GIỚI THIỆU LUẬT LUẬT SƯ

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT LUẬT SƯ
Pháp lệnh luật sư năm 2001 (thay thế Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987) là một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế về luật sư ở nước ta.
Sau 5 năm thi hành Pháp lệnh luật sư, đội ngũ luật sư ở nước ta đã và đang phát triển nhanh về số lượng, tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề cũng từng bước được nâng cao. Tính đến tháng 6 năm 2006 tổng số luật sư trong cả nước đã là 4.032, tăng 2 lần so với tổng số luật sư có được sau hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987. Một kết quả rất quan trọng nữa là Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã tạo điều kiện thuận lợi mở rộng và phát triển hoạt động hành nghề của các luật sư. Chỉ trong thời gian chưa đầy 5 năm, 961 Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã được thành lập và đăng ký hoạt động.

Hoạt động luật sư trong thời gian qua không những đã đáp ứng kịp thời nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của cá nhân, tổ chức; góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, mà còn góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng phải thấy rằng, trong tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư hiện nay vẫn còn một số hạn chế sau đây:
Thứ nhất, số lượng luật sư hiện có so với dân số cả nước vẫn còn quá thấp. Tính đến ngày 31/6/2006, cả nước có 4070 luật sư (trong đó có 2409 luật sư có chứng chỉ hành nghề luật sư và 1660 luật sư tập sự). Sự phát triển số lượng luật sư chủ yếu tập trung ở các thành phố, đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã gây ra sự mất cân đối lớn về số lượng luật sư giữa các vùng, miền.
Thứ hai, chất lượng đội ngũ luật sư hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế. Đa số các luật sư hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề nói chung và kỹ năng tranh tụng nói riêng. Số lượng luật sư, tổ chức hành nghề luật sư có hiểu biết về kiến thức pháp luật quốc tế, có kinh nghiệm hành nghề trong môi trường quốc tế, có trình độ ngoại ngữ giỏi và hành nghề chuyên sâu trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế còn ít.
Thứ ba, việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề luật sư vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với mỗi cá nhân luật sư trong hành nghề và trong cuộc sống, thậm chí có luật sư vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Thứ tư, nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư còn chưa được thực hiện tốt trong thực tiễn. Nhiều Đoàn luật sư địa phương còn hạn chế về năng lực và điều kiện thực tế để phát huy đầy đủ vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong quản lý luật sư và tổ chức hành nghề luật sư. Tổ chức luật sư toàn quốc với tư cách là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi toàn quốc để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư trong hành nghề đang trong quá trình chuẩn bị thành lập. Trong khi đó, Nhà nước không thể làm thay công việc của Đoàn luật sư, không thể can thiệp vào các hoạt động có tính chất tự quản  của luật sư. Do vậy, trong quản lý hành nghề luật sư, vẫn còn tình trạng thiếu tập trung, thiếu thống nhất từ phía tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
Thứ năm, tổ chức và hoạt động của luật sư Việt Nam và việc hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam, về cơ bản, vẫn đang được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt. Việc tách rời các quy định về luật sư Việt Nam và hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam không những hạn chế mối liên kết giữa luật sư Việt Nam và  luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến nguyên tắc đối xử quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý trong điều kiện đàm phán gia nhập WTO.
Thứ sáu, các cơ quan nhà nước, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội còn chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của luật sư, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển số lượng luật sư và hiệu quả của hoạt động hành nghề luật sư.
Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thì phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đủ về số lượng là một trong những nội dung quan trọng. Đổi mới tổ chức và hoạt động luật sư không những phải theo định hướng phục vụ tốt hơn yêu cầu của hoạt động tư pháp nói chung, của hoạt động xét xử nói riêng, mà còn là nhân tố quan trọng hỗ trợ các quan hệ kinh tế thị trường phát triển.
Trước yêu cầu của tình hình mới, đặc biệt là khi Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập WTO, thì việc ban hành Luật Luật sư, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh thống nhất về hành nghề luật sư của luật sư Việt Nam và luật sư nước ngoài tại Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG LUẬT LUẬT SƯ
1. Thể chế hoá Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Tăng cường trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong hành nghề, đặc biệt là việc tuân thủ pháp luật, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật hành nghề; đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của luật sư.
3. Phân định rõ và hợp lý giữa công tác quản lý nhà nước về luật sư và chế độ tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư theo hướng Nhà nước chỉ làm những gì thuộc về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, tổ chức xã hội – nghề nghiệp phát huy vai trò tự quản đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.
4. Kế thừa những quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22/7/2003 của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam với những sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động luật sư.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT LUẬT SƯ
Nếu như nói Pháp lệnh luật sư năm 2001 là bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế luật sư ở nước ta, đưa chế định luật sư của nước ta xích gần với thông lệ quốc tế, thì Luật Luật sư được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 tiếp tục hoàn thiện chế định luật sư. Luật Luật sư ra đời với hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ góp phần nâng cao vị trí của luật sư và nghề luật sư trong xã hội, tạo thuận lợi lớn cho hoạt động hành nghề của các luật sư nhằm góp phần đắc lực hơn nữa trong sự nghiệp bảo vệ công lý, hội nhập và phát triển kinh tế, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Luật Luật sư không chỉ nâng cao vị thế của luật sư trong xã hội, mà còn nhằm đưa luật sư của nước ta từng bước lên ngang tầm với luật sư của các nước trên thế giới và trong khu vực.
Luật Luật sư bao gồm 9 chương với 94 điều
Chương I- Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 9);
Chương II- Luật sư  (từ Điều 10 đến Điều 21);
Chương III- Hành nghề luật sư  (từ Điều 22 đến Điều 53);
Chương IV- Thù lao và chi phí; tiền lương theo hợp đồng lao động thanh toán chi phí (từ Điều 54 đến Điều 59);
Chương V- Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư (từ Điều 60 đến Điều 67);
Chương VI- Hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam (từ Điều 68 đến Điều 82);
Chương VII- Quản lý hành nghề luật sư (Điều 83 và Điều 84);
Chương VII- Xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp (từ Điều 85 đến Điều 92);
Chương IX- Điều khoản thi hành (Điều 93 và Điều 94).

1. Về phạm vi điều chỉnh của Luật Luật sư

Luật Luật sư quy định những vấn đề cơ bản về luật sư và hành nghề luật sư như: tiêu chuẩn luật sư, điều kiện hành nghề luật sư, hoạt động hành nghề luật sư, hình thức hành nghề của luật sư, hình thức tổ chức hành nghề luật sư; hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam; thù lao và thanh toán chi phí; tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư; quản lý hành nghề luật sư.
Như vậy, một trong những điểm mới của Luật Luật sư so với Pháp lệnh luật sư năm 2001 là việc đưa quy định về hành nghề của luật sư nước ngoài, tổ chức hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam vào phạm vi điều chỉnh của Luật Luật sư. Luật Luật sư đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, theo đó những quy định về việc hành nghề của luật sư nước ngoài, tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Luật sư. Về vấn đề này, trong khi xây dựng Pháp lệnh luật sư năm 2001 cũng đã có ý kiến đề xuất; song do lúc đó chưa được nhiều ý kiến đồng tình nên chưa đưa vào Pháp lệnh. Tuy nhiên, Điều 43 của Pháp lệnh cũng đã đề cập đến việc hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam và giao cho Chính phủ quy định về vấn đề này. Căn cứ vào Điều 43 của Pháp lệnh, ngày 22 tháng 7 năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2003/NĐ-CP về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Luật Luật sư dành một chương quy định về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

2. Về tiêu chuẩn luật sư, điều kiện hành nghề luật sư
a. Tiêu chuẩn luật sư (Điều 10)
Tiêu chuẩn luật sư là một trong những điểm mới của Luật Luật sư so với Pháp lệnh luật sư năm 2001. Theo Luật Luật sư, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.
b) Điều kiện hành nghề luật sư (Điều 11)
Kế thừa quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định người muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư. Quy định này nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp của nghề luật sư, phòng ngừa tình trạng những người không có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn thực hiện dịch vụ pháp lý như luật sư, góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và xã hội, tăng cường quản lý về hành nghề luật sư. Điều kiện này cũng được pháp luật về hành nghề luật sư của nhiều nước trên thế giới quy định.
3. Về quy trình trở thành luật sư

a) Quy trình trở thành luật sư (từ Điều 12 đến Điều 17)
Theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, một người đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện luật định phải gia nhập Đoàn luật sư của địa phương nơi cư trú để tập sự hành nghề luật sư với tư cách là luật sư tập sự. Sau khi kết thúc thời gian tập sự 24 tháng và đạt yêu cầu kỳ kiểm tra hết tập sự, luật sư tập sự được Đoàn luật sư đề nghị Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư được coi là luật sư chính thức và được hành nghề luật sư.
Trong thực tiễn thi hành, quy định này của Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã bộc lộ một số bất cập.
Theo quy định này, người chưa có Chứng chỉ hành nghề luật sư (một trong những điều kiện hành nghề luật sư) lại được gia nhập Đoàn luật sư với tư cách luật sư tập sự. Điều này không phù hợp với tính chất của nghề luật sư là một người muốn hành nghề luật sư thì trước hết phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận có đủ khả năng chuyên môn thông qua việc được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Mặt khác, trong trường hợp luật sư tập sự không đạt yêu cầu của kỳ kiểm tra hết tập sự, vì thế, không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, thì địa vị pháp lý của họ không thực sự rõ ràng.
Để khắc phục bất cập nói trên, Luật Luật sư quy định quy trình trở thành luật sư theo hướng một người đáp ứng đủ các điều kiện luật định có thể đăng ký việc tập sự hành nghề luật sư tại một Đoàn luật sư để tập sự hành nghề luật sư. Sau khi hoàn thành thời gian tập sự, người đó được tham dự kỳ kiểm tra hết tập sự để đánh giá khả năng hành nghề luật sư do Đoàn luật sư tổ chức. Người đạt yêu cầu kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư và người được miễn thời gian tập sự hành nghề luật sư thì được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.
Người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư gia nhập một Đoàn luật sư địa phương do mình lựa chọn để hành nghề. Như vậy, sau khi có Chứng chỉ hành nghề luật sư, người đó phải được gia nhập Đoàn luật sư thì mới được coi là luật sư và được phép hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật. Đoàn luật sư cấp Thẻ luật sư cho người được gia nhập Đoàn luật sư theo mẫu do tổ chức luật sư toàn quốc hướng dẫn thống nhất.
b) Tập sự hành nghề luật sư (Điều 14)
Quy định về việc tập sự hành nghề luật sư là một điểm mới của Luật Luật sư so với Pháp lệnh luật sư năm 2001. Luật Luật sư thay chế định “luật sư tập sự” theo quy định của Pháp lệnh luật sư bằng chế định “người tập sự hành nghề luật sư”.Theo đó, người đã tốt nghiệp khoá đào tạo nghề luật sư có thể lựa chọn một tổ chức hành nghề luật sư để tập sự và phải đăng ký việc tập sự tại Đoàn luật sư địa phương nơi tổ chức hành nghề luật sư mà mình tập sự đăng ký hoạt động.
Người tập sự hành nghề không được nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng; chỉ được thực hiện những công việc do luật sư hướng dẫn phân công và chịu trách nhiệm trước luật sư hướng dẫn về những công việc đó. Luật sư hướng dẫn chịu trách nhiệm trước khách hàng và trước pháp luật về kết quả những công việc mà mình đã phân công cho người tập sự.
Bộ Tư pháp phối hợp với tổ chức luật sư toàn quốc ban hành quy chế tập sự hành nghề luật sư, trong đó quy định cụ thể về chế độ tập sự, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề nhận người tập sự, luật sư hướng dẫn và cá nhân người tập sự. Đoàn luật sư địa phương có trách nhiệm giám sát việc tuân theo quy chế tập sự hành nghề luật sư.
Người đã hoàn thành thời gian tập sự thì được tham dự kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với tổ chức luật sư toàn quốc tổ chức. Những người được miễn thời gian tập sự hành nghề luật sư thì không phải tham dự kỳ kiểm tra.
Quy định này có ưu điểm là phân định rõ việc tập sự hành nghề (giai đoạn học việc) của người tập sựvà hoạt động hành nghề của luật sư, khắc phục tình trạng vừa tập sự vừa hành nghề gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng. Hơn nữa, quy định này bảo đảm được sự thống nhất giữa quy định của Luật Luật sư với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định của hai Bộ luật này, thì chỉ luật sư mới được tham gia tố tụng, chứ không có quy định về luật sư tập sự. Mặt khác, quy định này cũng khắc phục được các hạn chế, bất cập khi thực hiện quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 về việc tập sự của luật sư tập sự trong thời gian qua.
c) Gia nhập Đoàn luật sư (Điều 20)
Kế thừa Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư để hành nghề luật sư. Người được gia nhập Đoàn luật sư thì được tổ chức luật sư toàn quốc cấp Thẻ luật sư, có các quyền, nghĩa vụ của luật sư .
Luật Luật sư quy định người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư có thể gia nhập bất cứ Đoàn luật sư địa phương nào nơi mình dự kiến sẽ hành nghề thường xuyên tại đó mà không phụ thuộc vào nơi đăng ký hộ khẩu hay nơi thường xuyên sinh sống của người đó. Quy định này phù hợp với tính chất của nghề luật sư là nghề tự do, các luật sư có thể tự do lựa chọn nơi hành nghề trong phạm vi toàn quốc. Về thực tế, phương án này khắc phục được vướng mắc trong việc gia nhập Đoàn luật sư theo nơi cư trú quy định tại Pháp lệnh luật sư năm 2001. Phương án này cũng tính đến xu hướng bỏ quy định về hộ khẩu trong các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân.
Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả của công tác quản lý về luật sư và hành nghề luật sư, Luật Luật sư quy định luật sư chỉ được thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư, làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà mình là thành viên.
4. Quyền, nghĩa vụ của luật sư; những hành vi bị nghiêm cấm đối với luật sư (Điều 21, Điều 9)
Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề thành Điều riêng. Các quyền, nghĩa vụ này mang tính bao quát và được cụ thể hoá trong từng lĩnh vực hành nghề của luật sư quy định tại Mục I Chương III của Luật Luật sư. Đồng thời, để tăng cường trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, Luật Luật sư quy định các hành vi cụ thể bị nghiêm cấm đối với luật sư như:
a) Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ, việc;
b) Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;
c) Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;
d) Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;
đ) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;
e) Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;
g) Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khoản 2 Điều 9 Luật Luật sư đã đưa vào quy định cấm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư. Đây là điểm mới của Luật Luật sư so với Pháp lệnh luật sư năm 2001.
5. Về hoạt động hành nghề của luật sư (Mục I, Chương III)
Những quy định về hoạt động hành nghề của luật sư theo Luật Luật sư có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh luật sư và được xây dựng trên quan điểm chỉ đạo là cụ thể hoá quyền, nghĩa vụ của luật sư trong từng lĩnh vực hành nghề, quy định rõ hơn cơ chế pháp lý bảo đảm cho luật sư thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, đồng thời đề cao trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong quá trình hành nghề.
Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo nói trên, Luật Luật sư mở rộng hơn phạm vi hành nghề của luật sư, theo đó, ngoài việc tham gia tố tụng, làm tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác như quy định của Pháp lệnh luật sư, Luật Luật sư còn cho phép luật sư được đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật. Theoquy định này thì khi đã giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng (hoặc hợp đồng lao động với cơ quan, tổ chức) luật sư đương nhiên được đại diện cho khách hàng (hoặc cơ quan, tổ chức) để giải quyết các công việc theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng (hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức), trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.  Đây là điểm mới, tiến bộ, làm tăng thêm đáng kể quyền của luật sư trong hành nghề, giúp gắn kết hơn quan hệ luật sư với khách hàng, thông qua đó luật sư sẽ giúp khách hàng một cách hiệu quả hơn rất nhiều. Quy định mới này là phù hợp với xu hướng mở rộng dân chủ, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài ra, Luật Luật sư bổ sung một mục gồm 10 điều quy định về hoạt động hành nghề của luật sư, trong đó quy định cụ thể về nội dung, quyền, nghĩa vụ của luật sư trong từng lĩnh vực hoạt động bao gồm hoạt động tham gia tố tụng, hoạt động đại diện ngoài tố tụng, hoạt động tư vấn pháp luật, các hoạt động dịch vụ pháp lý khác. Quy định về hoạt động tham gia tố tụng của luật sư (Điều 27) được đặc biệt quan tâm, bởi quy định này đã góp phần tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho các luật sư và các cơ quan tố tụng trong việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng cho luật sư, từ đó tạo rất nhiều thuận lợi cho các luật sư ngay từ đầu cũng như trong suốt quá trình thực hiện bào chữa hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng.
6. Về hình thức hành nghề của luật sư (Điều 23)
Theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, luật sư chỉ được hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư (thành lập hoặc tham gia thành lập Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh hoặc làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư, kể cả tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam). Quy định này về cơ bản là phù hợp với thông lệ nghề luật sư và có tính khả thi trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển của nghề luật sư. Tuy nhiên, với yêu cầu mở rộng, phát triển dịch vụ pháp lý của luật sư trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu sắc và mạnh mẽ hiện nay, thì quy định về hình thức hành nghề như Pháp lệnh luật sư đã tỏ ra không còn phù hợp. Thực tiễn cho thấy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đặc biệt là doanh nghiệp đang thực sự có nhu cầu tuyển dụng luật sư làm việc cho mình với tư cách là luật sư riêng (in-house lawyer) để giúp giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan. Ngoài ra, xét về tính chất, thì nghề luật sư là một nghề tự do, các luật sư có thể tự do lựa chọn hình thức hành nghề phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của mình. Trong hành nghề, luật sư hoạt động độc lập trên cơ sở pháp luật và tuân theo pháp luật. Do đó, ở nhiều nước trên thế giới còn tồn tại cả hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân.
Từ thực tiễn nói trên, Luật Luật sư mở rộng hình thức hành nghề của luật sư, theo đó luật sư không chỉ hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư như quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, mà còn được phép hành nghề với tư cách cá nhân dưới hình thức tự mình nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, hoặc làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động hành nghề và hoạt động theo mô hình hộ kinh doanh cá thể. Luật Luật sư có một mục riêng gồm 5 điều quy định về địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và thủ tục đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân.
7. Về hình thức tổ chức hành nghề luật sư (từ Điều 32 đến Điều 34)
Luật Luật sư đã tiến một bước dài theo hướng đưa các tổ chức hành nghề luật sư xích lại gần với các loại hình doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Luật sư thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm:
– Văn phòng luật sư là tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư  thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân;
– Công ty luật bao gồm Công ty luật hợp danh và Công ty luật trách nhiệm hữu hạn. So với Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư đã quy định thêm loại hình Công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Hơn nữa , để phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư còn quy định Công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể là Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Văn phòng luật sư, Công ty luật có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật Luật sư, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
8. Thù lao và thanh toán chi phí

Về cơ bản, Luật Luật sư kế thừa các quy định tương ứng của Pháp lệnh luật sư năm 2001 về thù lao và thanh toán chi phí. Theo đó, thù lao luật sư chỉ áp dụng đối với luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân. Đối với luật sư làm việc cho tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức khác theo chế độ hợp đồng lao động thì được hưởng lương theo quy định của pháp luật về lao động.
Khách hàng và tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý về mức thù lao;đối với những vụ án hình sự mà luật sư tham gia tố tụng thì mức thù lao không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định.
9. Về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư (từ Điều 60 đến Điều 67)
Luật Luật sư đã quy định hệ thống tổ chức luật sư từ trung ương đến các địa phương, đó là Tổ chức luật sư toàn quốc và Đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Với việc quy định về Tổ chức luật sư toàn quốc và nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này, Luật Luật sư đã tăng cường đáng kể vai trò tự quản của tổ chức luật sư. Cụ thể là Tổ chức luật sư toàn quốc sẽ ban hành Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư ( thay thế Quy tắc mẫu do Bộ Tư pháp ban hành như hiện nay ); phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành quy chế tập sự hành nghề luật sư, đào tạo nghề luật sư, kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư. Tổ chức luật sư toàn quốc còn được giao quyền cấp, thu hồi Thẻ luật sư, quy định mẫu trang phục luật sư tham gia phiên toà… Việc tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề và tổng kết, trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư trong cả nước cũng thuộc thẩm quyền của Tổ chức luật sư toàn quốc. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật và các quyết định khác của Ban chủ nhiệm các Đoàn luật sư cũng được giao cho Tổ chức luật sư toàn quốc. Đoàn luật sư và Tổ chức luật sư toàn quốc tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Luật sư và Điều lệ của tổ chức mình. Điều lệ của Đoàn luật sư do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt, Điều lệ của Tổ chức luật sư toàn quốc do Bộ Tư pháp phê duyệt sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đây cũng là điểm mới trong Luật Luật sư.
10. Về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam (từ Điều 68 đến Điều 82)
So với Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư bổ sung một chương mới về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, của luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Về cơ bản, các quy định của Nghị định số 87/2003/NĐ-CP về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam là đầy đủ, phù hợp với thực tiễn nghề luật sư, thông lệ quốc tế và các cam kết của Việt Nam về lĩnh vực dịch vụ pháp lý trong khuôn khổ Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và phương án đàm phán gia nhập WTO. Do vậy, các quy định của Luật Luật sư về điều kiện, hình thức và phạm vi hành nghề, quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và của luật sư nước ngoài tại Việt Nam về cơ bản kế thừa quy định của Nghị định số 87/2003/NĐ-CP về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam với một số điểm mới sau đây :
Thứ nhất, theo quan điểm coi tổ chức hành nghề của luật sư  như loại hình doanh nghiệp đặc biệt, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, Luật Luật sư quy định Chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài, Công ty luật nước ngoài được tổ chức, hoạt động theo quy định của Luật Luật sư, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan (khoản 2 Điều 69 );
Thứ hai, mở rộng phạm vi hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam, theo đó Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam được cử luật sư Việt Nam trong Chi nhánh, Công ty mình tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cho khách hàng trước Toà án Việt Nam đối với các vụ, việc mà Chi nhánh, Công ty nước ngoài thực hiện tư vấn pháp luật, trừ vụ án hình sự ( Điều 70);
Quy định này có những ưu điểm sau đây:
+ Giảm bớt hạn chế về tiếp cận thị trường đối với tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập WTO của Việt Nam.
+ Tạo điều kiện thực tế cho các luật sư Việt Nam tham gia vào các vụ kiện mang tính chất quốc tế, qua đó có thể nâng cao kiến thức và kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp quốc tế.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam có thể tiếp nhận và thực hiện trọn gói vụ việc cho khách hàng, từ việc tư vấn đến cả giải quyết tranh chấp phát sinh tại Toà án Việt Nam.
Thứ ba, với quan điểm Luật Luật sư là văn bản điều chỉnh chunghoạtđộng hành nghề của luật sư Việt Nam và luật sư nước ngoài, nên việc hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc hành nghề luật sư, nghĩa vụ của luật sư theo quy định của Luật Luật sư và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư (điểm b, khoản 2 Điều 77).
11. Về quản lý hành nghề luật sư
Luật Luật sư quy định theo hướng phân định rõ giữa trách nhiệm của Nhà nước đối với luật sư, hành nghề luật sư và trách nhiệm của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư với tư cách là tổ chức tự quản của luật sư. Theo các quy định này, Nhà nước chỉ thực hiện những công việc thuộc về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước, còn những vấn đề về quản lý nghề nghiệp thì giao cho tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư thực hiện. Tuy nhiên, để bảo đảm nguyên tắc kết hợp giữa quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong quản lý hành nghề luật sư, Luật Luật sư quy định sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư và ngược lại trong việc thực hiện một số công việc quan trọng, chẳng hạn việc ban hành Quy chế tập sự hành nghề luật sư, đào tạo nghề luật sư, tổ chức kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư.
12. Về xử lý kỷ luật, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo (từ Điều 85 đến Điều 92)
Những quy định này của Luật Luật sư có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh luật sư. Luật Luật sư phân định rõ việc xử lý kỷ luật đối với luật sư, xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động hành nghề luật sư.
a) Về xử lý kỷ luật:
Luật Luật sư quy định cụ thể hình thức và thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật của Đoàn luật sư. Theo đó, việc xem xét, xử lý kỷ luật đối với luật sư do Đoàn luật sư thực hiện. Trong trường hợp luật sư bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư thì Đoàn luật sư phải thông báo bằng văn bản với Sở Tư pháp và đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, đề nghị tổ chức luật sư toàn quốc thu hồi Thẻ luật sư.
Ban thường vụ tổ chức luật sư toàn quốc có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý kỷ luật của Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư.
Trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Ban thường vụ tổ chức luật sư toàn quốc đối với hình thức kỷ luật quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 85 của Luật này, luật sư có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Thời hạn giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.
b) Về xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư:
Theo quy định của Luật Luật sư, việc xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước. Để bảo đảm sự chính xác, khách quan của việc xử lý vi phạm hành chính, đồng thời tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với hành nghề luật sư, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, tuân thủ pháp luật của luật sư trong hành nghề, Luật Luật sư quy định cụ thể hơn những hành vi vi phạm của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư. Cá nhân luật sư, tổ chức hành nghề luật sư vi phạm pháp luật nghiêm trọng sẽ bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hoặc Giấy đăng ký hoạt động.
Thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
13. Về quy định chuyển tiếp
Pháp lệnh luật sư năm 2001 mới được ban hành và thực hiện trong gần 5 năm. Về cơ bản, các quy định của Pháp lệnh là đúng hướng và phù hợp. Bởi vậy, việc chuyển tiếp đối với luật sư, tổ chức luật sư và hoạt động luật sư theo Luật Luật sư cần được thực hiện theo quan điểm kế thừa, tránh gây xáo trộn không cần thiết. Cụ thể như sau:
a) Người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 được tiếp tục hành nghề luật sư theo quy định của Luật này;
b) Người đang là luật sư tập sự theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 được tiếp tục tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật này; thời gian đã tập sự hành nghề luật sư được tính vào thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật này và Thẻ luật sư tập sự không còn giá trị;
c) Thẻ luật sư do Đoàn luật sư cấp theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 có giá trị cho đến khi được đổi thẻ mới; tổ chức luật sư toàn quốc hướng dẫn việc đổi Thẻ luật sư;
d) Trong thời hạn sáu tháng, văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh đã được cấp Giấy đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 phải thực hiện thủ tục chuyển đổi thành văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh theo quy định của Luật này.
Bộ Tư pháp hướng dẫn việc chuyển đổi đối với các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh đã được cấp Giấy đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001;
đ) Trong thời hạn sáu tháng, cá nhân, tổ chức đang kinh doanh dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999 mà tiếp tục kinh doanh dịch vụ pháp lý thì phải có đủ các điều kiện hành nghề luật sư và phải chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề theo quy định của Luật này; nếu không chuyển đổi thì phải chấm dứt hoạt động.
Bộ Tư pháp hướng dẫn việc chuyển đổi đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999;
e) Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam; chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, công ty luật hợp danh nước ngoài và Việt Nam đã được cấp Giấy phép thành lập theo quy định của Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam được tiếp tục hành nghề theo quy định của Luật này;
g) Đoàn luật sư được thành lập theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 không phải làm thủ tục xin phép thành lập lại;
h) Trong thời gian tổ chức luật sư toàn quốc chưa được thành lập, việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp tổ chức thực hiện, việc cấp Thẻ luật sư do Đoàn luật sư thực hiện.
Tuy nhiên, những quy định chuyển tiếp đối với luật sư và tổ chức luật sư chỉ được thực hiện trong một thời gian nhất định. Do vậy, những nội dung này không đưa vào Luật Luật sư mà được quy định trong Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật Luật sư.
IV. KẾ HOẠCHTRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT LUẬT SƯ

1. Về xây dựng văn bản
a. Xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Luật sư (Dự kiến trình Chính phủ xem xét, thông qua vào tháng 11/2006).
b. Xây dựng Thông tư hướng dẫn một số điều của Luật Luật sư (Dự kiến ban hành vào tháng 11/2006)
c. Xây dựng Đề án thành lập tổ chức luật sư toàn quốc.
2. Về tuyên truyền, phổ biến Luật Luật sư
a. Tổ chức Hội Nghị chuyên đề về Luật Luật sư tại hai khu vực Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (trong tháng 8/2006).
b. Phối hợp với cơ quan báo chí tuyên truyền, phổ biến Luật Luật sư:
Nội dung tuyên truyền:
– Mục đích, ý nghĩa của việc ban hành Luật Luật sư
– Nội dung cơ bản, những điểm mới của Luật Luật sư so với Pháp lệnh luật sư năm 2001.
3. Triển khai phổ biến, tuyên truyền về Luật Luật sư tại địa phương:
a. Đề nghị Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng Kế hoạch phổ biến, tuyên truyền Luật Luật sư.
b. Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền Luật Luật sư tại địa phương.

SOURCE: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/PreLawDetail.aspx?PreLawID=11

Advertisements

One Response

  1. Theo các văn bản pháp luật tôi đang có về Luật luật sư năm 2006 có nguồn từ
    1. http://www.luatvietnam.vn
    2. http://www.chinhphu.vn
    Thì có hai Mục có tên trùng nhau là: Mục 3: Thủ tục cấp giấy phép đối với chi nhánh, công ty luật nước ngoài, luật sư nước ngoài ( từ điều 78 tới 82 và từ điều 83 tới 84) mặc dù nội dung của hai mục này khác nhau hoàn toàn:
    – Điều 78 tới điều 82 có nội dung là thủ tục cấp giấy phép đối với chi nhánh, công ty luật nước ngoài, luật sư nước ngoài
    – Điều 83 tới điều 84 có nội dung là quản lý hành nghề luật sư

    Tôi không hiểu đây là sai lầm do đánh máy trong một văn bản pháp luật đơn lẻ hay là sai lầm gì?

    Mong mọi người giải đáp thắc mắc này. Xin trân trọng cám ơn

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: