MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ THÔNG BÁO VIỆC KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN

NGUYỄN HOÀNG HÀ

Nhằm bảo đảm tính thực thi của các quy định về thông báo việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin về tài sản kê biên trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự, Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự, ngày 09 tháng 10 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư số 07/2007/TT-BTP hướng dẫn về thông báo việc kê biên tài sản thi hành án và cung cấp thông tin về tài sản kê biên tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Thông tư số 07/2007/TT-BTP). Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

1. Một số nội dung chủ yếu của Thông tư số 07/2007/TT-BTP

Phạm vi, đối tượng áp dụng:

– Việc thông báo kê biên tài sản thi hành án theo quy định tại Thông tư này được áp dụng đối với các Chấp hành viên ra quyết định kê biên hoặc Chấp hành viên được Cơ quan thi hành án phân công thực hiện việc thông báo.

Tài sản là đối tượng của các thông báo chỉ bao gồm các động sản theo quy định của pháp luật dân sự, trừ các trường hợp sau:

a) Tài sản kê biên đã được giao cho cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản hoặc đã được bảo quản tại kho của Cơ quan thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 25 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP;

b) Tổng giá trị tài sản theo quyết định kê biên (không bao gồm các tài sản nêu tại điểm 2.2.a khoản này) không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Giá trị của tài sản kê biên do Chấp hành viên tạm tính.

– Chấp hành viên khi xác minh điều kiện thi hành án và mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu thông tin về tình trạng pháp lý của động sản đều có quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của Thông tư này.

Thông tư quy định về các vấn đề cơ bản sau đây:

– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản của Chấp hành viên;

– Những vấn đề pháp lý liên quan đến việc thông báo kê biên tài sản thi hành án như người có trách nhiệm thông báo về việc kê biên tài sản, thời hạn thực hiện thông báo về việc kê biên tài sản, thời điểm có hiệu lực của thông báo về kê biên tài sản, thời hạn có hiệu lực của thông báo về việc kê biên tài sản, phương thức thực hiện thông báo về việc kê biên tài sản và yêu cầu cung cấp thông tin của Chấp hành viên, thời hạn giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin, lệ phí thông báo về việc kê biên tài sản và phí cung cấp thông tin …;

– Các loại thông báo liên quan đến kê biên tài sản, bao gồm thông báo lần đầu, thay đổi nội dung đã thông báo, gia hạn thời hạn có hiệu lực của việc thông báo, sửa chữa sai sót, xóa thông báo; trình tự và thủ tục thực hiện các loại việc liên quan đến thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án;

– Việc cung cấp thông tin về tài sản dự định kê biên theo yêu cầu của Chấp hành viên khi xác minh điều kiện thi hành án và cung cấp thông tin về tài sản kê biên cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm;

Ngoài ra, ban hành kèm theo Thông tư là các biểu mẫu sử dụng trong việc thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án, thay đổi nội dung đã thông báo, gia hạn thời hạn có hiệu lực của việc thông báo, sửa chữa sai sót, xóa thông báo, cung cấp thông tin về tài sản kê biên tại các Trung tâm Đăng ký. Các mẫu biểu đều đơn giản, dễ hiểu và tại mỗi biểu mẫu có hướng dẫn cụ thể về cách thức kê khai các thông tin trên mẫu.

2. Một số vấn đề cụ thể của Thông tư số 07/2007/TT-BTP

Các trường hợp thông báo về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký (khoản 2 Mục I)

Thông tư quy định các trường hợp Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo về việc tài sản kê biên cho Trung tâm Đăng ký theo quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 21 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 173/2004/NĐ-CP) đối với các tài sản nêu tại điểm 2.1 khoản 2 mục I, trừ quyết định kê biên đối với các tài sản nêu tại điểm 2.2 khoản 2 Mục I của Thông tư. 

Phạm vi, thẩm quyền của các Trung tâm Đăng ký (khoản 4 Mục I)

Các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Trung tâm Đăng ký) là cơ quan có thẩm quyền giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản, cung cấp thông tin.

Thẩm quyền của các Trung tâm Đăng ký trong việc giải quyết Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin là như nhau trong phạm vi cả nước, không phân biệt thẩm quyền theo địa giới hành chính, nơi Trung tâm Đăng ký đặt trụ sở. Hiện nay, cả nước có ba Trung tâm được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên, cơ quan thi hành án dân sự tại các địa phương khác như Hà Tây, Cao Bằng, Quảng Bình, Cần Thơ, v.v… có thể lựa chọn để gửi Văn bản thông báo đến một trong ba Trung tâm nêu trên qua fax.

Giá trị pháp lý của thông báo về việc kê biên tài sản (khoản 7 Mục I)

Thông tư quy định việc thông báo về kê biên tài sản có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm thông báo cho đến khi hết hiệu lực của thông báo đó theo quy định tại khoản 10 Mục I của Thông tư.

Thời hạn thực hiện thông báo về việc kê biên tài sản (khoản 8 Mục I)

Khi ra quyết định kê biên tài sản, Chấp hành viên phải thông báo ngay về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký theo trình tự, thủ tục quy định tại Mục II của Thông tư này.

Đối với thi hành án cấp quân khu, thi hành án dân sự tại các địa phương thuộc nông thôn, vùng sâu, vùng xa mà không thể thông báo ngay về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký thì thời hạn này được tăng thêm, nhưng không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định kê biên tài sản.

Trong trường hợp gửi Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký theo đường bưu điện thì thời hạn năm ngày được tính theo dấu xác nhận gửi đi của Bưu điện.

Thời hạn có hiệu lực của thông báo về việc kê biên tài sản (khoản 10 Mục I)

Thông báo về việc kê biên tài sản có hiệu lực trong thời hạn năm năm, kể từ thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận được Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản hợp lệ, trừ trường hợp có yêu cầu xóa thông báo về việc kê biên trước hạn hoặc có yêu cầu gia hạn. Thời hạn mỗi lần gia hạn thông báo về việc kê biên tài sản là năm năm.

Hướng dẫn kê khai tên, số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của người phải thi hành án (khoản 11 Mục I)

Để bảo đảm việc công khai hoá thông tin về tài sản bị kê biên thi hành án, Thông tư hướng dẫn các cơ quan thi hành án kê khai về tên và các thông tin có liên quan đến người phải thi hành án.

Hướng dẫn việc kê khai các thông tin về tên, số giấy tờ xác định tư cách pháp lý của người phải thi hành án tương tư như hướng dẫn của Bộ Tư pháp về việc kê khai khi yêu cầu đăng ký giao dịch, tài sản tại Trung tâm Đăng ký.

Tuy nhiên, để đảm bảo thuận lợi cho cơ quan Thi hành án trong việc kê khai đơn đối với những cá nhân không có chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc Thẻ thường trú, Thông tư quy định: Trong trường hợp không có những giấy tờ nêu trên thì kê khai theo tên, địa chỉ của cá nhân đó được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án được thi hành hoặc kê khai theo tên, địa chỉ trong biên bản xác minh của Chấp hành viên; Trường hợp là quân nhân tại ngũ thì kê khai theo Chứng minh thư quân đội; số Chứng minh thư quân đội.

Phương thức thực hiện thông báo về việc kê biên tài sản và yêu cầu cung cấp thông tin của Chấp hành viên (khoản 12 Mục I)

Để bảo đảm tính kịp thời của việc cảnh báo cho công chúng về việc tài sản bị kê biên đảm bảo thi hành án, Thông tư quy định hai phương thức gửi thông báo chủ yếu là: nộp trực tiếp tại Trung tâm Đăng ký và gửi qua fax tới Trung tâm Đăng ký. Tuy nhiên, dự phòng trường hợp các Cơ quan thi hành án quân khu, cơ quan thi hành án cấp huyện thuộc khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa không có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật và không thể đến trực tiếp Trung tâm Đăng ký, Thông tư cũng cho phép các cơ quan thi hành án này được gửi thông báo qua đường bưu điện.

Thời hạn giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin (khoản 14 Mục I)

Trung tâm Đăng ký có trách nhiệm giải quyết thông báo về việc kê biên tài sản và cung cấp thông tin ngay sau khi nhận được văn bản yêu cầu của tổ chức, cá nhân hoặc trong ngày làm việc; nếu Trung tâm Đăng ký nhận được sau ba giờ  chiều, thì giải quyết xong trong ngày làm việc tiếp theo. Trong trường hợp phải kéo dài thời hạn, thì cũng không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được các văn bản nêu trên hợp lệ.

Lệ phí thông báo về việc kê biên tài sản và phí cung cấp thông tin (khoản 15 Mục I)

Thông tư quy định: Việc thông báo về kê biên tài sản và xác minh về tài sản dự định kê biên của Chấp hành viên không phải chịu lệ phí và phí.

Còn đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không phải là chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản kê biên thì phải nộp phí. Mức phí cung cấp thông tin về tài sản kê biên; chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 10 tháng 01 năm 2007 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký và phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm.

Về trình tự, thủ tục thông báo việc kê biên tài sản

Trình tự, thủ tục thông báo việc kê biên tài sản và những biến động của việc kê biên được thực hiện theo các bước như sau:

– Chấp hành viên nộp Văn bản thông báo theo một trong các phương thức nêu tại khoản 12 mục I của Thông tư này.

– Sau khi nhận Văn bản thông báo, Đăng ký viên kiểm tra và ghi thời điểm nhận thông báo (giờ, phút, ngày, tháng, năm), nếu văn bản đó không thuộc một trong các trường hợp từ chối. Trong thời hạn quy định tại khoản 14 Mục I của Thông tư này, Trung tâm Đăng ký chứng nhận vào bản sao của Văn bản thông báo và trao trực tiếp cho Chấp hành viên tại Trung tâm Đăng ký hoặc gửi qua đường bưu điện, tùy theo yêu cầu của Chấp hành viên.

– Nếu Trung tâm Đăng ký phát hiện có giao dịch, hợp đồng được đăng ký theo tên của người phải thi hành án trong thời gian từ khi Chấp hành viên xác minh về tài sản dự định kê biên đến khi Trung tâm Đăng ký nhận được Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thì Trung tâm Đăng ký thông báo bằng văn bản cho Chấp hành viên về các giao dịch, hợp đồng đó cùng với việc cấp bản sao của Văn bản thông báo về việc kê biên tài sản.

Về cung cấp thông tin

Thông tư quy định 2 nội dung:

a) Cung cấp thông tin về tài sản dự định kê biên theo yêu cầu của Chấp hành viên khi xác minh điều kiện thi hành án.

Trước khi ra quyết định kê biên tài sản, Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh tại Trung tâm Đăng ký về việc tài sản dự định kê biên để thi hành nghĩa vụ của người phải thi hành án có thuộc các trường hợp sau đây hay không:

– Tài sản đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự;

– Tài sản mà người phải thi hành án mua trả chậm, trả dần và bên bán có bảo lưu quyền sở hữu;

– Tài sản mà người phải thi hành án thuê có thời hạn từ một năm trở lên hoặc là tài sản thuê mua tài chính;

– Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.

b) Cung cấp thông tin về tài sản kê biên cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu

Thông tin về tài sản kê biên được cung cấp cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu

Người yêu cầu cung cấp thông tin phải nộp phí cung cấp thông tin và đơn yêu cầu cung cấp thông tin theo mẫu số 08-BD ban hành kèm theo Thông tư số 03/2007/TT-BTP ngày 17 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tư pháp về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 28 tháng 9 năm 2006 hướng dẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp.

SOURCE: http://nrast.moj.gov.vn/CDKBD/portlet-params@uP_portlet_action%253Dtrue%2526request_type%253DChonBaiViet%2526idBaiviet%253D12290@portlet-params.tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.149.uP#149

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: