Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

KINH NGHIỆM HOÀ GIẢI MỘT SỐ VỤ VIỆC DÂN SỰ CỤ THỂ

1. Các tình huống liên quan đến tài sản

1.Mượn tài sản

Bà N và bà T ở cùng xóm. Một buổi sáng bà T sang nhà bà N mượn chiếc xuồng đi câu cá vì đang mùa nước nổi, cá rất nhiều. Bà N đồng ý và chỉ xuống bến sông trước nhà lấy xuồng. Khi lấy xuồng bà T không biết một bên be xuồng sắp bị bung ra (do trước đây con bà N lấy đi và bị đụng, nhưng về nhà không dám nói vì sợ bị mắng nên đã lấy đinh đóng tạm lại).

Sau một buổi câu được rất nhiều cá, bà T bơi xuồng về, gần đến nhà thì gặp bà Y cũng là người cùng xóm đang đi trên bờ. Bà Y hỏi mượn lại chiếc xuồng để đi thăm ruộng và hứa đến chiều sẽ đem lại nhà bà N trả. Bà T đồng ý và giao xuồng lại cho bà Y. Sáng hôm sau, khi xuống xuồng chuẩn bị đi đám bà N phát hiện một bên be xuồng bị bung ra và nước đang tràn vào. Bà N cho rằng bà T đã làm hỏng và yêu cầu bà T phải bồi thường. Bà T cho rằng bà không làm hư và có thể bà Y đã đụng vào đâu đó khi mượn. Bà Y nói, bà không làm hư và cũng không biết gì về việc chiếc xuồng bị hư. Mâu thuẫn giữa hai người ngày càng lớn.

Sau khi nghe sự việc và xác định đây là vụ hiểu lầm mà nguyên nhân chính là do sự không thành thật của con trai bà N, hoà giải viên đã nói với các bên về quan hệ hàng xóm láng giềng, về phong tục, tập quán của người Việt Nam và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của cộng đồng. Sau đó căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự tiến hành phân tích, giải thích rõ cái sai của từng người.

Về phía bà N, cán bộ hoà giải đã tìm cách chứng minh cho bà biết be xuồng bị bung ra là do lỗi của con trai bà chứ không phải do bà T hay bà Y làm hư và mời con bà N đến trình bày rõ sự thật về chiếc xuồng bị hư để làm sáng tỏ mọi việc.

Về phía bà T, việc bà N cho mượn xuồng cũng vì tình nghĩa láng giềng, khi cho mượn bà N không thu một khoản lợi ích vật chất nào. Tuy nhiên, việc bà T tự ý cho bà Y mượn xuồng của bà N mà không hỏi bà N và không trả xuồng đúng thời hạn là sai. Điều 517 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn; trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả lại tài sản mượn, thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi đạt mục đích mượn.

Sau khi nghe sự giải thích có tình, có lý của hoà giải viên các bà hiểu ra sự việc và cùng nhau vui vẻ ngồi bàn chuyện làm ăn.

2. Thuê tài sản

Ông A có hai công đất ruộng nhưng do hoàn cảnh neo đơn, thiếu lao động và vốn, không thể tiếp tục canh tác nên ông cho ông B (người cùng xóm) thuê để canh tác trong thời hạn 3 năm và ông B hứa sẽ trả tiền thuê đất hàng năm cho ông A.

Canh tác được một năm, đến hạn trả tiền thuê nhưng do hoàn cảnh khó khăn ông B không trả và ông A cho gia hạn thêm 6 tháng nữa nhưng ông B vẫn không trả được đồng nào. Cuối cùng ông A yêu cầu ông B hoàn trả lại đất và đòi tiền cho thuê quyền sử dụng đất. Ông B không chịu vì cho rằng thời hạn cho thuê đất chưa hết. Mâu thuẫn xảy ra, hai bên kéo nhau ra tổ hoà giải yêu cầu giải quyết.

Tổ hoà giải đã tìm hiểu sự việc và biết rằng đây là trường hợp cho thuê quyền sử dụng đất nhưng vì cả hai đều không biết các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ người thuê và người cho thuê nên đã không thực hiện đúng và vì thế nảy sinh mâu thuẫn.

Trên cơ sở đó, hoà giải viên đã gặp gỡ, giải thích cho ông A và ông B hiểu các quy định của pháp luật về cho thuê quyền sử dụng đất và cách thức thực hiện.

Về phía ông A, hoà giải viên đã chỉ cho ông A thấy ông có quyền cho thuê quyền sử dụng đất. Việc cho thuê quyền sử dụng đất phải làm hợp đồng bằng văn bản và phải đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

Về phía ông B, cán bộ hoà giải phải nói rõ việc ông A đòi lại đất và tiền thuê đất là đúng. Theo quy định tại Điều 722 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì khi bên thuê chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thoả thuận thì bên cho thuê có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ thì bên cho thuê có quyền đơn phương đình chỉ việc thực hiện hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bên thuê hoàn trả đất và có quyền yêu cầu bên thuê trả đủ tiền trong thời gian đã thuê.

Sau khi nghiên cứu kỹ các quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, lại được nghe lời phân tích thấu tình đạt lý của hoà giải viên, ông B hứa sẽ cố gắng trả đủ tiền thuê đất cho ông A trong thời gian vừa qua. Hai ông đã làm lại hợp đồng thuê quyền sử dụng đất theo thủ tục pháp luật quy định và ông A lại tiếp tục cho ông B thuê đất.

3. Khai thác lợi ích từ tài sản cầm cố

Ông A cầm chiếc xuồng cho ông B để vay một số tiền là 500.000đ mua phân bón ruộng. Vì chiếc xuồng giá trị nhỏ, hai bên không lập hợp đồng bằng văn bản mà chỉ hợp đồng trên miệng. Thời hạn cầm xuồng là 2 tháng với lãi suất 1%/tháng.

Gia đình ông B sống bằng nghề đưa khách qua sông. Nhân dịp Tết nguyên đán ông B đem chiếc xuồng làm phương tiện chở khách. Ông A phát hiện và yêu cầu ông B đình chỉ việc sử dụng chiếc xuồng. Ông B không đồng ý vẫn đem xuồng đi chở khách. Hai bên lời qua tiếng lại, anh T là hòa giải viên ở ấp bèn đến phân giải.

Đầu tiên anh T đề nghị hai bên trình bày sự việc. Khi đã xác định được nội dung chủ yếu của vụ việc là cầm cố tài sản và hai bên không có thỏa thuận về khai thác lợi ích từ tài sản cầm cố. Anh T đã giải thích cho đôi bên hiểu về quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng cầm cố. Theo quy định tại khoản 3 Điều 334 Bộ luật dân sự năm 1995 “không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu không được bên cầm cố đồng ý”. Trong trường hợp hai bên không có thỏa thuận rõ ngay từ đầu nên việc ông B tự ý đem sử dụng chiếc xuồng trong thời gian cầm cố là sai do không hiểu rõ các quy định của pháp luật. Ông B nên nhận khuyết điểm về mình và đình chỉ việc sử dụng xuồng nếu ông A không đồng ý.

Ngoài ra, anh T còn phân tích để ông A thấy quan hệ hàng xóm láng giềng giúp nhau lúc tối lửa tắt đèn, khi ông A gặp khó khăn không có tiền để mua phân bón, ông B đã cho vay. Vì thế, mặc dù từ đầu không giao kết cho khai thác sử dụng xuồng nhưng trong mấy ngày Tết ông A nên để ông B dùng xuồng phục vụ nhu cầu đi lại của bà con trong xóm vừa là giúp mọi người và vừa có thêm thu nhập. Đồng thời anh T cũng đề nghị nếu được ông A cho phép sử dụng xuồng, ông B cũng nên chia cho ông A một phần tiền thu được trong việc chở khách hoặc giảm bớt lãi suất tiền vay.

Qua sự phân tích của anh T ông A và ông B đã hiểu ra sự việc và tự hòa giải với nhau.

4. Tranh chấp tài sản thừa kế

Ông A và bà B có hai con chung là L và H. Chị L đã lập gia đình và ở nhà chồng. Anh H hiện còn độc thân, sống chung với bố mẹ. Năm 2001, ông A và bà B qua đời để lại căn nhà trị giá 200.000.000đ. Do bị tai nạn bất ngờ nên ông A và bà B không để lại di chúc. Đầu năm 2002, chị L yêu cầu anh H chia tài sản. Anh H cho rằng anh là người có công nuôi dưỡng cha mẹ nên căn nhà này đương nhiên là của anh, chị L đã có gia đình và ở riêng từ lâu nên không có quyền yêu cầu chia tài sản. Chị L làm đơn gửi Tòa án.

Khi tìm hiểu các bên về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp, hòa giải viên xác định nội dung chủ yếu của sự việc là chia tài sản thừa kế khi không có di chúc. Sau khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về thừa kế, phân chia di sản, hòa giải viên đã giải thích cho anh H biết việc chị L có gia đình và ở riêng không ảnh hưởng đến quyền hưởng di sản thừa kế và những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Trong trường hợp này, anh H và chị L cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Như vậy theo quy định của pháp luật về thừa kế mỗi người sẽ được hưởng 1/2 khối di sản cha mẹ họ để lại (là 100.000.000đồng/người).

Tuy nhiên, hai người là chị em ruột, chị L đã di lấy chồng và ra ở riêng, anh H đang là người trực tiếp quản lý di sản do đó việc phân chia cụ thể hai bên có thể tự thỏa thuận với nhau trên cơ sở trích một phần trong khối di sản chung để làm di sản dùng cho việc thờ cúng cha mẹ do anh H quản lý; anh H được ở lại căn nhà và trả cho chị L một số tiền do hai bên tự thỏa thuận. Cả hai cần quý trọng tình cảm gia đình ruột thịt không nên vì tiền làm sứt mẻ tình cảm chị em.

Sau khi được giải thích về các quy định của pháp luật lại được nghe sự phân tích thiệt hơn của hòa giải viên về quan hệ tình cảm gia đình, chị L và anh H đã hiểu ra sự việc. Chị L rút đơn về hai người tự hòa giải và thỏa thuận phân chia tài sản với nhau.

5. Những chú vịt lạc đàn

Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp và xây dựng những cánh đồng 50 triệu đồng/ năm, bà con xã Q tích cực đầu tư vốn, công sức, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, tập trung phát triển chăn nuôi, trồng cây có giá trị kinh tế cao. Kinh tế vườn, ao, chuồng được vận dụng và khai thác có hiệu quả. Gia đình ông K và ông H là những gia đình chăn nuôi vịt nhiều năm. Thu nhập từ chăn nuôi vịt đã đem lại cho họ những khoản thu có giá trị giúp kinh tế gia đình ngày càng khá giả. Tuy vậy, cũng chính từ những đàn vịt ấy đã gây cho họ những rắc rối có lúc tưởng không thể giải quyết được.

Tuy hai gia đình ở cách nhau nhưng vẫn cùng xóm, vì vậy hai đàn vịt của ông K và ông H đã tắm chung một ao, kiếm ăn chung trong một mảnh ruộng. Chúng hòa lẫn vào nhau rồi lại ra thành từng đàn riêng biệt để theo chủ về chuồng.

Hôm đó, cũng như thường ngày, hai đứa trẻ của hai gia đình cùng lùa đàn vịt đi kiếm ăn ngoài đồng. Chiều tà, chúng lùa vịt về, ông K thấy đàn vịt nhà mình có vẻ ít hơn mọi hôm nên đã ngăn đàn vịt ra để đếm và thấy thiếu 20 con. Ông sang nhà ông H đề nghị được xin lại 20 con vịt lạc sang đàn vịt nhà ông H. Lúc đầu ông H cũng có cảm giác hôm nay đàn vịt nhà ông có vẻ đông hơn, nhưng vì vịt hai nhà cùng lứa, cùng màu lông nên không thể phát hiện được, vì thế ông H không đồng ý. Do ông K thiếu bình tĩnh và không khéo léo có những lời qua, tiếng lại không đẹp nên ông H càng bực mình, dẫn đến hai gia đình cãi nhau và sinh ra mâu thuẫn.

Biết chuyện các thành viên Tổ hòa giải đã đến nhà hai ông để giải quyết. Với kinh nghiệm của những người đã nuôi vịt lâu năm và hiểu rõ đặc tính riêng biệt của các đàn vịt nuôi, các tổ viên Tổ hòa giải đã khẩn trương đưa ra phương án giải quyết bất ngờ. Đó là yêu cầu hai gia đình thả đàn vịt chung cùng một ao, sau đó bằng các tín hiệu đặc trưng riêng của hai nhà gọi rẽ đàn vịt ra. Sau khi rẽ xong cho kiểm tra lại đàn vịt của từng nhà. Ông K và ông H đều chấp nhận phương án này.

Việc nhập hai đàn vịt của gia đình ông K và ông H được tiến hành tại một ao của gia đình khác trong xóm. Sau một hồi bơi lội thỏa thích, khi nghe những tiếng động quen thuộc đặc trưng của hai nhà, đàn vịt trộn lẫn đã tách ra hai cánh rẽ theo hai hướng khác nhau, một về phía nhà ông K và một về hướng nhà ông H. Quả nhiên, khi đã rẽ hết thành hai đàn vịt riêng rẽ thì ở đầu đàn vịt về hướng nhà ông H tự nhiên có sự lộn xộn, một số con quay ngang đầu tách khỏi đàn bơi về phía đàn vịt nhà ông K, cả thảy có 20 con không hơn, không kém. Chúng kéo thành vệt dài nối đuôi nhau kết với đoạn đầu thành một hình tam giác rất đẹp trên mặt ao trước sự chứng kiến của các tổ viên Tổ hòa giải cùng hai gia đình và mọi người trong thôn. Ông K và ông H đã vui vẻ bắt tay nhau trên bờ ao. Vụ tranh chấp đàn vịt lạc đàn được giải quyết ổn thỏa. Tình làng, nghĩa xóm được củng cố, trật tự thôn xóm được ổn định. Mọi người đều phấn khởi, vui vẻ tăng gia sản xuất phát triển kinh tế gia đình.

6. Dùng xe trừ nợ

Anh Lê Văn C có hợp đồng cho anh Trần Văn X vay lãi số tiền là 2 triệu đồng để làm kinh tế, mức lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay là 3 tháng. Trong quá trình làm ăn, anh X gặp rủi ro nên không có khả năng thanh toán đúng thời hạn. Anh X đề nghị anh C gia hạn hợp đồng. Anh C nhất trí nhưng yêu cầu nâng lãi suất lên 8%/tháng. Anh X vì túng thiếu nên đã nhất trí.

Hai tháng sau khi gia hạn, anh X mượn xe máy của anh trai có việc đi ngang qua nhà anh C. Anh C gọi anh X vào và yêu cầu trả tiền ngay. Do anh X không có tiền trả, anh C đã giữ lại chiếc xe máy trị giá 5 triệu đồng và dọa nếu anh X không thanh toán nợ ngay thì sẽ bán xe máy để trừ vào nợ. Hai bên mâu thuẫn gay gắt.

Được tin, cán bộ hòa xã giải phối hợp với tổ hòa giải thôn, đại diện Mặt trận Tổ quốc và những người có uy tín có mặt để can thiệp kịp thời. Sau khi tìm hiểu sự việc và nghe hai bên trình bày, cán bộ hòa giải đã lần lượt phân tích rõ từng điểm cho anh C và anh X nghe.

Về phía anh C, cán bộ hòa giải đã giải thích cho anh C thấy sau khi đồng ý gia hạn hợp đồng vay tiền của anh X, thì hợp đồng vay tiền mới không có kỳ hạn. Nếu muốn đòi lại tiền anh C phải thông báo trước cho anh X một thời gian hợp lý. vì vậy việc anh C yêu cầu anh X phải trả tiền ngay và giữ xe máy là sai với quy định của pháp luật. Hơn nữa, việc anh C tăng lãi suất lên 8%/tháng là trái với quy định của Bộ luật dân sự mặc dù hai bên đã thỏa thuận. Điều 473 của Bộ luật dân sự quy định: lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng.

Mặt khác, truyền thống của người Việt Nam xưa nay là “lá lành đùm lá rách” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” đó là đối với người trong nước. Còn anh X là người cùng làng, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có vốn làm ăn nay lại gặp rủi ro chưa có điều kiện thanh toán. Anh C có điều kiện hơn nên giúp đỡ anh X để cùng nhau làm kinh tế xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no.

Được sự phân tích khéo léo của cán bộ hòa giải anh C đã thấy được sai lầm của mình. Anh đã vui vẻ trả lại xe cho anh X và tạo điều kiện cho anh X tiếp tục vay với lãi suất thấp hơn để tiếp tục làm ăn.

7. Hợp đồng vay tiền

Gia đình bà A và bà M ở cùng xóm. Sáng ra, khi ra đồng thấy ruộng lúa nhà mình đang bị sâu rầy tấn công dữ dội, bà A vội trở về và sang nhà bà M vay 1.000.000 đồng để mua thuốc trừ sâu và phân bón lúa với thoả thuận là hàng tháng bà sẽ trả lãi cho bà M theo lãi suất của ngân hàng.

Mấy tháng liền bà A vẫn đóng lãi đầy đủ, đến khi thu hoạch, do mùa màng thất bát và lúc này lúa lại mất giá nên tiền thu được không đủ chi phí để trang trải nợ nần. Thấy bà A đã bán lúa xong nhưng không đem tiền sang trả, bà M vội sang đòi. Bà A hứa đến mùa lúa sau sẽ trả hết vì hiện nay không có tiền để trả, hơn nữa bà cho rằng bà chỉ hứa trả lãi chứ không nói thời gian trả, vì vậy, khi nào có tiền bà sẽ trả. Bà M không chịu, yêu cầu bà A phải trả hết vì mới bán được lúa. Hai người mâu thuẫn với nhau và cùng nhau ra tổ hoà giải nhờ giải quyết.

Sau khi tìm hiểu sự việc, xác định được đây là vụ việc dân sự, nguyên nhân chính là do việc vay nợ giữa hai bên không quy định rõ thời gian trả nợ. Bà A vừa bán lúa xong, tuy không có tiền để trả nợ nhưng lại không giải thích rõ ràng khiến bà M hiểu lầm. Vì thế, hoà giải viên đã giải thích cho bà A và bà M về mối quan hệ tình làng, nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Đồng thời hoà giải viên cũng nói cho bà A biết, bà A cũng có thiếu sót vì bà vừa bán lúa xong, tuy không có tiền để trả nợ nhưng lại không giải thích rõ ràng khiến bà M hiểu lầm. Hoà giải viên cũng phân tích cho bà M rằng bà A không trả được tiền vì mùa màng thất bát, giá lúa hạ nên không có tiền để trả nợ, tuy thế hàng tháng bà A vẫn đóng tiền lãi đầy đủ và không có ý định trốn nợ. Vì hai bên không thoả thuận về thời hạn cho vay, nên bà M có quyền yêu cầu bà A trả nợ bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, trước khi đòi nợ, bà M nên báo trước cho bà A để bà A có thời gian thu xếp trả nợ.

Kết quả, sau khi nghe hoà giải viên phân tích mọi lẽ, bà M đồng ý đến mùa sau mới đòi nợ. Bà A cũng hứa sẽ đóng đủ lãi hàng tháng và cố gắng trả nợ đúng hạn.

8. Tranh chấp trong thanh toán hợp đồng dân sự

Ngày 25/01/2004 bà N có hợp đồng bán cho bà H chủ doanh nghiệp tư nhân Thuận Phát 28 tấn gạo với giá 2.570đ/kg độ ẩm 17%. Đến ngày giao gạo, bà N nhờ chủ phương tiện chở gạo đến giao cho bà H. Sau khi nhận hàng, bà H kiểm tra lại thì phát hiện gạo không đủ tiêu chuẩn theo như hợp đồng. Bà H báo lại với chủ phương tiện là gạo không đạt chất lượng, độ ẩm vượt quá 17% như quy định. Tuy thế, bà H vẫn cho nhập kho đủ 28 tấn gạo. Với lý do đó khi thanh toán bà H chỉ tính tiền với giá 2.560đ/kg ( mỗi kg bà H trừ 10 đồng).

Bà N không chấp nhận, làm đơn khiếu nại về việc làm của bà H. Hai bên nảy sinh mâu thuẫn.

Sau khi nhận được đơn của bà N, Ban hòa giải của phường 8 đã mời hai người đến làm thủ tục hòa giải. Qua nghiên cứu, xem xét sự việc, ban hòa giải nhận thấy việc mua bán gạo giữa hai bên không lập thành văn bản mà chỉ là hợp đồng miệng. Khi nhập gạo không đủ tiêu chuẩn chất lượng quy định theo thỏa thuận bà H cũng không trực tiếp thông báo với bà N mà lại thông qua chủ phương tiện là người chở mướn. Như vậy, cả hai bên đều có thiếu sót và mỗi bên phải chịu một phần trách nhiệm.

Qua phân tích của ban hòa giải phường, hai bên đã nhận ra sai sót của mình và thống nhất với nhau mỗi bên sẽ chịu một nửa phần chênh lệch giá và không khiếu nại nhau nữa.

9. Tranh chấp hợp đồng mua bán

Vào ngày 05/10/2003, bà S đến Uỷ ban nhân dân phường yêu cầu giải quyết về việc chủ hiệu dịch vụ cầm đồ M đã không thực hiện đúng hợp đồng mua bán.

Trong đơn bà S trình bày: vào ngày 30/9/2003, bà có đến dịch vụ cầm đồ M tìm mua một chiếc mô tô để làm phương tiện đi lại cho các con. Do không có khả năng mua xe mới nên bà phải tìm mua xe mà khách hàng đã cầm cố quá thời hạn không chuộc lại và chủ hiệu dịch vụ đem bán để thu lại vốn. Vì cũng có quen biết với chủ hiệu dịch vụ cầm đồ M nên bà s đến đó tìm mua. Sau khi được bà A, chủ của dịch vụ cầm đồ giới thiệu, bà đã chọn được một chiếc xe wave Trung Quốc với giá 5.000.000 đồng. Hai bên đã thoả thuận bà sẽ đặt cọc trước là 4.000.000 đồng, đến ngày 05/10/2003 sau khi chủ hiệu dịch vụ cầm đồ làm xong thủ tục để sang tên lại chiếc xe cho bà, thì bà sẽ trả lại số tiền còn lại là 1.000.000 đồng cho dịch vụ cầm đồ.

Nhưng đến ngày hẹn thì bà A, chủ dịch vụ cầm đồ đòi bà trả đủ số tiền còn lại là 1.000.000 đồng thì sẽ giao giấy chứng nhận đăng ký xe để bà tự làm giấy sang tên chiếc xe, nếu không đồng ý thì có thể khiếu nại. Vì vậy bà gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân phường để đề nghị giải quyết và đồng thời bà yêu cầu dịch vụ cầm đồ nếu không sang tên bán chiếc xe đó cho bà thì phải bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc vì đã vi phạm hợp đồng mua bán theo quy định của Bộ luật dân sự. Như vậy, có nghĩa là chủ hiệu dịch vụ cầm đồ phải trả đủ tiền cọc cho bà là 8.000.000 đồng.

Sau khi nghe bà S trình bày rõ sự việc, cán bộ tư pháp đã tiếp nhận đơn. Theo bà S trình bày thì số tiền bà mua xe là tiền của các con bà vay trả góp hàng ngày, nếu không mua được xe thì phải trả lại chứ không thể để lâu vì tiền lãi rất cao, nên liền sau đó cán bộ tư pháp đã trình bày sự việc này với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường và tiến hành xác minh làm rõ sự việc. Hai ngày sau khi nhận đơn (ngày 07/10/2003), cán bộ tư pháp đã tiến hành mời hai bên đến để hoà giải, chủ tọa là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, cán bộ tư pháp cùng với sự tham gia của Hội Phụ nữ, Ban Thanh tra nhân dân phường, tổ hoà giải nơi dịch vụ cầm đồ đang kinh doanh.

Trong buổi hoà giải, đại diện chủ hiệu dịch vụ cầm đồ là ông Q trình bày, chủ hiệu dịch vụ cầm đồ có bán chiếc xe wave do ông B đứng tên và cầm đồ cho dịch vụ từ ngày 24/05/2003. Theo thoả thuận giữa dịch vụ và khách hàng thì hàng tháng khách hàng phải đến đóng lãi, quá thời hạn 07 ngày thì món đồ cầm sẽ bị bán, nhưng chiếc xe này ông M đã cầm cho dịch vụ từ ngày 24/05/2003 đến 30/9/2003 đã 04 tháng mà không đóng lãi và không chuộc lại xe. Vì vậy, chủ hiệu dịch vụ phải đem ra bán để lấy lại vốn. Ông Q đã thoả thuận bán chiếc xe này cho bà S và nhận số tiền còn lại là 1.000.000 đồng. Nhưng khi đến Uỷ ban nhân dân xã nơi ông B thường trú để ký giấy mua bán xe thì gia đình mới biết ông B cầm xe để làm ăn và gia đình cũng biết nếu quá hạn mà không đóng tiền lãi thì chủ hiệu dịch vụ có quyền bán. Nhưng do ông B đang nuôi tôm sú ở rất xa không về được nên gia đình yêu cầu chủ hiệu dịch vụ tạm thời cho đóng lãi, gia đình sẽ liên hệ với ông B để chuộc lại xe. Đồng thời gia đình trình bày hoàn cảnh với Uỷ ban nhân dân xã và nhờ giúp đỡ. Do yêu cầu của gia đình ông B hợp tình, hợp lý nên Uỷ ban nhân dân xã cũng đã động viên ông Q tạm thời giữ lại chiếc xe để ông B về giải quyết và xác nhận vào giấy bán xe, nên ông Q không thể bán chiếc xe đó cho bà S. Ông Q cũng nói rõ cho bà S hiểu hoàn cảnh của ông B và đề nghị sẽ tìm chiếc xe khác để bán cho bà. Bà S nhất quyết không chịu và đòi mua cho được chiếc xe đó với lý do là chiếc xe các con bà rất ưng ý và đã có sửa chữa lại đôi chút. Mặt khác, chủ hiệu dịch vụ cầm đồ đã thoả thuận hợp đồng bán cho bà rồi thì không thể sai hợp đồng được. Bà cũng đưa ra điều kiện nếu ông Q không bán chiếc xe đó cho bà thì phải trả gấp đôi số tiền bà đã đặt cọc là 8.000.000 đồng. Ông Q cho rằng đề nghị của bà S là quá đáng và đã giải thích cho bà S hiểu, thông cảm cho ông, đồng thời đề nghị bà nếu bà S trả lại chiếc xe, ông sẽ trả lại tiền đặt cọc là 4.000.000 đồng, trả lại tiền sửa xe và phần tiền lãi mà bà S đã vay tính từ ngày dịch vụ nhận tiền đặt cọc đến ngày phường mời đến Tổ hoà giải.

Qua ý kiến của hai bên, cán bộ hoà giải đã giải thích rằng nếu ông Q không thực hiện đúng thoả thuận với bà là vì muốn bán chiếc xe cho người khác thì ông Q phải chịu trách nhiệm với bà S và phải bồi thường vì đã vi phạm hợp đồng. Nhưng trong trường hợp này do điều kiện khách quan nên ông đã không thực hiện đúng theo thoả thuận. Mặt khác, việc ông Q đem bán chiếc xe cầm đã quá hạn để bán cho bà s không có gì sai trái, nhưng vì mô tô là loại tài sản có giá trị tương đối lớn và được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng ký, khi muốn bán thì phải có chủ sở hữu ký tên bán. Đúng ra trước đó, muốn bán xe này ông Q phải làm thủ tục sang tên lại cho đại diện dịch vụ, sau đó mới làm giấy tờ mua bán với người mua là bà S. Nếu như làm trước động tác này thì có lẽ gia đình ông B đã sớm phát hiện ra và sự việc sẽ không phức tạp như vậy. Xét về lý thì sau khi biết hoàn cảnh ông B và gia đình ông B đã xin đóng lãi để chuộc xe thì ông Q không thể đem chiếc xe đó đi được. Đây là việc làm hợp với đạo lý và cũng tạo uy tín với khách hàng của ông Q. Hơn nữa, sự việc này gia đình ông B cũng đã báo với Uỷ ban nhân dân xã và yêu cầu can thiệp, Uỷ ban nhân dân xã đã động viên ông Q nên giữ lại chiếc xe và không ký xác nhận nên ông Q không thể bán chiếc xe đó cho bà S được. Qua phân tích sự việc, cán bộ hoà giải động viên hai bên thoả thuận và động viên bà S nên thông cảm và hiểu cho hoàn cảnh của ông B chủ xe mà giao trả lại cho ông Q, nếu như bà đồng ý thì ông Q sẽ chọn chiếc xe khác để bán cho bà như đã hứa.

Cuối cùng hai bên thống nhất thoả thuận như sau:

– Ông Q chủ dịch vụ cầm đồ sẽ trả lại tiền sửa xe và tiền lãi suất hàng ngày mà bà S đã vay để mua xe coi như là tiền thiệt hại cho bà, tính từ ngày dịch vụ nhận tiền đặt cọc đến ngày hai bên hoà giải thành là 07 ngày (từ ngày 30/9 đến 05/10/2003);

– Bà S sẽ xác định rõ số tiền sửa xe và lãi suất hằng ngày là bao nhiêu thông báo cho ông Q biết cụ thể để hai bên cùng thoả thuận;

– Đến ngày hôm sau là 08/10/2003 hai bên sẽ đến Uỷ ban nhân dân phường để thống nhất số tiền mà ông Q, chủ dịch vụ cầm đồ sẽ đền bù thiệt hại cho bà S. Sau khi thoả thuận xong thì bà S sẽ trả lại xe cho ông Q và ông Q sẽ trả lại tiền đặt cọc và phần tiền bồi hoàn cho bà S như đã thoả thuận.

Cuộc hoà giải tưởng như đã thành nhưng đến hôm sau, bà S đến phường và nói rằng con gái của bà chuẩn bị sinh nên bà phải đến bệnh viện, bà đề nghị ông Q phải bồi thường cho bà 500.000 đồng bà mới trả xe. Căn cứ vào biên bản hai bên đã thoả thuận hôm trước thì cán bộ tư pháp giải thích rằng không thể thực hiện theo yêu cầu của bà S, hai bên phải gặp nhau để tự thoả thuận. Bà S ra về, liền sau đó hai người con của bà đến và cho biết phần tiền sửa xe là 150.000 đồng, lãi suất tiền vay là 25.000đồng/ngày/500.000đồng x 07 ngày = 175.000đồng. Như vậy tổng số tiền ông Q phải đền bù cho bà S là 325.000 đồng. Sau khi thoả thuận xong cán bộ tư pháp yêu cầu bà S đến để giao xe và nhận tiền vì bà là người đứng đơn yêu cầu giải quyết. Nhưng khi bà S đến lại không đồng ý với thoả thuận đó và yêu cầu đến Uỷ ban nhân dân xã liên hệ xác minh sự việc ông B chủ xe có đúng là đã yêu cầu đóng lãi để giữ chiếc xe đó lại hay không. Ông Q không đồng ý với đề nghị đó, vì ông cho rằng do bà S không tin và cố tình làm khó, do vậy ông chỉ chịu đền bù tiền lãi 07 ngày theo biên bản đã hoà giải, còn việc bà S đến liên hệ Uỷ ban nhân dân xã nếu kéo dài thêm thời gian thì ông không chịu trách nhiệm.

Hai tuần sau bà S đến phường yêu cầu mời ông Q đến để thoả thuận. Vì muốn sớm giải quyết nhanh chóng nên ông Q có đưa em của ông B (chủ chiếc xe) đến gặp bà để xác định sự việc đó là có thật. Bà S nhất quyết không trả lại chiếc xe và yêu cầu ông Q phải làm giấy mua bán cho bà xong thì bà sẽ giao trả số tiền còn lại là 1.000.000 đồng, bà không quan tâm ai là chủ xe, nếu ông Q muốn lấy lại xe thì phải bồi hoàn cho bà gấp đôi số tiền đặt cọc (coi như bồi hoàn danh dự cho bà). Cán bộ hoà giải đã giải thích trên cơ sở tình và lý cho bà S hiểu nhưng bà vẫn không chịu thoả thuận. Do vậy buộc cán bộ hoà giải phải lập biên bản hoà giải không thành để chuyển sang Toà án thị xã giải quyết, nhưng vẫn khuyên hai bên suy nghĩ lại. trong vòng 07 ngày nếu hai bên vẫn không thay đổi ý kiến thì phường sẽ chuyển hồ sơ sang Toà án thị xã. Hai ngày sau, bà S cùng chồng đến phường gặp cán bộ tư pháp yêu cầu cho xem lại biên bản hoà giải. cán bộ tư pháp giải thích rõ sự việc cho chồng bà S hiểu và động viên chồng bà nên khuyên giải thoả thuận và tìm xe khác để mua. qua lời khuyên giải của chồng, bà đã đề nghị phần tiền sửa xe và lãi suất ông Q đã thoả thuận sẽ đền bù cho bà thay vì là 350.000 đồng, bà đề nghị cán bộ tư pháp động viên ông Q tăng lên 500.000 đồng. Theo đề nghị của bà S, cán bộ tư pháp đã mời ông Q đến và nói cho ông biết yêu cầu của bà S, ông Q đã đồng ý với đề nghị đó.

Vào lúc 14h buổi chiều hôm đó, bà S đã giao trả chiếc xe lại cho ông Q và bà đã nhận lại tiền cọc và tiền đền bù tổng cộng là 4.500.000 đồng và hai bên cùng vui vẻ ra về.

10. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Con trâu nhà ông T húc nhau với con trâu nhà ông M làm con trâu nhà ông M lăn xuống vực chết. Ông M bắt ông T đền con trâu với giá 2 triệu đồng, ông T không nhất trí. Hai bên không thỏa thuận được nên xô xát với nhau.

Biết chuyện, tổ hòa giải thôn đã họp bàn và giao cho anh V, tổ trưởng tổ hòa giải trực tiếp hòa giải.

Qua tìm hiểu, anh V biết ông T và ông M là anh em con chú, con bác. Trước đây, hai anh em sống hòa thuận không có mâu thuẫn gì. Vì thế anh V đã tiếp cận riêng từng người, dùng lời lẽ tình cảm, phân tích để mối quan hệ hàng xóm và gia đình giữa hai nhà, không nên vì lợi ích nhỏ mà làm mất tình cảm anh em trong gia đình. Đồng thời, anh v cũng đã vận dụng Bộ luật dân sự để giải thích cho ông T biết về bồi thường thiệt hại do gia súc gây ra. Cụ thể trong trường hợp này, tuy ông T không có lỗi nhưng ông phải chịu trách nhiệm về việc để trâu nhà mình húc chết trâu nhà ông M. Vì thế, theo quy định của pháp luật dân sự, ông T phải bồi thường. Anh V cũng đưa ra phương án giải quyết là xác định giá con trâu theo giá thị trường để làm cơ sở cho việc bồi thường. Sau đó, hai gia đình khiêng trâu về xẻ thịt ra chợ bán, số tiền bán được trả cho ông M. Số tiền còn thiếu, ông T sẽ bồi thường cho ông M.

Nghe lời giải thích của anh V lại thấy phương án đưa ra rất hợp lý, ông T và ông M đã nhất trí và tự nguyện giải quyết nội bộ với nhau.

11. Tranh chấp lối đi chung

Gia đình bà A và gia đình ông K xảy ra tranh chấp lối đi chung. Nguồn gốc lối đi trên là đường dân sinh, hai gia đình bà A và gia đình ông K đều sử dụng lối đi này. Một thời gian sau, nhà bà A mở lối đi khác. thấy vậy, ông K tự ý xây tường ngăn chiếm lối đi trên. Gia đình bà A không đồng ý, hai bên xảy ra mâu thuẫn. Bà A nhờ tổ hòa giải thôn giải quyết.

Tổ hòa giải trực tiếp hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Sự việc chuyển lên Ban hòa giải xã.

Ban hòa giải đã gặp ông K phân tích sự việc đồng thời giải thích rõ:

– Nếu lối đi nằm trên diện tích thuộc quyền sử dụng đất của nhà ông K, trước đây ông cho nhà bà A đi nhờ thì nay bà A không sử dụng, ông có quyền lấy lại.

– Nếu lối đi trên là lối đi chung đã có từ lâu thì mặc dù bà A không sử dụng nữa ông cũng không được xây ngăn để chiếm hữu làm của riêng. Nếu tiếp tục lấn chiếm, chính quyền xã sẽ lập biên bản giải quyết theo thẩm quyền.

Sau khi hiểu và nhận ra cái sai của mình, ông K đã tự nguyện dỡ bỏ tường xây, không lấn chiếm nữa. Hai gia đình lại hòa thuận với nhau.

12. Tình chú cháu

Tháng 11 năm 2003, ông V thuê ông T là chú họ chăm sóc một cặp bò mẹ – bò con, hai bên thoả thuận tiền công là 80.000đồng/1 tháng. Nhưng sau 01 tuần bê con đi lạc, lúc chưa tìm thấy con bê, ông T hứa sẽ bồi thường giá trị con bê mà theo hai bên xác định là: 2.100.000 đồng. Sau đó phát hiện con bê chết dưới giếng nước của nhà ông V, thì ông T không chịu bồi thường vì cho rằng: lỗi để bê chết thuộc về ông V, do trong vườn nhà ông V có giếng nước bỏ hoang mà không báo cho ông T biết. Hơn nữa, ông T chỉ đi chăn dắt mẹ con bò vào ban ngày còn về đêm lại nhốt ở chuồng của nhà ông V, tiền công tháng ông cũng chưa nhận. Vì vậy, thoả thuận chăm sóc mẹ con bò coi như chưa thực hiện.

Ông V không chấp nhận ý kiến của ông T mà tiếp tục đòi bồi thường số tiền theo như đã thoả thuận. Hai bên không thống nhất, phải nhờ đến Tổ hoà giải.

Tổ hoà giải đã tìm hiểu sự việc, gặp gỡ từng bên để giải thích, phân tích cho họ hiểu các quy định của Bộ luật dân sự. Theo đó, thoả thuận của hai ông là thoả thuận miệng, lỗi để cho con bê bị chết thuộc về ông T vì đã để con bê đi lạc trong khi được giao chăn dắt vào ban ngày. Việc thông báo trong vườn có giếng nước không phải là yêu cầu bắt buộc đối với ông V. Trái lại, ông T khi nhận chăn dắt phải có nghĩa vụ trông coi, hơn nữa hai ông không thoả thuận trước nội dung này. Việc tiền công tháng ông V chưa trả vì chưa đến hạn, không phải vì thế mà thoả thuận giữa hai ông chưa hoàn thành.

Khi giải thích để ông T biết được trách nhiệm của mình, Tổ hoà giải cũng phân tích để ông V thấy: ông T là chú họ của ông, nhà lại nghèo, sự việc xảy ra ngoài ý muốn của ông. Do vậy, để giữ tình đoàn kết anh em trong họ hàng, ông nên giảm bớt phần bồi thường thiệt hại cho ông chú của mình.

Sau khi nghe Tổ hoà giải phân tích, ông V đã hiểu ra sự việc, chấp nhận lấy 1/3 số tiền bồi thường trị giá con bê.

13. Tình cha con

N (con ông B) kết hôn với chị K (con ông D). Trong ngày cưới, ông D cho con 2,1 lượng vàng 24k, bên ông B cho 2,2 lượng vàng 24k để con làm vốn. Thời gian sau, anh N và chị K dùng số vàng này để mua đất ruộng được 4,5 công với giá 4,2 lượng vàng 24k. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh N, nhưng vợ chồng anh N chị K không được canh tác mà là gia đình ông B được canh tác. Do vậy, vợ chồng anh N chị K yêu cầu xin lại số vàng mà cha mẹ vợ đã cho, đất ruộng thì để lại cho cha mẹ ruột (ông B) tiếp tục canh tác và đồng ý sang tên cho ông B nhưng ông B không đồng ý.

Qua xác minh để đưa ra hoà giải, Ban hoà giải nhận thấy mâu thuẫn chủ yếu phát sinh dẫn đến vụ việc nêu trên là do gia đình bên chồng (gia đình ông B) và con dâu (chị K), nên vợ chồng anh N chị K đã bỏ về nhà cha mẹ vợ sống, dẫn đến việc ông B giận mà không thực hiện theo yêu cầu của các con.

Ban hoà giải đã động viên cho vợ chồng ông B thấy đây là tình nghĩa cha con, không nên vì một phút tức giận mà làm cho tình cảm cha con vì thế mà rạn nứt. Do vậy, ông nên chấp nhận yêu cầu của các con, mặt khác Ban hoà giải cũng phân tích để ông B biết việc đòi lại đất của anh N và chị K là việc làm hoàn toàn chính đáng vì 4, 5 công đất này là đất của anh N đã mua và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh N chứ không phải tên ông B.

Với những phân tích trên của Ban hoà giải, vợ chồng ông B đã vui vẻ trả lại 2,1 lượng vàng 24k cho vợ chồng anh N ngay tại Ban hoà giải.

14. Mất gà

Gia đình bà Đ và gia đình bà M là hàng xóm của nhau, có nuôi 2 con gà mái rất giống nhau, một trong hai con bị mất không rõ nguyên nhân, còn lại 01 con. Bà Đ cho rằng con còn lại là của gia đình mình và đem bắt nhốt lại, bà M không đồng ý và cho rằng con gà đó là của nhà mình. Kể từ đó hai gia đình tranh chấp nhau con gà.

Cán bộ hoà giải xã tiến hành xác minh làm rõ vụ việc, mời hai đương sự đến để giải thích, động viên, thuyết phục nhưng hai bà không thống nhất. Sau đó Ban hoà giải cho hai người trình bày ý kiến của mình.

Bà Đ trình bày: Con gà của gia đình tôi có lông màu vàng, chân vàng và vừa đẻ được ba quả trứng hiện vẫn đang còn trên ổ.

Bà M trình bày: Con gà của gia đình tôi có lông màu vàng, chân vàng và có một bầy con hơn 01 tháng tuổi.

Từ những cơ sở trên cán bộ hoà giải áp dụng biện pháp tự nhiên bằng cách thả gà mẹ ra gần đàn gà con để xác định và cuối cùng hai đương sự thống nhất cách giải quyết này của Ban hoà giải.

Kết quả cho thấy sau khi bị nhốt lâu nên gà mẹ chạy ngay đến bầy gà con. Ban hoà giải cùng hai đương sự thống nhất xác định con gà trên là của gia đình nhà bà M.

15. Mẹ ơi, con biết lỗi rồi

Anh A có vay của mẹ đẻ mình một số tiền nhưng thời gian quá lâu mà không chịu trả. Sau nhiều lần đòi và thúc giục, mẹ con sinh ra mâu thuẫn. Bà mẹ vì quá giận con nên đã yêu cầu Tổ hoà giải giải quyết buộc anh A phải trả số tiền đã vay.

Sau khi nhận được yêu cầu của bà mẹ, Tổ hoà giải nhận thấy đây là một công việc thuộc thẩm quyền của Tổ hoà giải và cần tiến hành hoà giải ngay giữa hai mẹ con nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai người nếu không để sự việc lâu ngày thì mâu thuẫn càng gay gắt, bà mẹ có thể vì tức con mà ảnh hưởng đến sức khoẻ hoặc người con tức mẹ dẫn đến có những hành vi không tốt làm mất tình cảm mẹ con và gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội.

Tổ hoà giải cũng xác định đây là một vụ việc rất tế nhị, không thể giải quyết theo quy luật “có vay, có trả” hay áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự để buộc anh A phải trả lại cho mẹ mình số tiền đã vay. Nếu làm như vậy, rất có thể không đạt kết quả như mong muốn, trái lại tình cảm mẹ con còn có thể bị tan vỡ. Do đó, Tổ hoà giải đã quyết định dùng biện pháp tình cảm để nói rõ điều hay lẽ phải cho anh A biết và thuyết phục anh A nên trả lại số tiền đã vay cho mẹ. Tổ hoà giải nêu: ông bà ta có câu: “trẻ cậy cha, già cậy con” cha mẹ sinh con ra, nuôi con khôn lớn chỉ trông cậy vào lúc tuổi già. Bây giờ bà Chín (mẹ anh A) đã già, anh A chưa nuôi được mẹ thì cố gắng đừng để mẹ buồn phải làm cho mẹ sống khoẻ, sống vui đó cũng là việc làm có hiếu của con cái đối với cha mẹ. Tiếp sau đó, Tổ hoà giải đọc cho tất cả mọi người trong buổi hoà giải đó nghe một bài viết của báo Công an thành phố Hồ Chí Minh kể về một tấm gương hiếu thảo với nhan đề: “Người con mười hai lần hiến máu để lấy tiền nuôi mẹ trong bệnh viện”. Bài báo có đoạn: Khi hiến máu đến lần thứ mười hai, phóng viên báo Công an thành phố mới biết tin và đến phỏng vấn thì được người con trả lời: “Máu thịt của tôi mang trong cơ thể là do mẹ tôi tạo ra thì số máu tôi đem hiến để lấy tiền nuôi mẹ như vậy có đáng gì” đọc đến đây mọi người đều xúc động. Một người trong tổ hoà giải phát biểu “Đúng là một câu trả lời rất bình thường nhưng hết sức đạo đức và hết sức cảm động. Người ta dám hiến máu để nuôi mẹ, mình vay tiền của mẹ thì trả lại cho mẹ vui thì có gì đâu mà không làm được”. Nói đến đây anh A lên tiếng “Thôi các bác đừng nói nữa, con biết lỗi rồi” sau đó anh A quay mặt về phía bà mẹ nói rất nhỏ nhẹ “Má tha lỗi cho con, con sẽ trả tiền cho má, má đừng buồn”. Thấy con đã nhận ra điều sai lẽ phải, bà mẹ vui ra mặt.

Cuộc hoà giải đã thành công tốt đẹp, dù không ghi một dòng biên bản nào

16. Chuyện trẻ con

làm mất lòng người lớn

Nhà ông T và ông B cùng chung tường. Ông T có đứa con trai 8 tuổi, ông B có đứa con trai 6 tuổi. Một hôm hai đứa trẻ chơi với nhau gây đánh lộn, con ông B không đánh lại được con ông T nên đã chạy về nhà gọi bố. Vợ ông T thấy vậy chạy ra can thiệp và hai bên dẫn đến xô xát. Sự việc đã được Tổ hoà giải tiến hành hoà giải.

Tổ hoà giải đã tiến hành xác minh nguyên nhân xảy ra vụ việc, xác định lỗi của mỗi bên; tiếp xúc trao đổi riêng với từng người và phân tích cho họ cái đúng và cái sai mà họ đã phạm phải và nói rõ cho 2 gia đình hiểu là việc trẻ em còn nhỏ gây đánh lộn là chuyện bình thường, trách nhiệm của người lớn là phải chăm sóc và giáo dục trẻ em lối sống biết yêu thương, quý trọng bạn bè. Người lớn không chỉ vì chuyện rất nhỏ của trẻ con mà làm mất an ninh trật tự thôn xóm, ảnh hưởng đến cuộc sống của những người xung quanh. Qua phân tích như vậy, vợ ông T và ông B đã nhận ra lỗi của mình, trước Tổ hoà giải và cam đoan từ nay hai gia đình sẽ giáo dục con cái và không để tái diễn những chuyện như đã xảy ra.

17. Xả rác xuống nguồn nước chung

Anh T và anh V cùng lấy nước sinh hoạt chung một con mương dẫn nước từ sông vào. Gia đình anh T ở đầu nguồn nhưng thường xuyên xả rác và nước thải xuống nguồn nước chung. Anh V đã góp ý nhiều lần nhưng T không chịu sửa đổi và còn có những hành vi thiếu văn hoá. Chính vì lẽ đó sự việc đã được đưa ra Tổ hoà giải để giải quyết.

Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết, Tổ hoà giải đã tiến hành xác minh xem sự việc của anh V tố cáo anh T xả rác, nước thải xuống nguồn nước và tìm bằng chứng có liên quan. Tổ hoà giải đã xác định được sự việc trên là có thật và hoà giải viên đã gặp riêng anh T phân tích cho anh biết những quy định của Luật bảo vệ môi trường, Luật tài nguyên nước và các văn bản pháp luật khác có quy định “Nghiêm cấm xả rác và rác thải trực tiếp xuống nguồn nước”. Hơn nữa, việc giữ gìn vệ sinh nguồn nước, sử dụng nước sông là tập quán lâu đời của nhân dân vùng sông nước. Mặt khác, hành vi của anh T đã được anh V góp ý nhiều lần nhưng vẫn cố tình tái diễn và có những hành vi thiếu văn hoá đối với người đã góp ý chính đáng cho mình là những hành vi hoàn toàn sai cần phải xin lỗi công khai anh V và chấm dứt ngay việc xả rác và nước thải xuống nguồn nước chung, nếu còn tái diễn căn cứ vào mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo các quy định của pháp luật.

Khi nghe phân tích, lý giải của hoà giải viên, anh T đã nhận ra những sai phạm của mình và công khai xin lỗi anh V và hứa sẽ chấm dứt ngay những việc làm sai trái của mình. Sau cuộc hoà giải thành, hoà giải viên đã thường xuyên tiếp xúc với anh T và anh V động viên anh T thực hiện các cam kết của mình.

18. Lý, tình phải đi đôi

Anh H đang là chủ hộ và chủ sử dụng phần đất thổ cư diện tích 437m2, đã được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng chính việc này đã làm phát sinh mâu thuẫn giữa anh và chị gái. chị gái anh H đòi được chia phần thừa kế, nhưng anh H không chịu và vì cho rằng nhà, đất cha mẹ để lại, anh là con trai út nên anh được hưởng.

Nhận được đơn của anh H, Tổ hoà giải thấy đây là vụ việc thuộc thẩm quyền của Tổ hoà giải và đã tiến hành lập hồ sơ, xác minh cụ thể.

Khi tiến hành hoà giải, Tổ hoà giải đã phân công người ghi biên bản và yêu cầu anh H, chị gái phải hết sức bình tĩnh, trình bày ngắn gọn, cụ thể, trong khi trình bày phải dùng lời ăn tiếng nói có văn hoá, bên nói phải có bên nghe, tránh cãi nhau làm cho buổi hoà giải thêm căng thẳng không đạt kết quả.

Anh H một mực khẳng định đất của cha mẹ để lại, anh là con út trong gia đình nên được hưởng và chấp nhận cho chị gái ở chứ không đồng ý phân chia quyền sử dụng đất. Đồng thời yêu cầu chị gái không được xúc phạm danh dự của mình.

Chị gái anh thì cho rằng, đất này là tài sản của cha mẹ để lại, cha mẹ đã qua đời dù không có di chúc, nhưng theo quy định của pháp luật thì chị là con trong gia đình không phân biệt trai gái đều được hưởng như nhau. Do đó, anh H phải chia cho chị một nền nhà riêng, nếu không chị sẽ kiện ra toà án yêu cầu giải quyết theo pháp luật.

Sau khi nghe các bên trình bày, Tổ hoà giải xác định đây là tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, vấn đề này được Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật quy định rất cụ thể. Do vậy, tổ hoà giải đã giảng giải và phân tích cho anh H biết về các quy định của pháp luật liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế. Theo đó, anh H cũng như chị gái của mình đều bình đẳng với nhau trong việc hưởng tài sản thừa kế do cha mẹ để lại.

Tổ hoà giải cũng phân tích thêm về mặt tình cảm gia đình, chị gái anh H không nên có lời ăn, tiếng nói xúc phạm đến danh dự của em trai mình, như vậy là sai đi ngược lại với truyền thống của người Việt Nam; vi phạm quy chế xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới ở ấp hiện nay và đề nghị chị gái anh H phải chấm dứt việc chửi bới, xúc phạm danh dự của anh H.

Sau khi nghe Tổ hoà giải phân tích có tình, có lý anh H đã vui vẻ ký vào biên bản đồng ý cắt một phần đất cho chị gái để chị tiến hành việc xây dựng nhà ở và đề nghị Tổ hoà giải hướng dẫn thủ tục tách hộ, tách thửa để chị gái được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

19. Mâu thuẫn mẹ, con về chuyển nhượng đất

Nhà ông R ở bên trong nên khi đi ra đường chính phải đi nhờ qua đất của nhà bà Đ bằng một đoạn bờ ruộng dài khoảng 40m. Vì điều kiện đi lại khó khăn nên ông R đề nghị bà Đ chuyển nhượng thửa đất này cho mình và được bà Đ đồng ý. Hai bên tiến hành làm các thủ tục sang nhượng thì xảy ra vụ việc: anh L con trai bà Đ khi lập gia đình đã được gia đình cho ra ở riêng và được bà Đ cho đất sau đó, anh đã sang nhượng mảnh đất này để lấy tiền kinh doanh, nhưng do kinh doanh bị thua lỗ phải bán cả nhà lẫn đất. Thấy hoàn cảnh khó khăn, bà Đ cho L về xây nhà trên mảnh đất của bà và đồng ý sẽ nhượng mảnh đất đó nếu L trả cho bà một số tiền. Tuy nhiên, anh L trả lời mẹ cứ sang cho người khác cho nên bà Đ mới tiến hành sang nhượng cho ông R. Sau đó, anh L nghe lời kẻ xấu, quay sang ngăn cản không cho bà Đ tiến hành các thủ tục sang nhượng đất, nhưng bà Đ vẫn cứ tiến hành và cho mời ông R đến để tiến hành cắm mốc thì L đến hành hung ông R. Sự việc được bà Đ báo cho công an, công an xã cho mời L đến trụ sở để giáo dục, nhưng khi đến trụ sở, L chỉ nói là không cho mẹ sang nhượng để đất đó khi nào có tiền L sẽ lấy và bỏ về. Về đến nhà, L cho máy cày xới đất và ngang nhiên canh tác trên mảnh đất của bà Đ, chính vì thế mà mẹ con thường xuyên gây gổ với nhau, công an đã nhiều lần mời bà con nông dân trong ấp họp để góp ý cho L nhưng vẫn không đạt kết quả.

Vụ việc được chuyển cho tư pháp xã. Nhận hồ sơ tranh chấp kết hợp qua nội dung xác minh, Ban Tư pháp xã nhận định:

L là người không biết chữ nên nhận thức còn nông cạn lại bị kẻ xấu xúi dục và không kiên nhẫn nghe lời khuyên giải của bà con, hàng xóm.

Bà Đ cũng là người nhận thức có giới hạn, không hiểu được hoàn cảnh của con mà cho rằng L nghe lời kẻ xấu làm mất uy tín của mình và không đủ khả năng thuyết phục L.

Ông R chỉ cần đường đi chứ không cần toàn bộ cả thửa đất đó.

Qua nhận định sự việc, Ban Tư pháp xã đã mời bà Đ, ông R, anh L cùng Ban địa chính, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên đến để tiến hành hoà giải.

Khi thông qua nội dung yêu cầu hoà giải thì anh L vẫn giữ nguyên ý kiến của mình là không cho mẹ (bà Đ) chuyển nhượng đất cho ông R mà cứ giữ nguyên khi nào có tiền sẽ lấy và đứng dậy định bỏ về như những lần trước. đồng chí Trưởng ban Tư pháp thuyết phục anh ở lại và dùng lời lẽ có tình, có lý cho anh thấy: bà Đ là mẹ của anh đã nuôi anh khôn lớn, cưới vợ, cho đất để anh sinh sống, lúc anh gặp khó khăn bà đã dang rộng cánh tay đón nhận anh về sống chung để ổn định cuộc sống. Công ơn này lớn hơn biển cả anh nên suy nghĩ mà thương mẹ, làm tròn bổn phận của người con đối với cha mẹ.

Trên thực tế thì hiện nay bà Đ là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức là bà đã được nhà nước công nhận chủ quyền đối với mảnh đất đó và có toàn quyền định đoạt phần đất này, anh L không có quyền ngăn cản.

Còn bà Đ cũng nên thông cảm cho hoàn cảnh của con mình đang lúc khó khăn, bà nên tạo điều kiện để anh L khi có điều kiện sẽ nhận chuyển nhượng mảnh đất để lo cho con anh, cháu nội bà khỏi vất vả.

Về phía ông R: theo chúng tôi được biết, ông cũng chỉ cần đường đi. Vì vậy, nên thoả thuận để sang nhượng phần đường đi với bà Đ mà không cần sang nhượng hết cả mảnh đất đó. Ông R đồng ý với phương án của Ban Tư pháp đưa ra và tại Điều 280 Bộ luật dân sự thì về lối đi qua bất động sản liền kề được quy định:

1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi thuận tiện và hợp lý ra đến đường công cộng.

Người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó.

Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên.

Nếu có tranh chấp về lối đi, thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định…

Sau khi phân tích và động viên, anh L đã đứng dậy và nói: do nóng vội và không am hiểu nên đã làm nhiều việc sai trái nay được mấy anh phân tích tôi mới thấy được việc làm của mình là không đúng, vậy mẹ cũng thương con để lại đất 03 tháng sau con cố gắng làm để kiếm tiền về đưa cho mẹ, còn phần đường đi thì nên nhượng cho ông R 5m ngang chạy ra đến đường công cộng, bà Đ đồng ý, tất cả bắt tay nhau vui vẻ. cuộc hoà giải đã thành công tốt đẹp.

20. Chia đất

Ông B và ông T là chỗ anh em thân tình với nhau. Hai người hùn tiền “mua” 5 công ruộng để sản xuất (mỗi người 50%, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chung cho hai ông). Do quy hoạch của Nhà nước mở lộ nên 5 công ruộng trở thành mặt tiền, giá trị tăng lên nhiều lần. Lúc này, hai ông mới tranh chấp với nhau về việc phân chia đất ông nào cũng giành phần mặt tiền. Mâu thuẫn càng ngày càng nghiêm trọng.

Tổ hoà giải xác định đây là vụ tranh chấp đất đai, mà cụ thể là tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc phạm vi hoà giải của Tổ hoà giải.

Do vậy, Tổ hoà giải tiến hành nắm tình hình, nội vụ sự việc, tâm tư nguyện vọng của các bên, nội dung tranh chấp. Đồng thời, trên cơ sở nắm bắt quy định pháp luật về đất đai, các hoà giải viên mời hai bên đến để phân giải, nếu trường hợp mâu thuẫn quá gay gắt các hoà giải viên gặp từng bên để phân giải trước.

Khi mời các bên đến, bằng kinh nghiệm của mình tổ hoà giải đã tạo ra được không khí cởi mở hợp tác của hai bên giải thích cho các bên không nên chuyện “bé xé ra to”, trong khi mối thân tình giữa hai người xưa nay không dễ gì có được.

Tổ hoà giải giải thích rõ cho ông B và ông T biết được giá trị 5 công ruộng phải chia đôi, bởi vì khi hùn “mua” mỗi người đã đóng góp một nửa giá. Do vậy, ông B hoặc ông T không thể được hưởng toàn bộ mặt tiền của mảnh đất. Đây cũng là quy định của pháp luật, hai ông buộc phải tuân thủ, đừng vì tranh giành phần đất mà làm mất đi tình cảm

Trên cơ sở phân tích có tình có lý, Tổ hoà giải nêu ra lỗi của cả hai ông một cách nhẹ nhàng, tránh làm tổn hại đến danh dự của hai ông.

21. Góp phần xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

Vụ việc phát sinh từ cái rãnh thoát nước giữa tổ 11 và tổ 12 phường M.

Trước đây, nhân dân 2 tổ này sống rất hoà thuận, bình yên đúng nghĩa tình làng, nghĩa xóm. Đất thưa, người ít, cảnh quan môi trường luôn được giữ gìn sạch sẽ. Hai tổ vẫn sử dụng chung cái rãnh thoát nước chảy qua một số hộ trong tổ.

Nay vì đất chật người đông, lối sống bình dị của người dân xưa kia đã bị ảnh hưởng. một số hộ dân khi xây dựng nhà đã cố tình lấn chiếm đất rãnh gây tắc cống thoát nước. ý thức các hộ dân chưa cao, các chất thải của từng hộ gia đình cứ tự tiện thải ra các rãnh chung đó gây ô nhiễm môi trường, nhất là mùa mưa đến gây ngập úng. Chính vì vậy, những nhà ở gần cái rãnh đó bị ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sinh hoạt, từ đó phát sinh mâu thuẫn, hàng xóm cãi lộn nhau gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

Từ nhiều đề nghị của người dân, Tổ trưởng Tổ dân phố kết hợp cùng với Tổ hoà giải đến từng hộ gia đình phân tích, thuyết phục bằng nhiều hình thức.

Tổ hoà giải căn cứ vào Luật đất đai, Luật bảo vệ môi trường, các quy định chung của địa phương để xây dựng khu phố văn hoá… vận động các hộ dân, khi xây dựng nhà ở phải đảm bảo xây dựng đúng phần đất của mình, không được lấn chiếm đất lẫn nhau, mỗi hộ gia đình phải xây dựng công trình vệ sinh đảm bảo theo quy định, giữ gìn vệ sinh chung, không thải các chất bẩn khi chưa được xử lý.

Sau khi gặp gỡ các gia đình, tổ dân phố tiến hành họp tổ trên tinh thần dân chủ, cùng bàn bạc và thống nhất:

Nhân dịp Nhà nước đang có chủ trương cấp xi măng xây dựng đường, cống rãnh ở khu phố, thôn, bản. Tổ đứng ra đề nghị phường cấp xi măng, các hộ gia đình đóng góp ngày công, cát, sỏi… cùng nhau hợp sức để làm đường và rãnh thoát nước chung cho nhân dân đi lại được thuận tiện, vệ sinh môi trường được đảm bảo, an ninh khu phố được giữ vững, góp phần xây dựng khu phố văn hoá thực hiện tốt cuộc vận động “Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.

22. Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

Khoảng cuối tháng 3 năm 2003 nhiều cơ quan cấp tỉnh, thị xã và cấp xã đều nhận được một số đơn khiếu kiện giống nhau do tập thể danh sách gồm 18 người đứng tên, có 12 người có chữ ký và 6 người không ký.

Nội dung đơn khiếu nại việc ông P ở ấp X rào đường đi chung có sự hỗ trợ của Trưởng ấp.

Sau khi xác minh rõ nguồn gốc sự việc, Ban Tư pháp đã kết hợp với Mặt trận Tổ quốc, Hội cựu chiến binh, một số ban, ngành xã có liên quan trong đó có Ban địa chính, Hội nông dân, Hội phụ nữ… và tổ hoà giải ấp để tiến hành hoà giải.

Cuộc hoà giải bao gồm gia đình ông P và 18 người đứng tên trong đơn, nhưng chỉ có 12 người đến dự còn 6 người không ký tên trong đơn thì không dự; họ cho rằng việc ông P làm không ảnh hưởng gì đến đời sống, sinh hoạt của họ nên khi người làm đơn đến vận động ký tên họ đã không ký và bây giờ cũng không dự họp vì không có liên quan!

Sỡ dĩ xảy ra tình huống trên là do miếng đất của ông P có ba lối đi xuyên qua và đan ca rô với nhau; trong đó có một lối đi ngách tắt ngang dài khoảng 40 mét. Ông P thấy lối đi ngách này, không phải là lối đi chính, vả lại nếu ông rào đi thì trên đất ông vẫn còn hai lối đi song song nhau, một lối trước cửa, một lối sau hè, bà con vẫn đi lại trên đất ông, không ảnh hưởng gì đến sinh hoạt chung, còn ông thì cũng đỡ phức tạp trong việc bảo vệ hoa màu, tôm nuôi và theo ông “đường phải ra đường” để còn đầu tư nâng cấp cho dễ dàng đi lại.

Trước khi rào đoạn đường này, ông P có đến xin Trưởng ấp là ông H, ông H đồng ý nhưng yêu cầu ông P chờ 6 tháng sau hãy rào để ấp vận động nâng cấp hai lối đi kia (cũng trên đất ông P) khô ráo, không trở ngại việc đi lại của bà con.

Tại cuộc hoà giải, 12 người ký tên trong đơn khiếu nại có 8 người qua phân tích thấu tình đạt lý của Ban Tư pháp xã và tổ hoà giải đã thấy trong một khu đất mà có tới ba con đường đi xuyên ngang thì đúng là thiệt thòi cho người có quyền sử dụng. trên thực tế, nếu rào đoạn đường này cũng không ảnh hưởng gì đến sinh hoạt, đi lại của bà con. Tuy nhiên, do suy nghĩ chưa kỹ nên khi được vận động thì mọi đều ký vào đơn.

Trưởng ban Tư pháp xã đọc khoản 1, Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề, trong đó quy định rõ “chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi thuận tiện và hợp lý ra đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề nếu không có thoả thuận khác”. Từ quy định này, cuộc họp phân tích thấy việc rào ngõ tắt trên cũng không tạo ra sự vây bọc đối với bất kỳ hộ nào và cũng có sự đóng góp đền bù cho ông P, hay có thoả thuận để ông P dành lối đi tắt cho mình.

Bên cạnh đó, tổ hoà giải phân tích việc gửi đơn tràn lan, vượt cấp và vận động nhiều người ký tên như thế là không tốt và thiếu tinh thần đoàn kết, xây dựng, cần phải rút kinh nghiệm.

Hai hôm sau, trưởng ấp vận động nhân lực trong ấp cùng góp công khiêng đá bắc cầu, nâng cấp thêm một bước nữa hai con đường mới, bà con vui vẻ bắt tay cùng làm.

23. Chuyện tranh chấp “bên con, bên cháu”

Tổ hoà giải của ấp G nhận được đơn đề nghị của một phụ nữ trong ấp. Qua tìm hiểu, tổ hoà giải được biết người phụ nữ này đã lấy một người chồng có chứng động kinh, bên nhà chồng cho hai vợ chồng 5 công đất để vợ chồng làm ăn sinh sống. Chẳng bao lâu, khi hai vợ chồng đã có được một đứa con thì chồng chị qua đời sau một cơn động kinh. Dù chồng chết, nhưng chị vẫn thủ tiết thờ chồng, nuôi con và luôn làm tròn nghĩa vụ dâu con nên rất được bên chồng thương mến, xem như con ruột và mối quan hệ ấy, qua mười năm vẫn duy trì tốt đẹp.

Qua tìm hiểu Tổ hoà giải, biết được gia đình bên chồng đã đồng ý gả “nàng dâu như con gái” của mình cho một thanh niên xã bên. Chuyện tranh chấp “bên con, bên cháu” bắt đầu xảy ra từ thời điểm này.

Gia đình bên chồng buộc chị phải dỡ nhà với lý do: “Có chồng phải về bên chồng mà ở. Nhà này gia đình cho xây cất để vợ chồng nó ở, giờ có người khác thì dỡ chứ không chứa được…”. Bên nhà chồng buộc chị phải để con cho họ với lý do có người nối dõi. Tổ hoà giải cũng ngầm hiểu việc này có liên quan đến 5 công đất mà bên chồng đã cho hai vợ chồng chị trước đây.

Sau khi xác minh làm rõ các mối quan hệ, Tổ hoà giải đã chọn ngày giờ và mời các bên đến hoà giải.

Tại cuộc hoà giải, bên nhà chồng khăng khăng nói trước đây gia đình mình cho đất, cho cây để vợ chồng chị cất nhà ở và làm ăn, sinh sống với nhau, giờ chồng chị chết, chị có chồng khác thì phải theo chồng, gia đình dỡ nhà lấy đất lại và con của chị nhưng là cháu nội của người ta, người ta phải giữ lại để nối dõi tông đường… đó là phong tục xưa nay buộc chị phải thực hiện.

Trước tình hình như vậy, Tổ hoà giải giải thích rằng không có phong tục, tập quán nào ở địa phương quy định như vậy. Trường hợp của chị, chồng đã chết và đã thủ tiết thờ chồng 10 năm thì việc tái giá là điều pháp luật không cấm. Người nào cố tình ngăn cản hôn nhân tự nguyện của họ là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý.

Sau khi nghe hoà giải viên trình, bày đại diện bên nhà chồng của chị trình bày: “áo mặc sao qua khỏi đầu, tui đâu có cản nó có chồng nhưng ai muốn vô ở trong nhà, trong đất này phải qua chúng tôi chứ! Không nói gì nữa cả, có chồng theo chồng, dỡ nhà trả đất lại cho tui, đi đâu đi, ở đâu ở, cháu nội tui để lại đây nối dõi cho tông đường nhà tui…

Một hoà giải viên Tổ hoà giải nhẹ nhàng phân tích: “Thím nói xong rồi phải không, vậy thím cho tôi hỏi: Một là cái nhà thím cho vợ chồng con trai thím cất ở phải không? Hai là 5 công đất, thím cũng cho vợ chồng nó mười mấy năm nay chứ gì? Và hiện tại Sổ hộ khẩu và giấy chủ quyền đó do ai đứng tên?

Đại diện bên nhà chồng cho rằng “Ừ ! Thì cho vợ chồng nó, chồng nó đứng tên, nhưng chồng nó đã chết rồi không cho ai khác vô được!”.

Nghe tới đây, Tổ trưởng Tổ hoà giải mỉm cười và nói nhỏ nhẹ: “Thím hãy nghe tôi nói đây: Thứ nhất, quyền làm mẹ và được nuôi con của người phụ nữ luôn được pháp luật bảo vệ. Thứ hai, nhà và đất gia đình đã cho con và dâu mười mấy năm rồi, chồng chết thì vợ, con là người trong hộ sẽ thừa kế theo quy định của pháp luật… hơn nữa là cha mẹ cho con cháu không hết, chắc thím giận mà nói vậy thôi chứ ai cho đã lâu nay rồi nay lại đòi phải không..?”

Thấy đại diện bên chồng có vẻ ngượng ngùng, lúng túng, Tổ trưởng Tổ hoà giải mừng thầm vì câu chuyện sắp đến hồi kết nhưng lại có ý kiến “Con nó thừa kế thì giao nhà, đất cho nó!”. Tổ hoà giải buộc phải phân tích thêm: “Tài sản chung của vợ chồng, chồng chết thì vợ thừa kế, con nó còn quá nhỏ, chưa được 10 tuổi làm sao giao được”. Bên chồng của chị ấy lại có ý kiến khác: “Nó còn nợ tui 5 chỉ vàng…” “Mượn thì phải trả” – Tổ trưởng Tổ hoà giải giải thích và người chị dâu này chấp nhận.

Tổ hoà giải tiếp tục phân tích những tình cảm tốt đẹp giữa mẹ chồng, nàng dâu; ông bà và cháu nội… ai nuôi rồi nó cũng nối dòng, nhưng… “Có chi bằng cơm với cá, có chi bằng má với con” và khuyên bên chồng nên để cho chị được nuôi con của mình, đất đai sau này cũng cháu nội bà hưởng chứ ai…

Sau khi nhận rõ tình lý, phải trái, bên chồng đã đồng ý không đòi đất, dỡ nhà của nàng dâu và không ép chị phải giao con hay đuổi đi nữa và Tổ hoà giải cũng khuyên chị “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, dù có chồng khác cũng phải nhớ công ơn cha mẹ chồng này đã giúp đỡ, thương mình như con nên phải có trách nhiệm báo đáp công ơn đó.

Cuộc hoà giải thành công mà phần lớn nhờ Tổ hoà giải đã áp dụng cách phân tích thấu tình, đạt lý kết hợp với nội dung pháp luật phù hợp, giúp người trong cuộc tự nhận ra lẽ phải, cảm thông nhau và thoả thuận không tranh chấp với nhau.

24. Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà trong việc thoát nước mưa

Đó là câu chuyện tranh chấp giữa gia đình nhà ông T và ông Q. Nguyên nhân là do nhà ông Q xây ô văng đua ra ngoài ngõ đến hơn 1 mét, điều này làm nước mưa trên mái nhà ông Q đổ xuống ngõ cản trở sự đi lại của gia đình ông T và các hộ gia đình bên trong. Mâu thuẫn kéo dài, ông Q cứ khăng khăng khẳng định đất móng nhà ông xây đúng với ranh giới còn phần ô văng ông xây đua ra không làm ảnh hưởng gì đến ai. Từ việc kém nhận thức của ông Q nên dẫn đến mâu thuẫn kéo dài. Biết được sự việc trên, tổ hoà giải đã đến gặp gỡ, vận động, phân tích cho các bên liên quan hiểu về các quy định của pháp luật dân sự như: Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa, lắp đặt đường ống dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà của mình không được chảy xuống bất động sản liền kề hoặc chảy ra lối đi, đồng thời yêu cầu gia đình ông Q phải phá bỏ ô văng đã xây đua ra. Qua hoà giải, hai gia đình đã đi đến thống nhất là gia đình ông Q phải xây ngăn và làm ống dẫn nước xả vào vị trí trên đất nhà mình. Sự việc này đã được tổ hoà giải thực hiện một cách công phu, kiên trì thuyết phục đã làm cho gia đình ông Q hiểu được việc làm sai của mình và có biện pháp khắc phục.

25. Tranh chấp lối đi chung

Do cùng đi chung một ngõ nên khi hai gia đình ông D và T (là hai anh em con chú con bác cùng theo đạo Thiên chúa giáo) có tranh chấp về phần ngõ đi chung. Ông D không cho gia đình ông T đi với lý do phần ngõ trước đây là của gia đình ông. Còn ông T thì cho rằng ngõ là của chung hai nhà nên bây giờ phải chia đôi. Mâu thuẫn giữa hai nhà rất căng thẳng khi mùa vụ vừa qua nhà ông D cố tình không cho ông T phơi rơm rạ, thậm chí đã xảy ra xô xát. Sau đó, ông D chia ra, nhà ông hai phần còn nhà ông T một phần. Gia đình ông T không đồng ý và đòi chia đôi ngõ. Mâu thuẫn gia tăng khi sáng hôm sau phần tường nhà ông D xây bị đổ, ông D cho rằng ông T đã phá đổ tường nên chửi bới và quyết định không cho gia đình ông T đi qua nữa, còn ông T nói rằng mình không xô đổ tường mà do tường tự đổ… ông T làm đơn nhờ chính quyền can thiệp.

Sau khi xem xét sự việc, Uỷ ban nhân dân xã đã chuyển vụ việc trên cho Tổ hoà giải xóm 6 xem xét giải quyết. Tổ hoà giải xóm đã họp các thành phần trong tổ gồm Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh để bàn cách giải quyết và thống nhất giao cho ông C là Tổ trưởng kiêm Bí thư chi bộ giải quyết. Sau khi xem xét nguồn gốc sự việc ông C đã chủ động gặp gia đình ông D và T, lập biên bản về sự việc giữa hai bên, đồng thời phân tích cho hai ông thấu tình đạt lý. Biết hai ông đều theo đạo Thiên chúa giáo, ông đã vận dụng những quy định ngay trong tín ngưỡng của họ để giải thích cũng như tình làng nghĩa xóm “bán anh em xa mua láng giềng gần” huống chi hai ông đều là anh em thì những xung đột như vậy sẽ đánh mất đi tình cảm gia đình; mặt khác, ông vận dụng những quy định của pháp luật trong Bộ luật dân sự về Quyền lối đi qua bất động sản liền kề để giải thích, giúp cho mọi người thấy được trách nhiệm của chính bản thân mình trong việc thực hiện các quy định của pháp luật mà mỗi người công dân phải làm.

Nhờ sự kiên trì cũng như cách vận dụng hoà giải một cách linh hoạt mà hai gia đình ông D và T đã hiểu ra được ý nghĩa của tình anh em, trách nhiệm của người công dân, họ đã vui vẻ và tuyên bố cùng giữ lại phần ngõ đi chung đó như biểu hiện tình đoàn kết…

26. Thay đổi thế chấp bằng bảo lãnh

Ngày 10/2/2001, vợ chồng ông H đã thế chấp quyền sở hữu căn nhà của mình cho vợ chồng ông N để vay 200 triệu đồng. Hợp đồng được Uỷ ban nhân dân huyện X chứng thực. Tháng sau, do thiếu vốn kinh doanh, vợ chồng ông H đã bán căn nhà cho bà L (em vợ ông H) với giá 200 triệu đồng (mặc dù có người trả giá 250 triệu đồng) với điều kiện bà L sẽ dùng quyền sở hữu căn nhà trên bảo lãnh cho vợ chồng ông H tiếp tục giữ nguyên số tiền 200 triệu đồng vay của ông N. Vợ chồng ông N đồng ý nhận việc bảo lãnh của bà L, thủ tục bảo lãnh được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân huyện X.

Đầu năm 2002, hợp đồng đến hạn, vợ chồng ông H làm ăn thua lỗ, không có khả năng thanh toán cho vợ chồng ông N. Vợ chồng ông N đã yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá căn nhà để thanh toán nợ. Bà L khởi kiện vợ chồng ông H. Các bên mâu thuẫn với nhau trầm trọng.

Khi được giao hòa giải vụ việc, hòa giải viên Tổ hoà giải đã nhận thấy đây là trường hợp thay đổi thế chấp bằng bảo lãnh và các bên đã thực hiện theo đúng thủ tục pháp luật quy định.

Các hợp đồng đều được Uỷ ban nhân dân huyện X chứng thực.

Nội dung hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận của các bên.

Trong thời hạn thế chấp còn hiệu lực, bên thế chấp đã bán tài sản cho người khác, đồng thời thay việc thế chấp bằng việc bảo lãnh tài sản để đảm bảo số tiền vay và có sự thỏa thuận của các bên.

Căn cứ vào quy định tại Điều 358 của Bộ luật dân sự năm 1995 về thay đổi thế chấp bằng bảo lãnh, hòa giải viên đã giải thích cho bà L là bà là người bảo lãnh số tiền vay 200 triệu đồng của ông H. Khi ông H không có khả năng trả nợ, bà L có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên cho vợ chồng ông N là đúng theo quy định của pháp luật. Nếu bà L không thực hiện nghĩa vụ, vợ chồng ông N có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu bà L thanh toán số tiền ông H vay kể cả lãi suất. Nếu việc thanh toán không được thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền sử dụng biện pháp cưỡng chế, bán đấu giá ngôi nhà để thanh toán khoản nợ của vợ chồng ông H. Vợ chồng ông H có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền mà bà L đã bảo lãnh.

Tuy nhiên số tiền nợ của vợ chồng ông H quá lớn so với khả năng trả nợ. Các bên không thể tự thỏa thuận với nhau. Vụ việc hòa giải không thành.

27. Không thiện chí giải quyết mâu thuẫn

Trưa đi làm về bà R xuống bếp lấy nước nấu cơm thì thấy trong chum đựng nước của nhà mình đầy đất, bà hỏi các con thì được biết là con nhà bà L người hàng xóm đổ vào.

Khi vừa thấy con nhà bà L đứng bên hè nhà, Bà R bẻ cành cây quất mấy cái vào mông ba đứa trẻ và nói: “ từ sau không được làm như vậy nữa”. Đi làm về thấy con khóc, bà L hỏi và được biết là bị bà R đánh. Trong lúc bực tức bà L nhìn thấy bà R đang gánh nước ở giếng chung của thôn, bà liền hỏi: “tại sao chị đánh con tôi?” và giằng đòn gánh đánh vào người bà R. Sau khi bị đánh, bà R đã đến bệnh viện để chụp phim, mua thuốc và thuê xe ôm hết 80.000đồng. bà R yêu cầu bà L phải thanh toán số tiền 80.000đồng và 200.000đồng tiền bồi dưỡng sức khoẻ cho mình, nhưng bà L không đồng ý. Do yêu cầu không được đáp ứng, bà R làm đơn gửi đến Uỷ ban nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân chỉ đạo Ban Tư pháp xã chuyển đơn về Tổ hoà giải thôn 8 để giải quyết lần đầu. Vì không hài lòng cách ăn nói tục tĩu của bà L và sợ làm mất lòng tin một trong hai bên nên Tổ hoà giải thôn đã chậm tiến hành các bước cần thiết để tiến hành một cuộc hoà giải.

Yêu cầu của mình chưa được giải quyết, lại liên tục bị bà L đe dọa nên bà R lại tiếp tục gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã giao cho Tổ hoà giải cấp xã tiến hành hoà giải.

Sau khi nhận được hồ sơ, Tổ hoà giải có đại diện của Hội phụ nữ, Hội nông dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã cùng tham gia. Tổ hoà giải đã phân tích những sai trái của các bên như sau:

Về phía bà R đánh con bà L là sai, đáng chê trách nhưng bà R cũng chỉ đánh nhẹ mang tính chất răn đe mấy đứa nhỏ, không ảnh hưởng gì đến sức khoẻ của bọn chúng. Về phía bà L dùng đòn gánh đánh bà R gây thương tích nhẹ là vi phạm pháp luật, nếu gây thương tích nặng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự…hơn nữa về mặt tình cảm hai gia đình là hàng xóm của nhau, hai bên nên bỏ qua những mâu thuẫn nhỏ để sống hoà thuận làm gương cho con cháu.

Về phần bồi thường: bà L có trách nhiệm trả cho bà R 80.000 đồng số tiền chi phí cho việc chụp phim, mua thuốc và thuê xe ôm.

Qua sự khuyên giải và phân tích của Tổ hoà giải nhưng bà R vẫn không đồng ý với cách hoà giải đó vì bà cho rằng Tổ hoà giải và chính quyền địa phương có phần bênh vực cho bà L mà không bảo vệ quyền lợi cho bà. Hơn nữa, bà R cho rằng mình là người dân tộc thiểu số ít anh em họ hàng dễ bị bà L đánh vào bất kỳ lúc nào. Do đó, bà R tiếp tục làm đơn gửi công an huyện đề nghị công an huyện giải quyết buộc bà L phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo đúng yêu cầu của mình.

Lý do hoà giải không thành:

– Hoà giải viên chưa nhiệt tình với công việc, còn ngại va chạm, còn nể nang mà không kịp thời hoà giải để các bên thông cảm, bỏ qua cho nhau.

– Hoà giải viên còn hạn chế về hiểu biết phong tục, tập quán của người cần hoà giải để đưa ra lời khuyên giải cho phù hợp với pháp luật và phong tục.

– Các bên tranh chấp chưa có thiện chí với nhau cùng giải quyết mâu thuẫn của mình.

28. Tranh chấp quyền sử dụng đất

Ông E thoả thuận sang nhượng cho bà T hai khu đất: phần đất vườn và đất bãi bồi tọa lạc tại BH3 và MK (là phần bãi bồi thì hai bên không tranh chấp vì phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sự việc tranh chấp đất vườn diễn ra như sau:

Hai bên thoả thuận tự đo ngang 23 mét, dài 30 mét và tính theo diện tích khoảng chừng 690 m2, sau đó hai người làm giấy thỏa thuận (viết tay) với diện tích trên. Bà T ứng trước cho ông E 10.000.000đ. Sau đó, hai bên đến địa chính xã để làm hợp đồng sang nhượng và đã ký tên vào toàn bộ hồ sơ nhưng trong hợp đồng không đề rõ diện tích mà chỉ thoả thuận với nhau và tiến hành cắm mốc giới theo thực tế khu đất, đợi khi thuê đo đạc xong thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên mua.

Sau khi hoàn thành thủ tục đo đạc, bà T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 865,40 m2, chứ không như diện tích đã được thể hiện trong giấy viết tay trước đây là 690m2. Nên ông E không chấp nhận, tranh chấp xảy ra.

Sau khi xác minh và đưa ra hoà giải, với sự việc trên thì thực tế quá trình làm hợp đồng sang nhượng ông E đã thực hiện ký tên đầy đủ vào hợp đồng. sau khi thuê đo đạc xong ông E cũng không có khiếu nại gì về diện tích, đến khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông lại khiếu nại và căn cứ vào tờ thoả thuận. Ban hoà giải đã giải thích cho bên bán hiểu rõ về quy trình sang nhượng và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải căn cứ vào hợp đồng có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã và vận động hai bên tự thương lượng nhưng không đi đến thống nhất và ông E yêu cầu được chuyển vụ việc đến Toà án để giải quyết.

29. Chia đất công

Ông C và cô H là hai anh em ruột. Năm 2000, cô H kết hôn với N. Năm 2001, gia đình ông C đã bàn bạc và thống nhất chia cho vợ chồng H một mảnh đất với diện tích là 60m2 là (đất không chuyên dùng) đất thuộc quỹ đất Quốc phòng, nên mảnh đất của gia đình ông C không được cấp bìa đỏ. Đến năm 2003 thì mâu thuẫn xảy ra, do ông C nghi ngờ ông N (em rể) có quan hệ bất chính với vợ mình, nên ông C đã đòi lại mảnh đất và ông N, ông C thường xuyên cãi vã, gây mất trật tự an ninh của thôn.

Tổ hoà giải đã phân tích rõ cho ông C thấy rằng đây là mảnh đất thuộc quỹ đất quốc phòng, nhưng vì gia đình ông đến cư trú đã lâu và chưa có đất để di chuyển gia đình ông đi nơi khác, do vậy thời gian này tạm thời để gia đình ông ở trên mảnh đó. Gia đình ông không được quyền sử dụng mảnh đất đó (không được cấp sổ đỏ).

– Gia đình ông chia cho vợ chồng H mảnh đất 60m2 là sai vì đây là thuộc quỹ đất quốc phòng nên chỉ được phục vụ vào lợi ích quốc gia.

– Việc ông nghi ngờ ông N quan hệ bất chính với vợ mình phải xem xét có thật hay không phải có chứng cứ rõ ràng.

– Việc ông C và ông N thường xuyên cãi vã là sai, ông N là em rể phải xử sự theo đạo làm em, việc 2 ông cãi nhau đã gây mất trật tự xóm làng, làm tổn hại đến tư tưởng tình cảm anh em nội bộ trong gia đình, như thế thì không giải quyết vấn đề gì.

– Anh em cãi nhau, thì ông N nên chủ động xin lỗi ông C không nên “để cái sảy, nảy cái ung” mâu thuẫn chồng chéo dễ dẫn đến hậu quả khôn lường.

Mặc dầu đã tiến hành hoà giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn của hai gia đình càng trở nên gay gắt, ông C làm đơn kiện ra Toà án huyện.

SOURCE: http://nghiepvu.moj.gov.vn/xembai.aspx?nv=83

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: