xã hội nói riêng.

Vai trò sáng tạo, xây dựng của Nhà nước được thể hiện rất rõ ở nước ta trong những năm đổi mới vừa qua và hiện nay. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật đặt cơ sở cho sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự hình thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hiến pháp năm 1992 của nước ta và các văn bản quy phạm pháp luật khác đã khẳng định hệ thống quan hệ kinh tế và xã hội mới so với hệ thống quan hệ kinh tế và xã hội tồn tại ở xã hội ta trong thời kỳ quan liêu bao cấp. Chẳng hạn, một phần các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa. Mối quan hệ giữa các giai tầng xã hội, giữa mọi người đã có những thay đổi nhất định theo hướng cơ chế thị trường. Công dân có được một số quyền và tự do bổ sung, nhưng đồng thời cũng mất đi khả năng được làm thỏa mãn một phần đáng kể các nhu cầu của mình từ các quỹ tiêu dùng xã hội, mà cơ bản là quỹ của Nhà nước.

Đương nhiên, vai trò sáng tạo của pháp luật trong việc xây dựng và phát triển những trật tự mới không phải không có giới hạn. Nhà nước cũng bị hạn chế nhất định trong việc đạt được các mong muốn cải cách, đổi mới của mình. Mọi biện pháp của Nhà nước có thể đem lại những kết quả có lợi về mặt xã hội với điều kiện là các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành phải phù hợp với các quy luật kinh tế, chính trị, pháp luật và các quy luật khác, cũng như cân nhắc được các điều kiện lịch sử cụ thể trong đó sẽ hoạt động.

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh một cách thuyết phục rằng trình độ phát triển của pháp luật không thể cao hơn trình độ phát triển kinh tế và văn hóa của xã hội. Luận điểm đó có nghĩa rằng pháp luật có thể ghi nhận các phương thức phân phối và sử dụng khác nhau các của cải vật chất và tinh thần đã được sản xuất. Tuy vậy, tất cả các phương thức như vậy có thể được sử dụng trên thực tế ở chừng mực khi các phương thức đó cân nhắc được về mặt thực tế tình hình kinh tế của đất nước. Không nên dựa vào pháp luật để phân phối các tài sản mà xã hội chưa sản xuất ra.

Ở nước ta trước đây, Nhà nước đã từng ban hành những quy định pháp luật với mục đích nâng cao sự phồn vinh cho dân cư và bảo đảm nhu cầu nhà ở, nhu cầu học tập và chữa bệnh cho dân cư. Nhưng những quy định pháp luật đó về cơ bản vẫn là những mong muốn tốt đẹp, bởi vì hệ thống kinh tế tồn tại trước đây không có khả năng tạo ra tổng thể những của cải vật chất mà pháp luật đòi hỏi phải có để thỏa mãn các nhu cầu nói trên của dân cư. Nhà nước không thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu về nhà ở, về chữa bệnh không mất tiền, về học tập không mất tiền của dân cư.

Việc sản xuất ra của cải vật chất phần lớn tùy thuộc vào việc cân nhắc trình độ văn hóa của dân cư, sự chuẩn bị của dân cư trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đã được Nhà nước ban hành, bởi vì như nói ở trên, các văn bản quy phạm pháp luật không được phần lớn dân cư đồng tình ủng hộ thì các văn bản đó không có những cơ hội hoạt động có hiệu quả ngay cả khi các biện pháp do Nhà nước ban hành là cần thiết và hợp lý. Có thể lấy các quy định pháp luật về cấm uống rượu ở một số nước để làm ví dụ.

Như vậy, hoạt động xây dựng pháp luật bị hạn chế bởi đối tượng của điều chỉnh pháp luật – tổng thể các quan hệ mà về khách quan đòi hỏi phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật, và với tư cách là một hoạt động có ý nghĩa về mặt pháp lý không thể vượt ra khỏi giới hạn đó. Nói cách khác hoạt động xây dựng pháp luật sẽ thâm nhập một cách có căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh xã hội do chính xã hội hoặc các tổ chức xã hội và tôn giáo thực hiện hoặc là hoạt động không có kết quả khi nó tạo ra các quy phạm pháp luật mang tính tuyên ngôn không phù hợp với hiện thực xã hội.

Ở giai đoạn cuối cùng của điều chỉnh pháp luật – giai đoạn thể hiện các quá trình thực hiện các quy phạm pháp luật trong các quan hệ pháp luật cụ thể hoạt động pháp luật cũng có những giới hạn nhất định và rất rõ ràng.

Mỗi quan hệ pháp luật là kết quả của hoạt động tích cực của các cơ quan nhà nước hoặc của các chủ thể khác của pháp luật. Trong quá trình tiến hành hoạt động đó các quy phạm pháp luật chung, khái quát được cụ thể hoá, được áp dụng đối với các điều kiện hiện có, trên thực tế, đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia quan hệ pháp luật, bởi vì khi tham gia quan hệ pháp luật cụ thể những người tham gia quan hệ đó cần phải xác định các quyền và nghĩa vụ của mình, xác định các điều kiện thực hiện những cam kết của mình. Tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật được hiểu là nội dung pháp lý của quan hệ pháp luật.

Đồng thời, quan hệ pháp luật gắn liền với hoạt động thực tế của những người tham gia quan hệ khi họ thực hiện những cam kết của mình. Ví dụ, một tổ chức sản xuất ra sản phẩm mà mình có nghĩa vụ cung cấp cho nhà máy khác; tổ chức vận tải thực hiện việc chuyên chở hàng hoá; người cán bộ thực hiện công việc theo hợp đồng. Hoạt động thực hiện các nghĩa vụ ở quan hệ pháp luật cụ thể được hiểu là nội dung vật chất của quan hệ pháp luật. Và ở đây có một vấn đề mang tính quy luật được đặt ra là: có thể coi hoạt động thực tế của những người tham gia quan hệ pháp luật là một loại hoạt động pháp luật hay không?

Cho dù mối liên hệ giữa nội dung pháp lý và nội dung vật chất của quan hệ pháp luật là mối liên hệ chính tuyến và trực tiếp, nhưng không phải thế mà dựa vào đó để cho rằng có thể coi hoạt động thực tế của những người tham gia các quan hệ pháp luật khi họ thực hiện các cam kết của mình là một loại hoạt động pháp luật.

Tất nhiên, có thể coi hoạt động sản xuất của xã hội là kết quả của quan hệ pháp luật, tức là đi từ pháp luật đến đời sống thực tế. Nhưng cách tiếp cận như vậy hoàn toàn giống với quan điểm bị khoa học và thực tiễn bác bỏ, theo đó “hình thức pháp lý là tất cả, còn nội dung kinh tế chỉ là một cái gì đó”. Quá trình hiện thực được diễn ra một cách trực tiếp bằng con đường ngược lại. Việc sản xuất ra của cải vật chất xác định lối sống của xã hội, trong đó có cả pháp luật tồn tại trong xã hội đó.

Những hành động thực tế nằm ngoài phạm vi của pháp luật là hoạt động thực tế có đối tượng của con người, của xã hội, hoạt động này phức tạp và đa dạng hơn nhiều so với các quyền chủ thể và các nghĩa vụ pháp lý do quan hệ pháp luật quy định.

Các quan hệ pháp luật có thể khắc phục mâu thuẫn giữa các lợi ích của những chủ thể có mối liên hệ với nhau, nhưng không làm giảm được tất cả những mâu thuẫn hiện thực đặc trưng cho quá trình sản xuất ra các của cải vật chất và tinh thần và tạo ra những cản trở nghiêm trọng, và đôi khi đó là những cản trở không khắc phục được đối với hoạt động sản xuất. Những cản trở đó là: tình trạng khủng hoảng kinh tế, tình trạng thiếu năng lượng, tình trạng thiếu hụt các chuyên gia, tình trạng không có các công cụ sản xuất bảo đảm chất lượng cần thiết của hàng hóa, v.v.. Đối với quan hệ pháp luật cụ thể các tình tiết như vậy không có bất kỳ ý nghĩa nào. Người không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, theo các cam kết khác bị coi là người vi phạm pháp luật. Khi đề cập đến lĩnh vực của những hành động hiện thực thực tế thì dễ nhìn thấy rằng việc tổ chức sản xuất hiện thực phải có hiệu quả là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng của Nhà nước và xã hội, nhiệm vụ được giải quyết không chỉ với sự trợ giúp của pháp luật.

Với tư cách là một lĩnh vực đặc biệt của đời sống xã hội, quá trình sản xuất trực tiếp các của cải vật chất và tinh thần phát triển theo các quy luật và các quy phạm của mình. Hoạt động sản xuất có đối tượng của con người là quá trình tác động lẫn nhau của con người với môi trường, mà ở đó kết quả của hoạt động đó được bảo đảm bởi sự hiểu biết các quy luật khách quan và bởi việc tuân thủ trước hết các quy phạm công nghệ, kỹ thuật, các quy tắc an toàn kỹ thuật, các tiêu chuẩn và các quy phạm kỹ thuật tương tự.

Quá trình sáng tạo ra các của cải tinh thần cũng diễn ra tương tự. Phần lớn sự sáng tạo ra các của cải đó là công việc của cá nhân, công việc được dựa trên việc thực hiện quyền chủ thể của chủ thể sáng tạo và sự sáng tạo đó không cần đến bất kỳ quan hệ pháp luật chuyên môn nào. Quá trình sáng tạo ra các của cải tinh thần cũng nằm ngoài pháp luật, được quyết định bởi các quy tắc tạo thành nội dung các biện pháp, phương pháp, phương thức của hoạt động sáng tạo.

Như vậy, hoạt động thực tế sản xuất các của cải vật chất và tinh thần, ngay cả nếu như nó được thực hiện nhằm mục đích thực hiện các cam kết trong quan hệ pháp luật cụ thể, cũng không thể được coi là hoạt động pháp luật. Hoạt động như vậy được coi là một bộ phận trong cơ chế xã hội của điều chỉnh pháp luật và không phải hoàn toàn nằm trong cơ chế đó mà chỉ ở chừng mực các của cải vật chất ảnh hưởng đến các quá trình điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội. Không phải tất cả những gì do lao động của con người làm ra đều buộc phải đưa vào lĩnh vực các quan hệ pháp luật với tư cách là khách thể của chúng. Sản phẩm được sản xuất ra có thể không được đưa vào lưu thông và không có khả năng sinh ra những hậu quả pháp lý nào cả. Tương tự, cả hoạt động sản xuất ra sản phẩm như vậy cũng không có ảnh hưởng đến các quá trình pháp luật trong xã hội.

Hoạt động pháp luật có đối tượng của mình là các quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật khác với các loại hoạt động xã hội khác gần giống với nó. Trong xây dựng pháp luật lĩnh vực của hoạt động pháp luật bị hạn chế bởi đối tượng điều chỉnh pháp luật. Ở giai đoạn thực hiện các quy phạm pháp luật hoạt động pháp luật là hoạt động thực tiễn có đối tượng của công dân và của những người khác và hoạt động đó được thực hiện trong quá trình làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật. Chính những hoạt động thực tiễn của các chủ thể khi thực hiện các cam kết của mình trong quan hệ pháp luật là hoạt động kinh tế, chính trị và hoạt động xã hội khác.

3. Các loại hoạt động pháp luật

Hoạt động pháp luật là rất đa dạng, phong phú. Hoạt động đó do các chủ thể khác nhau thực hiện nhằm những mục đích và bằng những biện pháp khác nhau. Đặc biệt sự đa dạng, phong phú của hoạt động pháp luật được thể hiện ở hoạt động xây dựng các quy phạm pháp luật mới hoặc hoàn thiện các quy phạm pháp luật hiện hành, hoạt động cụ thể hóa các quy phạm pháp luật đối với tình huống cụ thể, cũng như đối với việc thực hiện các quy phạm pháp luật dưới hình thức sử dụng, thi hành hoặc tuân thủ pháp luật.

Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của xã hội học pháp luật là giải quyết vấn đề phân loại hoạt động pháp luật. Việc giải quyết vấn đề đó sẽ tạo điều kiện cho việc làm sáng tỏ một cách đầy đủ và sâu sắc các quy luật và quá trình của hoạt động pháp luật và của hoạt động xã hội của pháp luật.

Một trong những phương án phân loại hoạt động pháp luật là việc phân loại hoạt động pháp luật dựa vào các chủ thể chủ yếu thực hiện hoạt động đó: Nhà nước, các công dân, các tổ chức xã hội, các thành viên (cấu thành) khác của xã hội dân sự. Việc phân loại dựa vào căn cứ đó cho phép chúng ta làm sáng tỏ được tính đặc thù về chất của hoạt động pháp luật, tính đặc thù được thể hiện trong hệ thống pháp luật hiện hành, trong việc phân loại pháp luật thành pháp luật công và pháp luật tư.

Nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý các công việc của xã hội có trách nhiệm thừa nhận, hình thành và bảo vệ các lợi ích của mình, thể hiện với tư cách là chủ thể có chủ quyền và toàn quyền của hoạt động pháp luật trong lĩnh vực luật công. Các cơ quan Nhà nước thể hiện với tư cách là những người có các thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước (các thẩm quyền công), các thẩm quyền được thực hiện vì những lợi ích và vì xã hội, Nhà nước, vì những tầng lớp, các nhóm xã hội này hay vì những tầng lớp, các nhóm xã hội khác.

Người công dân thể hiện với tư cách là chủ thể bình đẳng của các quan hệ pháp luật công trong quá trình hình thành các cơ quan đại diện quyền lực, trong quá trình trưng cầu dân ý, trong việc thực hiện các hình thức khác của dân chủ trực tiếp. Trong các quan hệ pháp luật còn lại mà đó là phần lớn, người công dân giữ vị trí là người phục tùng, phụ thuộc.

Các cơ quan nhà nước có thể quy định các phương án hành vi nhất định đối với công dân và đối với các chủ thể khác, có thể đòi hỏi công dân thi hành và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật hiện hành, có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với những người vi phạm pháp luật, có thể đưa ra quyết định về việc thừa nhận các quyền chủ thể nhất định của công dân. Còn công dân có quyền khiếu nại đối với các quyết định của các cơ quan nhà nước, nhưng nếu như các quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật thì công dân phải phục tùng và thực hiện các quyết định đó.

Ngược lại, trong lĩnh vực pháp luật tư, những lợi ích cá nhân hợp pháp của công dân, của các liên minh của họ sẽ thống trị một cách không có giới hạn. Chính ở đây vai trò quyết định thuộc về các công dân chứ không phải thuộc về Nhà nước. Nhà nước và các cơ quan nhà nước cũng có thể là các chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự, lao động, kinh tế. Tuy nhiên, trong trường hợp đó các cơ quan nhà nước cũng như Nhà nước nói chung không có bất kỳ ưu đãi nào so với các chủ thể khác, thể hiện với tư cách là pháp nhân cũng có những quyền và nghĩa vụ như những người tham gia khác của quan hệ pháp luật. Tất cả quan hệ pháp luật trong lĩnh vực luật tư được xây dựng theo những nguyên tắc bình đẳng của các chủ thể pháp luật, được phát triển, được thay đổi và chấm dứt theo ý chí tự do của họ. Ở đây, pháp luật cấm mọi hình thức cưỡng chế tham gia các quan hệ pháp luật, cấm việc hạn chế năng lực pháp luật và năng lực hành vi của công dân. Những hành vi cưỡng chế và hạn chế nói trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hành chính và trách nhiệm pháp lý khác.

Như vậy, việc phân loại hoạt động pháp luật dựa vào các chủ thể thực hiện hoạt động đó thể hiện ở việc phân hoạt động pháp luật thành hai lĩnh vực lớn: (1) hoạt động pháp luật của Nhà nước; (2) hoạt động pháp luật của công dân, của các thành viên (cấu thành) khác của xã hội dân sự. Từng lĩnh vực trong hai lĩnh vực nói trên ở những giới hạn nhất định đều có phần độc quyền, tự chủ, độc lập của mình và được đặc trưng bởi sự đặc thù về chất của chế độ pháp luật trong hoạt động, của các phương thức thực hiện hoạt động đó và bởi các kết quả thu nhận được. Đồng thời, đến lượt mình các lĩnh vực nói trên của hoạt động pháp luật không phải là các lĩnh vực cùng loại mà trong từng lĩnh vực cũng có những loại hoạt động đặc trưng, đặc thù về chất khác nhau.

Tính đặc trưng về chất của các loại hoạt động pháp luật cụ thể của Nhà nước được thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động được tiến hành ở các giai đoạn hoạt động cụ thể của cơ chế xã hội của điều chỉnh pháp luật: hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động thông tin pháp luật, hoạt động áp dụng pháp luật và hoạt động giám sát pháp lý – xã hội. Hoạt động pháp luật của Nhà nước ở từng giai đoạn nói trên đều có những mục đích và nhiệm vụ, cũng như các kết quả cuối cùng đặc trưng của mình và có thể được tách thành từng loại hoạt động pháp luật độc lập.

Như vậy, dựa vào cơ sở phân loại nói trên hoạt động pháp luật của Nhà nước có thể được phân thành bốn loại: (1) hoạt động xây dựng pháp luật; (2) hoạt động thông tin pháp luật; (3) hoạt động áp dụng, thi hành pháp luật; (4) hoạt động trong lĩnh vực giám sát pháp lý – xã hội.

Công dân và những người khác cũng tham gia tích cực vào hoạt động của cơ chế xã hội của điều chỉnh pháp luật ở tất cả các giai đoạn: trong xây dựng pháp luật, trong thông tin pháp luật, trong áp dụng, thi hành pháp luật, trong giám sát pháp lý – xã hội. Tuy vậy, việc phân loại hoạt động của họ theo các giai đoạn nói trên sẽ là giả tạo. Ở đây hoạt động pháp luật của công dân và của những người khác phải phục tùng các quyết định và hoạt động mang tính ý chí của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước và có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước và xuất phát từ các cơ quan nhà nước. Do đó, hoạt động của công dân và của những người khác khi bị tước mất các mục đích của mình thì hoạt động đó trở thành khách thể chứ không phải là chủ thể của hoạt động pháp luật của Nhà nước và không tạo thành một loại hoạt động độc lập tương đối, cụ thể.

Chỉ ở giai đoạn thực hiện các quy phạm của pháp luật tư công dân và những người khác mới thể hiện là chủ thể độc lập và hiện thực. Khi hoạt động được tiến hành dựa vào và phù hợp với các luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, các chủ thể của pháp luật tư xác định một cách độc lập các quyền và nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các của cải vật chất và tinh thần và thực hiện các cam kết của mình. Ở đây, ngược lại, Nhà nước bị tước mất vai trò chủ đạo và chỉ thực hiện các chức năng giám sát, kiểm tra pháp lý – xã hội đối với tính hợp pháp trong hoạt động của công dân và của những người tham gia khác của quan hệ pháp luật tư.

Hoạt động pháp luật của công dân khi thực hiện các quy phạm pháp luật công tạo thành một loại hoạt động pháp luật độc lập và được nghiên cứu cùng với cùng với việc nghiên cứu các hoạt động pháp luật của Nhà nước. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội học pháp luật, bởi vì xã hội học pháp luật không chỉ có nhiệm vụ nêu ra các loại hoạt động pháp luật mà còn phải làm sáng tỏ một cách đầy đủ và toàn diện các đặc điểm của các loại hoạt động đó. Do đó, việc tiếp tục phân tích cơ chế hoạt động xã hội của pháp luật đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu các đặc trưng của từng loại hoạt động pháp luật của Nhà nước và của xã hội dân sự một cách cụ thể.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 5/2005

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: