LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀI LOAN

(ban hành ngày 11 tháng 1 năm 1994, và có hiệu lực kể từ ngày 13/01/1994)

(bổ sung các Điều 7-1, 10-1, 11-1, 19-1, 44-1, và từ 45-1 đến 45-5 và sửa đổi các Điều 2, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17, 35, 38, 39, 41, 42, 49, 50, 57, 58, và 62 vào ngày 22 tháng 1 năm 2003)

(bổ sung Điều 22-1 vào tháng 5 năm 2005)

Chương I – Những quy định chung

Điều 1

Luật bảo vệ người tiêu dùng (sau đây được gọi là “Luật này”) được ban hành với mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, tạo Điều kiện an toàn và cải thiện chất lượng cho đời sống tiêu dùng của người dân.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng phải tuân theo quy định của Luật này, trong trường hợp luật này không có các quy định cụ thể, các văn bản pháp luật khác sẽ được xem xét áp dụng.

Điều 2

Trong Luật các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người tiêu dùng” là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng.

2. “Doanh nghiệp kinh doanh” là những doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo, sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hoá, hoặc cung cấp dịch vụ.

3. “Quan hệ tiêu dùng” là quan hệ pháp lý phát sinh giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh trong trong quá trình mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ.

4. “Tranh chấp trong tiêu dùng” là tranh chấp phát sinh do việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh.

5. “Vụ kiện trong tiêu dùng” là việc kiện tụng phát sinh do tranh chấp trong tiêu dùng được khởi kiện tại Tòa án.

6. “Nhóm bảo vệ người tiêu dùng” là nhóm người đại diện hợp pháp hoạt động vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng được thành lập phù hợp với các quy định pháp luật.

7. “Điều khoản hàng loạt của Hợp đồng” là các Điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với số lượng lớn. Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, Internet và các phương tiện khác.

8. “Điều khoản thương lượng” là các Điều khoản của hợp đồng đạt được do sự thoả thuận giữa các bên thương lượng độc lập.

9. “Hợp đồng hàng loạt ” là hợp đồng mà một phần hoặc toàn bộ Điều khoản cơ bản được soạn thảo bởi các doanh nghiệp kinh doanh.

10. “Thư đặt mua” là các giao dịch thương mại trong đó doanh nghiệp kinh doanh sử dụng đài phát thanh, chương trình truyền hình, điện thoại, bản mô phỏng, sách giới thiệu, báo, tạp chí, Internet, máy bay, hoặc các phương thức tương tự để thiết lập một giao dịch thương mại giữa doanh nghiệp kinh doanh với những người tiêu dùng không có cơ hội được xem xét kỹ hàng hoá đặt mua.

11. “Bán hàng tận cửa” là phương thức bán hàng được thực hiện thông qua sự tiếp thị của doanh nghiệp kinh doanh tại nhà của người tiêu dùng hoặc các địa điểm khác mà không dựa trên bất kỳ sự yêu cầu nào.

12. “Bán hàng trả góp” là loại giao dịch theo hợp đồng bán hàng mà người tiêu dùng được yêu cầu trả góp với số dư được trả dần và doanh nghiệp kinh doanh sẽ chuyển giao từng phần cho người tiêu dùng theo hóa đơn trả góp.

ĐỂ ĐỌC TOÀN BỘ VĂN BẢN CLICK VÀO ĐÂY

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: