KHỞI TỐ, KHỞI KIỆN VÌ LỢI ÍCH CHUNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN TIẾN – GV Khoa luật Dân sự, Trường ĐH Luật TP. HCM

Khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung là một quy định quan trọng trong tố tụng dân sự. Đó là công cụ pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước, công dân khi có vi phạm, tranh chấp mà không có ai khởi kiện. Theo quy định này, công dân do không có năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc có năng lực hành vi tố tụng dân sự nhưng vì một lý do nào đó mà họ không tự bảo vệ quyền lợi của chính mình được thì các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự sẽ tiến hành khởi tố, khởi kiện nhằm bảo vệ các quyền lợi đó của công dân. Ngoài mục đích bảo vệ quyền lợi của công dân, khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung cũng là phương thức bảo vệ các quyền và lợi ích trong lĩnh vực dân sự của nhà nước bị xâm hại. Khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung là một nội dung bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, là hình thức bảo hộ của nhà nước khi công dân có quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm hay tranh chấp.

Theo Điều 8, Điều 28, Điều 29 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29-11-1989 thì Viện kiểm sát, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam (Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam) có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các loại việc được quy định tại Điều 28 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự với tư cách là người khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung – chủ thể làm phát sinh vụ án dân sự.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì những chủ thể khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung chỉ được khởi tố, khởi kiện khi không có ai khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của nhà nước hoặc bảo vệ quyền lợi của người khác. Các chủ thể này chỉ được khởi tố, khởi kiện đối với các loại việc được quy định tại Điều 28 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Khi khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung Viện kiểm sát và các chủ thể có trách nhiệm khởi tố, khởi kiện bằng văn bản (Quyết định khởi tố, Đơn khởi kiện) đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ cho yêu cầu do mình đề xuất và tham gia phiên tòa. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, Công đoàn Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nếu họ nhận thấy rằng Tòa án giải quyết không thỏa đáng theo yêu cầu khởi tố, khởi kiện của họ. Do Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ban hành đã lâu (1989) và vẫn còn hiệu lực nên một số quy định về khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung không còn phù hợp với những văn bản pháp luật ban hành sau này. Do đó, trong thời gian chờ đợi ban hành Bộ luật tố tụng dân sự, việc nhận thức lại một số nội dung về khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung là cần thiết cho việc nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật; hơn vậy đây còn là cơ sở cho việc hoàn thiện chế định khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung trong Bộ luật tố tụng dân sự sắp tới để có sự thống nhất giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng.

Trước hết về vấn đề tên gọi của chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung. Theo quy định tại Điều 29 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Công đoàn Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 112 Bộ luật dân sự thì các tổ chức này là những tổ chức chính trị – xã hội. Đó là những pháp nhân có quyền khởi kiện vì lợi ích chung. Vì vậy, tên gọi của chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung được quy định trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự là không phù hợp với nội dung của Bộ luật dân sự. Theo ý kiến chúng tôi, khi ban hành Bộ luật tố tụng dân sự, tên gọi của chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung phải thống nhất với Bộ luật dân sự; đó là tổ chức chính trị – xã hội khởi kiện vì lợi ích chung.

Thứ hai, về chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung. Theo Điều 8 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung bao gồm: Mặt trận tổ quốc và các thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam gồm Công đoàn Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Theo Điều 9, Điều 31, Điều 39 và Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình 1986 và mục 9 của Nghị quyết 01 ngày 20-01-1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Mặt trận tổ quốc lại không có quyền khởi kiện vì lợi ích chung. Như vậy, có thể hiểu Mặt trận tổ quốc chỉ được khởi kiện đối với việc vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho tài sản xã hội chủ nghĩa theo Điều 28 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Đây là sự không thống nhất trong việc lập pháp.

Tuy nhiên, vấn đề chúng tôi bàn đến ở đây là sự bất cập giữa Điều 8, Điều 29 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự với Luật hôn nhân và gia đình 2000 về chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung. Căn cứ vào Điều 15, Điều 42, Điều 55, Điều 66, Điều 77 của Luật hôn nhân và gia đình 2000 thì các chủ thể có quyền khởi kiện vì lợi ích chung bao gồm: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Đối chiếu với Điều 8 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Luật hôn nhân và gia đình 2000 không thừa nhận quyền khởi kiện vì lợi ích chung của Mặt trận tổ quốc, Công đoàn Việt Nam và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Trên thực tế Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự vẫn còn hiệu lực thi hành, song chúng ta chỉ công nhận quyền khởi kiện vì lợi ích chung của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Chúng tôi đề nghị khi xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự, việc quy định các chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung phải phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình 2000.

Vấn đề thứ ba là chúng tôi đề cập là đối tượng của quyền khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung. Ngoài các loại việc được quy định tại Điều 28 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Luật hôn nhân và gia đình 2000 còn quy định một số loại việc khác mà các chủ thể nêu trên có quyền khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung. Đó là những loại việc sau đây:

– Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 41 của Luật hôn nhân và gia đình 2000. Trước đây trong Điều 26 của Luật hôn nhân và gia đình 1986 cũng quy định về loại việc này, song không quy định về chủ thể có quyền khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung yêu cầu Tòa án giải quyết khi cha mẹ vi phạm quyền của con chưa thành niên. Theo Điều 41 của Luật hôn nhân và gia đình 2000 khi cha mẹ bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, phá tài sản của con, có lối sống đồi trụy, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật thì các chủ thể khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên từ 1 đến 5 năm. Như vậy, đây là một loại việc mới nhằm bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên bị cha hoặc mẹ xâm phạm mà bản thân họ không thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình.

– Yêu cầu thực hiện cấp dưỡng. Khác với Luật hôn nhân và gia đình 1986 quy định về cấp dưỡng còn sơ sài, Luật hôn nhân và gia đình 2000 đã quy định vấn đề cấp dưỡng thành một chương riêng (Chương VI) và hoàn thiện hơn. Trong chương này, quy định về chủ thể phải cấp dưỡng người được cấp dưỡng, mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án buộc người cấp dưỡng phải thực hiện việc cấp dưỡng. Theo Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình 2000, Viện kiểm sát, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có quyền tự mình yêu cầu Tòa án buộc người phải cấp dưỡng thực hiện việc cấp dưỡng khi họ không tự nguyện thực hiện việc cấp dưỡng. Đây là quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình 2000 nhằm bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Cụ thể là quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, anh chị em với nhau, ông bà nội ngoại và cháu.

– Yêu cầu xác định cha, mẹ, con. Theo Điều 28 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Viện kiểm sát và các chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung chỉ có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha mẹ cho con chưa thành niên ngoài giá thú. Theo quy định này thì việc xác định con cho cha mẹ, cha mẹ cho con thành niên, các chủ thể nêu trên không có quyền khởi tố, khởi kiện. Theo Điều 66 của Luật hôn nhân và gia đình 2000, thì Viện kiểm sát, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự. Đây là quy định mở rộng hơn về việc xác định cha, mẹ, con và nhằm bảo vệ quyền lợi của người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự. Quy định này là cần thiết và phù hợp để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người mà họ không có khả năng để tự bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết về mặt dân sự.

Vấn đề cuối cùng mà chúng tôi đề cập trong bài viết này là quyền khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân. Theo chúng tôi, trong pháp luật tố tụng dân sự quy định quyền khởi tố vì lợi ích chung của Viện kiểm sát là cần thiết. Viện kiểm sát thông qua chức năng kiểm sát của mình nếu phát hiện có những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền lợi của nhà nước, công dân mà không có ai khởi kiện thì Viện kiểm sát tiến hành khởi tố.

Căn cứ vào Điều 15, Điều 42, Điều 55, Điều 66, Điều 77 của Luật hôn nhân và gia đình 2000, Viện kiểm sát có quyền khởi tố vì lợi ích chung trong hai trường hợp sau:

– Viện kiểm sát có quyền trực tiếp yêu cầu Tòa án giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật khi việc kết hôn đó vi phạm khoản 1 Điều 9, Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình; hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên; yêu cầu Tòa án buộc người cấp dưỡng phải cấp dưỡng; xác định cha mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự và yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi theo khoản 2, khoản 3 Điều 76 của Luật hôn nhân và gia đình 2000. Đối với các loại việc trên, nếu không có ai khởi kiện, Viện kiểm sát có quyền tự mình khởi tố yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong những trường hợp này, việc khởi tố là do Viện kiểm sát chủ động thực hiện sau khi đã xem xét sự việc và nhận thấy có hành vi vi phạm pháp luật hoặc quyền lợi của công dân bị xâm hại.

– Viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung theo đề nghị của đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Căn cứ vào khoản 1 Điều 15, khoản 1 Điều 42, khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 66 và khoản 1 Điều 77 của Luật hôn nhân và gia đình 2000 thì Viện kiểm sát có thể xem xét và khởi tố khi có đề nghị của đương sự, của người thân thích với đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác quy định trong các điều luật trên. Viện kiểm sát cũng có thể xem xét và khởi tố vì lợi ích chung theo đề nghị của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam hoặc của Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em khi các tổ chức này không tự mình khởi kiện.

Trên đây là những bất cập về vấn đề khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung giữa các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và các luật nội dung ban hành sau khi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có hiệu lực pháp luật. Theo chúng tôi, để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, trong khi chờ đợi Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành thì trước mắt những quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình 2000 là cơ sở pháp lý điều chỉnh vấn đề khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung.

Tuy nhiên, để có sự phù hợp, thống nhất giữa pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung, theo ý kiến chúng tôi khi xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự chúng ta phải quy định vấn đề khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung như sau:

“Viện kiểm sát có quyền khởi tố các loại việc sau đây: Vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho tài sản XHCN; kết hôn trái pháp luật; xác định cha mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự; hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên; chấm dứt việc nuôi con nuôi và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Viện kiểm sát khởi tố khi không có ai khởi kiện. Viện kiểm sát tự mình khởi tố hoặc khởi tố theo đề nghị của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Viện kiểm sát khởi tố có trách nhiệm đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ và tham gia phiên tòa”.

Đối với Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em nên quy định:

“Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án giải quyết các loại việc mà Viện kiểm sát có quyền khởi tố. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có trách nhiệm đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ và tham gia phiên tòa khi khởi kiện”.·

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2002

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: