HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA TRUNG QUỐC – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Trong vòng một thập kỷ qua, SAIC đã tiến hành soạn thảo và đưa ra nhiều đề xuất liên quan đến Luật Chống độc quyền. Đến đầu năm 2003, Dự thảo Luật Chống độc quyền của Trung Quốc đã được hoàn thành và tháng 3/2004 đã được đệ trình lên Hội đồng Nhà nước. Đến phiên họp lần thứ 29 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 10 ngày 30/8/2007, Luật Chống độc quyền đã được thông qua và sẽ chính thưc có hiệu lực vào 01/8/2008. Luật Chống độc quyền Trung Quốc bao gồm 8 chương với 57 Điều, bao gồm các quy định về phạm vi áp dụng, thỏa thuận độc quyền, lạm dung vị trí thống lĩnh, tập trung kinh tế, loại bỏ và hạn chế cạnh tranh thông qua việc lạm dụng sức mạnh hành chính….

Luật Chống độc quyền Trung Quốc cũng đưa ra mô hình “Ủy ban chống độc quyền thuộc Hội đồng Nhà nước và là cơ quan thực thi Luật chống độc quyền”. Luật cũng quy định rằng Hội đồng Nhà nước sẽ thành lập Ủy ban Chống độc quyền với nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và phối hợp các công việc liên quan đến chống độc quyền. Căn cứ nhu cầu của việc xây dựng một hệ thống thị trường có trật tự, cạnh tranh, mở cửa và thống nhất và chuyên biệt trong việc thực thi Luật chống độc quyền. Căn cứ vào điều kiện cụ thể và bắt nguồn từ nhu cầu thực tế trong việc thực thi luật, Luật chống độc quyền có quy định rằng cơ quan thực thi Luật có thể ủy quyền cho các cơ quan có liên quan ở cấp địa phương, các khu vực tự trị và chính quyền thành phố có trách nhiệm thực thi Luật chống độc quyền. Do đó, Hội đồng nhà nước có thể giao cho các đơn vị có liên quan các trách nhiệm tương ứng trong việc thực thi luật hoặc có sự điều chỉnh về trách nhiệm thực thi luật giữa các đơn vị có liên quan.

Có thể nói, việc thực thi các quy định liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh và các quy định về chống độc quyền đã được bắt đầu từ năm 1993, kể từ thời điểm Luật chống cạnh tranh không lành mạnh ra đời. Luật này điều chỉnh cả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và một số hành vi hạn chế cạnh tranh. Luật cấm 6 loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó là giả mạo hàng hóa, quảng cáo gây nhầm lẫn, hối lộ mang tính chất thương mại, vi phạm bí mật thương mại, bán hàng với giá niêm yết không thích hợp và quy tội cho doanh nghiệp khác nhằm mục đích thương mại và 6 loại hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp công hoặc các doanh nghiệp khác có vị trí thống lĩnh theo quy định của pháp luật, độc quyền hành chính, bán hàng hóa dưới giá thành, áp đặt điều kiện trong bán hàng và đấu thầu. SAIC chịu trách nhiệm điều tra và xử phạt các hành vi bất hợp pháp của độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của luật và theo sự ủy quyền của Hội đồng nhà nước. Trong vòng một thập kỷ qua, SAIC đã tăng cường nỗ lực thực thi luật cạnh tranh và đã đạt được những tác động tốt. Năm 1994, SAIC đã thành lập Văn phòng Thương mại Công bằng, một trong những chức năng của văn phòng này là tổ chức giám sát và kiểm tra các hành vi trên thị trường và điều tra xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền. Các cơ quan quản lý về công nghiệp và thương mại địa phương của Trung Quốc đã thành lập các đơn vị thống nhất để thực thi luật thương mại lành mạnh, các phòng thực thi luật thương mại lành mạnh và các bộ phận được thành lập ở tất cả các sở quản lý công nghiệp và thương mại ở các thành phố và tỉnh. Do đó, SAIC đã hình thành được một mạng lưới thực thi các quy định về chống độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở trên khắp cả nước. Trong thời gian này, SAIC đã xử lý một số vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh. Từ tháng 12/1993, kể từ khi Luật chống cạnh tranh không lành mạnh có hiệu lực đến tháng 12/2007, SAIC đã điều tra và xử phạt tổng cộng 353.900 vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh, trong đó 51.389 vụ việc về giả mạo tên thương mại của hàng hóa người khác; 40.363 vụ bắt chước tên, bao bì và trang trí của hàng hóa nổi tiếng; 27.830 vụ việc liên quan đến việc sử dụng nhằm gian dối tên của doanh nghiệp, cá nhân khác; 50.342 vụ giả mạo hoặc sử dụng gian dối nhãn hiệu đã được đăng ký đối với hàng hóa của người khác, giả mạo nguồn gốc xuất xứ, gian dối về chất lượng sản phẩm; 32.797 vụ việc hối lộ mang tính chất thương mại; 50.005 vụ liên quan đến chất lượng, thành phần, hiệu quả và việc sử dụng hàng hóa thông qua quảng cáo và các cách thức khác.

Đối với việc thực thi các quy định về chống độc quyền, từ năm 1999 đến năm 2007, SAIC đã tiến hành chiến dịch thực thi các quy định chống độc quyền trên cả nước trong vòng 9 năm liên tục. Theo đó, từ năm 1994 đến tháng 12/2007, các văn phòng quản lý thương mại và công nghiệp đã điều tra và xử phạt tổng cộng 6.699 vụ việc độc quyền công nghiệp liên quan đến các doanh nghiệp trong các ngành độc quyền như cung cấp nước, cung cấp điện, cung cấp khí đốt, dịch vụ bưu chính, viễn thông, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng, dầu khí, hóa dầu, thuốc lá…điều tra và xử phạt 506 vụ việc liên quan đến việc loại bỏ hoặc hạn chế cạnh tranh như bảo hộ nội địa và tẩy chay hàng hóa khu vực. Các văn phòng quản lý công nghiệp và thương mại ở một số tỉnh và thành phố, theo các quy định của địa phương mình về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đã điều tra và xử phạt các hành vi hạn chế cạnh tranh như chia tách thị trường và ấn định giá thông qua các thỏa thuận cartel. Trong một vài năm gần đây, SAIC đã tiến hành điều tra một số vụ việc liên quan đến lạm dung vị trí thống lĩnh để tiến hành việc áp đặt điều kiện trong bán hàng và đã ban hành các cảnh cáo hành chính đối với các doanh nghiệp có liên quan.

Đối với việc kiểm tra, giám sát sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp, trong giai đoạn từ năm 2004-2007, SAIC đã nhận được 378 hồ sơ báo cáo của doanh nghiệp liên quan đến sáp nhập và hợp nhất. Trong 378 hồ sơ đã được SAIC thẩm định về vấn đề độc quyền, chưa có trường hợp nào bị cấm hoặc được liệt vào diện các điều kiện hạn chế bổ sung. Hơn nữa, hầu hết các vụ việc này đều được thông qua ở giai đoạn thẩm định ban đầu kéo dài trong vòng 30 ngày làm việc. Chỉ có 3-4 vụ việc được đưa vào diện phải thẩm định thêm về nội dung.

Nhìn chung, việc ban hành Luật chống độc quyền chỉ là một bước khởi đầu mới cho việc thực thi chống độc quyền ở Trung Quốc. Các thách thức đặt ra đối với cơ quan thực thi Luật là nhận thức của chính phủ, các doanh nghiệp và người tiêu dùng về tác hại của hành vi độc quyền; tăng cường nhận thức của toàn bộ xã hội về Luật; thực thi Luật một cách công bằng, minh bạch và hiệu quả; thúc đẩy sự phát triển kinh tế hợp lý và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

SOURCE: http://www.qlct.gov.vn/Web/Content.aspx?distid=664&lang=vi-VN

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: