Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

VẤN ĐỀ CHỦ THỂ HỢP ĐỒNG BOT TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN WTO

NGUYỄN THỊ LÁNG

Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Sự kiện này đã mở ra cánh cửa để Việt Nam bước ra và hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu. Việc hội nhập kinh tế quốc tế và làn sóng đầu tư ngày càng tăng cao đòi hỏi Việt Nam phải đổi mới về pháp luật, trong đó có pháp luật về hợp đồng BOT.

Để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng BOT, một trong những vấn đề cơ bản và trọng tâm là phải nhận diện những đặc thù về mặt chủ thể của hợp đồng BOT, từ đó có hướng điều chỉnh pháp luật thích hợp. Từ yêu cầu khách quan đó, chúng tôi xin được phân tích những đặc trưng cơ bản của chủ thể hợp đồng BOT, thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề này và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề chủ thể hợp đồng BOT trong pháp luật Việt Nam hiện hành.

Một số nét đặc thù của chủ thể hợp đồng BOT

Chủ thể của hợp đồng nói chung là các bên ký kết hợp đồng và có quyền lợi, nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng đã ký. Hợp đồng BOT ở bình diện chung nhất được hiểu là thỏa thuận đầu tư được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư được quyền xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng trong một thời gian nhất định bằng nguồn vốn góp của nhà đầu tư và trên cơ sở huy động nguồn vốn vay dựa trên phương thức tài trợ dự án; hết thời hạn cấp quyền đó, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn quyền sở hữu công trình đó cho nhà nước. Từ khái niệm về hợp đồng BOT, có thể thấy chủ thể hợp đồng BOT bao gồm cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia ký kết hợp đồng BOT và nhà đầu tư. Như vậy, nét đặc thù về mặt chủ thể của hợp đồng BOT chính là sự tham gia của nhà nước thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền của mình với tư cách là cơ quan công quyền và là một chủ thể kinh tế có địa vị pháp lý bình đẳng như nhà đầu tư.

Trong quan hệ hợp đồng BOT, tính chất công quyền của chủ thể nhà nước khi tham gia hợp đồng BOT được thể hiện ở chỗ, thông qua việc ký kết các hợp đồng BOT, nhà nước có thêm công cụ giúp thực hiện các chức năng đảm bảo dịch vụ công cộng của mình. Đối tượng của hợp đồng BOT là các công trình cơ sở hạ tầng công cộng vốn dĩ do nhà nước phải đảm nhận và nhà nước tham gia hợp đồng BOT nhằm đưa ra những bảo đảm cho nhà đầu tư, đồng thời theo dõi, quản lý các hoạt động đầu tư và các cam kết của nhà đầu tư đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng. Mục đích của nhà nước khi tham gia hợp đồng BOT là nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế – xã hội, một chức năng quản lý của nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh một số yếu tố công nói trên, hợp đồng BOT còn là thỏa thuận giữa các bên về việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Nhà đầu tư tham gia hợp đồng BOT không nhằm mục đích nào khác ngoài kinh doanh kiếm lời. Họ không quan tâm đến các yếu tố công của hợp đồng BOT, mà chỉ đơn thuần tiến hành hoạt động kinh doanh như tất cả các công việc kinh doanh khác. Như các hợp đồng thông thường khác, hợp đồng BOT là sự thể hiện ý chí, tự do, tự nguyện của nhà đầu tư (hợp đồng BOT sẽ bị vô hiệu khi thiếu đi các yếu tố đó). Chính hạt nhân kinh doanh này đã quyết định và chi phối yếu tố tư của hợp đồng BOT, xác định tính chất bình đẳng về địa vị pháp lý của các chủ thể hợp đồng BOT.

Tính đặc thù về mặt chủ thể của hợp đồng BOT đã đặt ra yêu cầu giải quyết một cách hợp lý các yếu tố “công” và “tư” trong dự án BOT. Yếu tố “tư” ở đây được hiểu là yếu tố thương mại trong hợp đồng BOT, hay nói cách khác là mục đích kinh doanh cũng như sự tham gia của khu vực tư nhân trong hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng. Yếu tố “công” được hiểu là vai trò, sự tham gia của nhà nước thể hiện trong các quy định của hợp đồng BOT.

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong hợp đồng BOT được thực hiện bởi khu vực tư nhân, nên khi nói về hợp đồng này người ta thường nghĩ về yếu tố “tư” nhiều hơn là yếu tố “công”. Tuy nhiên thực tế cho thấy, vai trò điều tiết, chỉ đạo và hỗ trợ của nhà nước là không thể thiếu, đôi khi quyết định sự thành công hay thất bại của việc thực hiện hợp đồng BOT.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền – chủ thể đặc biệt của hợp đồng BOT

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia hợp đồng BOT với tư cách là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật này. Tính đặc biệt này cần được chú ý, bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ tham gia với tư cách là chủ thể kinh tế, mà còn tham gia với tư cách là chủ thể công quyền, quản lý một số hoạt động đầu tư của nhà đầu tư theo hợp đồng BOT. Chính yếu tố công quyền đó đã tạo nên nét đặc trưng riêng so với các quan hệ dân sự khác.

Sự tham gia của nhà nước với tư cách là một chủ thể bắt buộc trong hợp đồng BOT được lý giải bởi chính đối tượng hợp đồng BOT. Đó là các công trình cơ sở hạ tầng sẽ được chuyển giao cho nhà nước khi kết thúc thời hạn dự án. Sự tham gia của nhà nước là tối cần thiết trong tất cả các khâu, từ việc xác định nhu cầu xây dựng công trình, mức độ tham gia của khu vực tư nhân, lựa chọn nhà đầu tư, thẩm định báo cáo khả thi, tham gia thương lượng, đàm phán, phê duyệt, ký kết hợp đồng BOT, cấp các giấy phép cần thiết cho dự án, chỉ định doanh nghiệp bán nguyên vật liệu chính cho dự án cũng như mua sản phẩm chủ yếu của dự án, cung cấp các hỗ trợ pháp lý khác, hỗ trợ trong quá trình xây dựng, vận hành dự án và cuối cùng là nhận chuyển giao công trình. Mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tham gia hợp đồng BOT là mong muốn dự án được thực hiện nhanh chóng cho mục đích phục vụ lợi ích của công chúng, các nhà kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển theo định hướng của nhà nước và để thực hiện các chức năng của nhà nước.

Theo Điều 2.5 Nghị định số 78 của Chính phủ ban hành ngày 11/5/2007 (Nghị định 78) về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia ký kết hợp đồng BOT bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc các cơ quan trực thuộc của các cơ quan này được ủy quyền ký kết hợp đồng BOT. Khi nghiên cứu quy định hiện hành về cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tư cách là chủ thể hợp đồng BOT, chúng ta thấy, còn có những vướng mắc sau:

Thứ nhất, khái niệm cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dẫn đến hai cách hiểu khác nhau:

– Theo cách hiểu thứ nhất, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ thể của hợp đồng BOT bao gồm (1) các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, (2) ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, và (3) các cơ quan trực thuộc của các cơ quan nêu tại mục (1) và (2) được các cơ quan này uỷ quyền ký kết hợp đồng BOT.

– Còn theo cách hiểu thứ hai, cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ thể của hợp đồng BOT bao gồm (1) các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, (2) ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, và (3) các cơ quan trực thuộc của các cơ quan nêu tại mục (1) và (2). Cả ba loại hình cơ quan nhà nước có thẩm quyền này được Chính phủ ủy quyền ký kết hợp đồng BOT.

Vấn đề đặt ra là cần phải có cách hiểu thống nhất và đúng đắn về loại chủ thể này.

Thứ hai, hiện không có quy định pháp luật nào xác định rõ ràng cơ quan nào là cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chủ trì đàm phán, ký kết hợp đồng BOT với nhà đầu tư trong dự án BOT, mà tùy từng dự án cụ thể để xác định cơ quan nhà nước có thẩm quyền tương ứng. Ví dụ, các dự án BOT về cung cấp nước thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường là ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các dự án BOT về xây dựng nhà máy điện thì thường cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Bộ Công nghiệp, các dự án về cảng biển thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường là Bộ Giao thông vận tải (Cục Hàng hải) … Việc xác định cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra đàm phán ký kết hợp đồng BOT trên thực tế là đang dựa trên thông lệ và được xác định trong từng trường hợp cụ thể. Điều này làm cho các nhà đầu tư e ngại vì họ chưa xác định được chắc chắn cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào đứng ra đàm phán ký kết hợp đồng BOT. Vì vậy, cần có những quy định cụ thể về vấn đề này.

Thứ ba, theo quy định của pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng BOT là các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc các cơ quan trực thuộc của các cơ quan này được ủy quyền ký kết hợp đồng BOT. Việc ủy quyền nói trên được thể hiện dưới hình thức nào, có hiệu lực trong bao lâu… vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ và chưa được quy định một cách cụ thể. Điều này gây ra nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng trên thực tế và việc áp dụng pháp luật không thống nhất.

Thứ tư, một trong các khó khăn khác phát sinh từ những hạn chế trong quy định hiện hành về chủ thể hợp đồng BOT, khiến quá trình đàm phán các hợp đồng BOT bị kéo dài, là tình trạng cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao ký kết hợp đồng nhưng lại không có đầy đủ thẩm quyền để đàm phán về tất cả các vấn đề liên quan trong hợp đồng. Do vậy, đối với rất nhiều vấn đề như bảo đảm cân đối hoặc hỗ trợ cân đối ngoại tệ, trường hợp bồi thường, mua lại, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, các vấn đề về giá, phí và thuế của dự án… đều phải xin ý kiến của các cơ quan có liên quan.

Ngoài ra, pháp luật vẫn chưa xác định rõ phạm vi quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện hợp đồng BOT. Vì vậy, vẫn chưa rõ các cơ quan này có thẩm quyền giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng BOT hay không.

Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải có những quy định về địa vị pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo hướng linh hoạt, phù hợp với cơ chế phân cấp, ủy quyền trong quản lý hiện nay, khắc phục tình trạng chồng lấn, thiếu rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và tổ chức quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngoài ra, cần xác định rõ một số quyền năng phát sinh từ nguyên tắc quản lý hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tham gia ký kết hợp đồng BOT. Cụ thể là:

– Cần xác định rõ thẩm quyền ký kết hợp đồng BOT của cơ quan nhà nước được quy định cho từng dự án cụ thể hay cho tất cả các dự án tương tự.

– Cần quy định rõ thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp các hỗ trợ kinh tế, tài chính và các hình thức hỗ trợ áp dụng đối với từng lĩnh vực cơ sở hạ tầng.

– Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền và nghĩa vụ giám sát việc thực hiện hợp đồng BOT cũng như giám sát việc thực hiện đúng tiến độ, thời hạn, giá cả sản phẩm, dịch vụ của dự án. Tuy nhiên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được can thiệp vào phương pháp quản lý của nhà đầu tư, không trực tiếp tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp mà chỉ có quyền xem xét việc tuân thủ pháp luật và yêu cầu của hợp đồng BOT.

– Cơ quan nhà nước có thể được quyền đơn phương sửa đổi hợp đồng BOT trong một số trường hợp đặc biệt vì lý do lợi ích công cộng và phải bồi thường thỏa đáng cho nhà đầu tư.

– Cần quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhóm công tác liên ngành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập ra có đầy đủ thẩm quyền thay mặt Chính phủ đàm phán và ký kết hợp đồng BOT cũng như đóng vai trò là cơ quan đầu mối giải quyết tất cả các vấn đề phát sinh từ hợp đồng BOT.

Thứ năm, về vấn đề khước từ quyền miễn trừ quốc gia. Cơ quan có thẩm quyền ký kết và thực hiện hợp đồng BOT với hai tư cách: tư cách là một bên của hợp đồng và tư cách là một cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo dõi, kiểm tra, giám sát hợp đồng. Do cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào quan hệ hợp đồng, nên cơ quan này phải từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia. Việc từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia này là phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, mức độ từ bỏ và từ bỏ trong từng trường hợp cụ thể nào hiện đang phụ thuộc nhiều vào quá trình đàm phán và nhượng bộ của mỗi bên.

Do đó, để khuyến khích đầu tư theo hợp đồng BOT và khẳng định rõ bản chất thương mại của hợp đồng BOT, cần quy định rõ trong pháp luật về hợp đồng BOT vấn đề khước từ quyền miễn trừ quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia ký kết hợp đồng BOT cũng như xác định mức độ và phạm vi việc khước từ quyền miễn trừ quốc gia đó.

Nhà đầu tư – chủ thể cơ bản của hợp đồng BOT

Theo quy định tại Điều 2.6 Nghị định 78, nhà đầu tư với tư cách là chủ thể của hợp đồng BOT được hiểu tương đối rộng là các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn thực hiện dự án BOT bao gồm:

– Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật Doanh nghiệp năm 2005;

– Hộ kinh doanh; cá nhân;

– Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã;

– Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập và hoạt động tại Việt Nam;

– Doanh nghiệp nhà nước được thành lập trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực thi hành;

– Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam.

Trên thực tế, chủ thể của hợp đồng BOT với tư cách là nhà đầu tư thường là những tập đoàn kinh tế mạnh, có uy tín lớn, có chuyên môn, kinh nghiệm trong các hoạt động đầu tư, xây dựng, vận hành công trình cơ sở hạ tầng. Nhà đầu tư được lựa chọn thông qua đấu thầu, hoặc được chỉ định trực tiếp đàm phán hợp đồng.

Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể hợp đồng BOT là nhà đầu tư vẫn còn phát sinh một số vấn đề sau:

Một làM, “cá nhân” với tư cách là chủ thể của hợp đồng BOT được hiểu cụ thể như thế nào, là tất cả các cá nhân trong nước, nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam hay người không quốc tịch? Đây là điều đang cần được làm rõ.

Một đặc trưng của hợp đồng BOT là các chủ thể của hợp đồng cũng đồng thời là nhà đầu tư, người quản lý doanh nghiệp BOT. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì không phải mọi cá nhân đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp. Do vậy, khác với chủ thể của các hợp đồng thông thường khác, chủ thể hợp đồng BOT là nhà đầu tư cũng cần phải tuân theo những hạn chế theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Hai là, theo Điều 3.4 Luật Đầu tư, nhà đầu tư còn bao gồm cả “các tổ chức khác theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, vẫn chưa rõ liệu các tổ chức chính trị hay tổ chức xã hội có vốn và có nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng theo hợp đồng BOT, thì họ có thể được coi là nhà đầu tư để được tham gia đấu thầu hay đề xuất thực hiện dự án BOT không. Để thu hút hơn nữa sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng theo hợp đồng BOT, cần mở rộng các đối tượng chủ thể này.

Ngoài những vấn đề trên, pháp luật cần sửa đổi theo hướng nâng cao quyền chủ động của nhà đầu tư và doanh nghiệp trong quá trình xây dựng, khai thác, quản lý công trình. Bên cạnh đó, cần có thêm những điều khoản mặc định trong pháp luật hiện hành liên quan đến nghĩa vụ của nhà đầu tư trong việc thực hiện hợp đồng BOT, như việc quy định nhà đầu tư phải đảm bảo tính liên tục, tính sẵn có của sản phẩm, dịch vụ với những điều kiện tương tự trong mọi hoàn cảnh đối với tất cả các bên sử dụng.

Giữa các chủ thể trong hợp đồng BOT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vừa mang tính thống nhất vừa mang tính đối lập. Mặc dù mức độ tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng BOT của các loại chủ thể này ở mỗi hợp đồng trong từng lĩnh vực cơ sở hạ tầng là khác nhau, nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hợp đồng BOT đều có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực nhà nước và tư nhân trong việc phục vụ lợi ích công cộng.

Để thúc đẩy hơn nữa việc phát triển cơ sở hạ phục vụ công cuộc phát triển nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, hiện đại hoá và công nghiệp hoá, việc nhận diện những đặc trưng của chủ thể hợp đồng BOT, những hạn chế hiện hành và việc thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về chủ thể hợp đồng BOT là vấn quan trọng cần phải sớm thực hiện. Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO và nhu cầu về cơ sở hạ tầng của các chủ thể kinh doanh và người dân ngày càng tăng cao, thì nhiệm vụ này càng trở nên cấp bách và bức xúc hơn bao giờ hết.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 103, THÁNG 8/2007

TRÍCH DẪN LẠI TỪ: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/van-111e-chu-the-hop-111ong-bot-trong-boi-canh-viet-nam-la-thanh-vien-wto

Advertisements

3 Responses

  1. A compehensive comments on the regulations which are still new in Vietnam.

  2. cho biet cac van de cua chu the hop dong

  3. Các thầy cho em hỏi về vấn đề chủ thể của hợp đồng BOT có thể áp dụng đối với 2 loại hợp đồng BTO và BT được không?

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: