Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÁO CÁO THẨM TRA SƠ BỘ DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

QUỐC HỘI KHÓA XII

Uỷ ban Pháp luật

clip_image001

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do- Hạnh phúc

clip_image002

Số: 272/UBPL12 Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 2008

BÁO CÁO THẨM TRA SƠ BỘ DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU

CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

Kính thưa Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008, ngày 26 tháng 3 năm 2008, Thường trực Ủy ban pháp luật đã họp để thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự (phần liên quan đến lãi suất huy động vốn, cho vay vốn của tổ chức tín dụng và một số quy định khác liên quan đến việc áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố) theo Tờ trình số 23/TTr-CP ngày 25 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ. Sau khi nghe đồng chí Phó Thống đốc thay mặt Thống đốc Ngân hàng nhà nước được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền trình bày Tờ trình và dự thảo Luật, Thường trực Ủy ban pháp luật đã thảo luận.

Dưới đây, Thường trực Ủy ban pháp luật xin trình Ủy ban thường vụ Quốc hội Báo cáo thẩm tra sơ bộ về dự án Luật này.

1. Ý kiến chung

Thường trực Ủy ban pháp luật nhận thấy, quy định lấy lãi suất làm chuẩn cho một số giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự không hướng vào việc trực tiếp điều chỉnh các quan hệ về huy động vốn, cho vay vốn của các tổ chức tín dụng mà là nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về vay, cho vay vốn, thực hiện nghĩa vụ dân sự .v.v…trong các giao dịch dân sự nói chung để các quan hệ này được diễn ra một cách lành mạnh, ngăn chặn tình trạng cho vay nặng lãi mang tính chất bóc lột không phù hợp với bản chất của Nhà nước ta. Tuy nhiên, do hoạt động huy động vốn, cho vay vốn của các tổ chức tín dụng cũng là một trong những hoạt động vay, cho vay vốn trong các giao dịch dân sự, nên quy định của Bộ luật dân sự vì thế cũng tác động đến hoạt động này của ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác.

Theo Tờ trình của Chính phủ thì quy định về lãi suất trong Bộ luật dân sự có một số điểm bất cập, chẳng hạn như quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” (khoản 1 Điều 476) là thấp, không phản ánh đúng thực tế quan hệ cung cầu của thị trường tín dụng, dẫn đến tình trạng nếu các ngân hàng, tổ chức tín dụng áp dụng theo đúng quy định này của Bộ luật dân sự thì khó có khả năng bù đắp các chi phí để kinh doanh có lãi, còn nếu không thực hiện đúng thì các hợp đồng tín dụng lại không phù hợp với quy định của pháp luật v.v…

Vì vậy, về cơ bản, Thường trực Ủy ban pháp luật tán thành với sự cần thiết phải sửa đổi quy định về lãi suất trong Bộ luật dân sự để tháo gỡ những vướng mắc cho hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng.

2. Về các nội dung sửa đổi

Chúng tôi nhận thấy nội dung của Dự thảo luật tập trung vào sửa đổi hai nội dung chính, đó là: quy định việc chọn “lãi suất trái phiếu Kho bạc” thay cho “lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố” tại các quy định có liên quan đến lãi suất trong Bộ luật dân sự và quy định về trần lãi suất đối với các hoạt động vay, cho vay vốn, thực hiện nghĩa vụ dân sự.v.v…

a) Về việc chọn “lãi suất trái phiếu Kho bạc” thay cho “lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố”

Qua thảo luận, Thường trực Uỷ ban pháp luật có hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất tán thành với việc chọn “lãi suất trái phiếu Kho bạc” thay cho “lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố” được quy định tại một số điều có liên quan trong Bộ luật dân sự với những lý do như đã được nêu trong Tờ trình của Chính phủ.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung như trong Tờ trình và dự thảo Luật là chưa thuyết phục. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật hiện hành thì trái phiếu Kho bạc có nhiều loại khác nhau với các thời hạn khác nhau và lãi suất cũng khác nhau; hoặc có trường hợp tuy có cùng thời điểm phát hành nhưng trái phiếu Kho bạc lại được phát hành đồng thời với nhiều loại khác nhau và với các thời hạn khác nhau, lãi suất khác nhau nên rất khó xác định được lãi suất nào là lãi suất được áp dụng. Có trái phiếu Kho bạc thì lãi suất là do cơ quan nhà nước (Bộ trưởng Bộ tài chính) ấn định, nhưng cũng có lãi suất thì lại được hình thành trên cơ sở kết quả của việc đấu thầu mua trái phiếu. Để xác định được lãi suất nào là “lãi suất trái phiếu Kho bạc thấp nhất của lần phát hành cuối cùng” thì phải tìm kiếm, so sánh, tính toán và để có thể xác định được là vấn đề không đơn giản mà không phải ai cũng có thể có đủ kiến thức để xác định được lãi suất này. Khi xảy ra tranh chấp thì rất khó xác định được lãi suất nào là lãi suất được áp dụng để giải quyết, nhất là đối với các hợp đồng vay, cho vay vốn diễn ra từ nhiều năm trước đó. Khó khăn trong việc xác định mức lãi suất được áp dụng dẫn đến sự không minh bạch trong các quy định của pháp luật, gây khó khăn cho công tác áp dụng và thi hành pháp luật.

Theo quy định hiện hành thì việc phát hành trái phiếu Kho bạc nhà nước được thực hiện trong trường hợp bội chi ngân sách nhà nước, do đó nếu sau này ngân sách nhà nước không còn bị bội chi và không phải phát hành trái phiếu Kho bạc thì sẽ không còn căn cứ để xác định hoặc phải căn cứ vào một lãi suất trái phiếu Kho bạc ở một thời điểm trước đó rất lâu và lãi suất này khi đó không còn phản ánh đúng với lãi suất của thị trường ở thời điểm hiện tại. Mặt khác, lãi suất của trái phiếu là lãi suất trung hạn và dài hạn, trong khi đó các giao dịch dân sự còn bao gồm cả vay, cho vay ngắn hạn, do đó nếu quy định việc áp dụng lãi suất vay trung han và dài hạn cho các giao dịch dân sự vay, cho vay ngắn hạn là chưa hợp lý.

Vấn đề sử dụng căn cứ nào để làm chuẩn mực trong một số giao dịch dân sự liên quan đến vay, cho vay trong Bộ luật dân sự đã được bàn bạc rất kỹ khi ban hành Bộ luật này vào năm 2005. Khi đó, ngoài lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố thì các cơ quan hữu quan không tìm ra được một căn cứ nào khác thích hợp hơn để quy định. Theo Tờ trình của Chính phủ thì lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đã có sự thay đổi so với trước đây, các tổ chức tín dụng không phải ấn định lãi suất cho vay của mình theo lãi suất cơ bản cộng biên độ nữa, mà lãi suất cơ bản chỉ có ý nghĩa định hướng lãi suất thị trường để các tổ chức tín dụng tham khảo khi ấn định lãi suất vay và cho vay. Trong khi đó, mục đích của quy định về lãi suất trong Bộ luật dân sự là nhằm hạn chế việc cho vay nặng lãi, nên căn cứ để xác định trần lãi suất trong các giao dịch dân sự phải dựa trên lãi suất thị trường thì mới hợp lý. Do vậy, có ý kiến trong Thường trực Ủy ban pháp luật đề nghị nên lấy “lãi suất cho vay trung bình của các ngân hàng thương mại” hoặc “lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng thương mại” làm căn cứ thay cho “lãi suất cơ bản”.
Vì vậy, loại ý kiến này đề nghị, Chính phủ cần nghiên cứu tổng kết trình Quốc hội tình hình thực hiện quy định của Luật ngân hàng Nhà nước về “lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước công bố”. Nếu không còn phù hợp thì cần phải sửa đổi. Trường hợp chưa tìm được một căn cứ mới nào phù hợp hơn thì chưa nên thay “lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố”.

b) Về sửa đổi quy định trần lãi suất (khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự)

Theo Tờ trình của Chính phủ thì sửa đổi khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự quy định về lãi suất được sửa đổi theo hướng “L·i suÊt vay do c¸c bªn tháa thuËn nh­ng kh«ng ®­îc v­ît qu¸ 300% l·i suÊt tr¸i phiÕu Kho b¹c thÊp nhÊt cña lÇn ph¸t hµnh cuèi cïng tr­íc thêi ®iÓm cho vay. L·i suÊt ®èi víi ho¹t ®éng huy ®éng vèn vµ cho vay vèn cña c¸c tæ chøc tÝn dông ®­îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt vÒ ng©n hµng”.

Thường trực Ủy ban pháp luật cho rằng, việc nâng trần lãi suất vay từ chỗ “150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố” lên “300% của lãi suất trái phiếu Kho bạc thấp nhất của lần phát hành cuối cùng trước thời điểm cho vay” (gấp khoảng 2 lần so với quy định hiện hành), ước tính ở thời điểm hiện nay vào khoảng trên 24%/năm là chưa thuyết phục. Nếu vì lý do lãi suất thị trường tăng nên phải quy định trần lãi suất tăng thì sau này nếu trần lãi suất là “300% của lãi suất trái phiếu Kho bạc thấp nhất của lần phát hành cuối cùng” mà vẫn còn thấp so với lãi suất thị trường thì có phải tiếp tục sửa đổi luật nữa không. Trong khi đó, mục đích của quy định về lãi suất trong Bộ luật dân sự không chỉ nhằm hạn chế việc cho vay nặng lãi mang tính bóc lột mà còn giúp định hướng lãi suất đối với các quan hệ về vay, cho vay trong các giao dịch dân sự, cho nên quy định về trần lãi suất còn phải phản ánh tương đối sát quan hệ cung cầu của thị trường. Hơn nữa, trong Tờ trình của Chính phủ có nêu “lãi suất trái phiếu Kho bạc tương đối phản ánh đúng lãi suất thị trường”, nay nếu quy định về trần lãi suất nâng lên gấp 3 lần so với “lãi suất thị trường” thì e rằng không hợp lý và sẽ tác động tiêu cực tới quan hệ vay, cho vay trong các giao dịch dân sự của người dân.

Về vấn đề không áp dụng quy định về trần lãi suất của Bộ luật dân sự đối với các hoạt động vay, cho vay của các tổ chức tín dụng, đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban pháp luật cho rằng, hoạt động của các tổ chức tín dụng cần phải được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Do đó, quy định về lãi suất trong Bộ luật dân sự nên loại trừ trường hợp pháp luật về ngân hàng và các tổ chức tín dụng có quy định khác. Tuy nhiên, có ý kiến băn khăn cho rằng trong Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng chưa có quy định về trần lãi suất, nay nếu quy định l·i suÊt ®èi víi ho¹t ®éng huy ®éng vèn vµ cho vay vèn cña c¸c tæ chøc tÝn dông ®­îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt vÒ ng©n hµng thì không rõ sẽ áp dụng mức lãi suất nào và mức lãi suất này được quy định ở đâu. Hơn nữa, còn dẫn đến cách hiểu rằng đối với việc vay và cho vay của c¸c tæ chøc tÝn dông thì không bị giới hạn bởi trần lãi suất.

3. Về hiệu lực thi hành
Tại khoản 2 Điều 2 Dự thảo luật quy định “Quy định tại Luật này được áp dụng đối với các hợp đồng vay tài sản phát sinh trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 đến trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành”.

Thường trực Ủy ban pháp luật nhận thấy, quy định này là quy định mang tính hồi tố, mà theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì không được quy định hiệu lực trở về trước đối với trường hợp “quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn”. Trong các giao dịch dân sự thì việc quy định trách nhiệm pháp lý cho một bên nhẹ hơn thì cũng đồng nghĩa với việc quy định trách nhiệm pháp lý cho bên kia nặng hơn. Do đó, nếu áp dụng hồi tố quy định mới này sẽ làm cho trách nhiệm pháp lý của một bên trong giao dịch dân sự cũ nặng hơn và do đó không phù hợp với nguyên tắc xác định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, đề nghị không quy định hồi tố.

Hơn nữa, quy định như dự thảo Luật sẽ dẫn đến hiểu khác là có loại hợp đồng vay tài sản có thoả thuận về lãi suất phù hợp với Luật này và có loại thì không phù hợp với Luật này, nhưng lại không nói rõ đối với những hợp đồng vay tài sản mà có thoả thuận không phù hợp với Luật này thì có được xử lý không? xử lý ra sao?

Vì vậy, Thường trực Ủy ban pháp luật đề nghị không quy định vấn đề này trong dự thảo Luật.

Ngoài ra, Thường trực Ủy ban pháp luật đề nghị để có cơ sở cho việc sửa đổi các quy định liên quan đến lãi suất trong Bộ luật dân sự, Chính phủ cần chỉ đạo tổng kết, đánh giá việc thực hiện các quy định này trong thời gian qua. Đồng thời, cần chuẩn bị tài liệu kể cả tài liệu kinh nghiệm của một số nước quy định về vấn đề này trình Quốc hội tham khảo.

Kính thưa Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Trên đây là Báo cáo thẩm tra sơ bộ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự, Thường trực Uỷ ban pháp luật xin kính trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

T/M UỶ BAN PHÁP LUẬT

Chủ nhiệm

Nguyễn Văn Thuận

(đã ký)

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22vay+tài+sản%22

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: