HỘI ĐỒNG LIÊN NGÀNH – MÔ HÌNH QUẢN LÝ CẠNH TRANH THÍCH HỢP

NGUYỄN HỮU HUYÊN

Bài viết này chỉ giới hạn trong một vấn đề là dựng mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam đảm bảo hai tiêu chí: (1) phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; (2) đảm bảo không có sự khác biệt quá lớn với mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của các nước trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa.

Có thể nói đây là vấn đề rất quan trọng vì việc đưa luật cạnh tranh áp dụng vào thực tiễn hiệu quả đến đâu phụ thuộc phần lớn vào vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh. Chính vì vậy EU nói chung và Pháp nói riêng khi bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên cho pháp luật cạnh tranh (sau Đại chiến thế giới thứ hai), một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu là họ phải xây dựng cho được một mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh phù hợp, tập trung vào ba vấn đề lớn: 1/ Xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh; 2/ Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động; 3/ Xác định thẩm quyền của cơ quan này. Trong đó bản chất pháp lý của cơ quan này có thể xem là vấn đề mấu chốt, quyết định hai vấn đề còn lại.

1. Xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh

Xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh tức là đi tìm lời giải cho câu hỏi: Cơ quan này thuộc loại cơ quan tài phán (juridiction) hay là một cơ quan hành chính (Administration)? Ở tầm Liên minh châu Âu và ở Cộng hòa Pháp thì đây thực sự là một cuộc tranh luận lớn, cho đến nay vẫn còn tiếp tục. Chung quy lại có ba trường phái:

– Trường phái thứ nhất: khẳng định đây là một cơ quan hành chính. Lập luận: Ở tầm Liên minh châu Âu, cơ quan điều tiết cạnh tranh là Ủy ban châu Âu (Commission Européenne), còn ở Pháp là Hội đồng Cạnh tranh (Conseil de la concurrence) – thuần túy mà xét đều là các cơ quan hành chính. Ủy ban châu Âu gồm đại diện của các quốc gia thành viên, nhưng hoạt động độc lập, vì lợi ích chung của cộng đồng, chịu sư giám sát của Nghị viện châu Âu, và có thể bị Nghị viện bãi nhiệm (Điều 201 Hiệp ước châu Âu, tức Điều 144 Hiệp định Rome cũ). Còn Hội đồng Cạnh tranh của Pháp là một cơ quan hành chính độc lập, các thành viên do Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kinh tế. Đây cũng là quan điểm của Tòa án Hiến pháp của Pháp khi ra phán quyết về bản chất pháp lý của Hội đồng Cạnh tranh – “là một cơ quan hành chính độc lập”.

– Trường phái thứ hai cho rằng đây là một cơ quan tài phán. Lý do: Mặc dù về hình thức thì đây là những cơ quan hành chính, nhưng thực chất lại có thẩm quyền tài phán. Như Hội đồng Cạnh tranh xét xử các tranh chấp về cạnh tranh, ra các quyết định mang tính trừng phạt, thủ tục xét xử mang tính tranh tụng. Thậm chí có tác giả còn nhấn mạnh đây là một cơ quan tài phán không được thừa nhận chính thức .

– Trường phái thứ ba (kết hợp hai trường phái trên) cho rằng đây là một cơ quan hành chính nhưng có thẩm quyền tài phán, và đang ngày càng bị “tài phán hóa”.

Vậy xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam như thế nào? Qua các điều của dự thảo luật thì thấy ban soạn thảo đưa ra hai phương án: (1) Ủy ban Cạnh tranh quốc gia – một cơ quan ngang bộ; (2) Cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại (Điều 38). Cả hai phương án đều xác định đây là cơ quan hành chính.

– Phương án thứ nhất: Nếu phương án này được chấp nhận thì đây quả thực là một “cuộc cách mạng” – chúng ta còn tiến xa hơn cả nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay. Nếu là một cơ quan ngang bộ thì sẽ đảm bảo được sự độc lập của cơ quan này với các bộ ngành khác. Mà trong điều kiện thực tế Việt Nam, các bộ ngành còn là cơ quan chủ quản của phần lớn các doanh nghiệp nhà nước quan trọng.

Nhưng nhiều khả năng phương án này khó được chấp nhận trước yêu cầu cải cách hành chính, tinh giảm bộ máy nhà nước hiện nay. Đặc biệt là khi Quốc hội nhiệm kỳ mới vừa quyết định xong cơ cấu tổ chức Chính phủ gồm danh sách hữu các bộ, cơ quan ngang bộ (Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002).

– Phương án thứ hai: Có ưu điểm là rất dễ được chấp nhận, vì không phải thành lập thêm cơ quan mới, mà chỉ cần thành lập thêm một đơn vị giúp việc Bộ trưởng Bộ Thương mại (một vụ hay cục chẳng hạn). Tuy nhiên, phương án này có nhược điểm rất lớn là khó đảm bảo tính độc lập – tiêu chí quan trọng hàng đầu đặt ra đối với cơ quan quản lý cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Sẽ có nghi ngại về sự khách quan của Bộ Thương mại trong việc xử lý các tranh chấp liên quan đến cạnh tranh giữa một bên là doanh nghiệp (đặc biệt là khu vực tư nhân) với một bên là các doanh nghiệp nhà nước do Bộ Thương mại trực tiếp quản lý. Ngoài ra, người ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi, Bộ Thương mại vừa là cơ quan quản lý nhà nước về thương mại, nay sao lai kiêm luôn chức năng “xét xử” các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh? Có thể thấy những nét tương tự khi so sánh phương án này với việc nhập chức năng công tố và xét xử trong tố tụng làm một.

Phân biệt rõ đá bóng với thổi còi là một nguyên tắc căn bản của nhà nước pháp quyền. Tòa án Nhân quyền châu Âu có trụ sở đặt tại Strasbourg trong một án lệ đã khẳng định rõ ràng nguyên tắc này. Chính vì vậy mà ở Pháp vừa có một Hội đồng Cạnh tranh (không trực thuộc bộ nào, có chức năng xét xử) lại có Tổng cục Cạnh trạnh tiêu thụ và chống gian lận thương mại (trực thuộc Bộ Kinh tế, giữ chức năng tương tự như công tố).

2. Hội đồng liên ngành – mô hình quản lý cạnh tranh thích hợp

Từ những phân tích trên đây, theo tôi Việt Nam nên tổ chức cơ quan quản lý cạnh tranh theo cơ chế hội đồng liên ngành – vừa là cơ quan hành chính, vừa là cơ quan tài phán. Ưu điểm là: (1) bảo đảm tính độc lập; (2) dễ được chấp nhận hơn là đòi hỏi thành lập mới một cơ quan ngang bộ. Nhược điểm duy nhất của nó là cơ chế liên ngành khó vận hành uyển chuyển trong điều kiện tính cục bộ trong các cơ quan nhà nước còn cao.

Xin phân tích một số vấn đề lớn của mô hình này.

– Về cơ cấu tổ chức: Cơ quan này gồm các thành viên được lựa chọn từ một số bộ thuộc khối kinh tế (Thương mại, Công nghiệp, Kế hoạch và đầu tư, Nông nghiệp và phát triển nông thôn), Bộ Tư pháp, và TAND Tối cao. Tất cả do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, làm việc theo chế độ biệt phái, nhiệm kỳ 5-7 năm (có thể được tái bổ nhiệm), hết nhiệm kỳ có thể quay trở về cơ quan cũ. Giúp việc cho cơ quan này là một bộ máy tinh nhuệ, đặt tại Bộ Thương mại gồm các chuyên gia kinh tế và luật pháp. Kinh tế phải được ưu tiên hơn vì cạnh tranh trước hết là một hiện tượng kinh tế, đòi hỏi phải được phân tích dưới giác độ kinh tế trước khi điều tiết hay xử lý bằng pháp luật.

– Về hoạt động: Cơ quan này phải có ngân sách riêng, hoạt động thông qua các phiên họp (giống như tranh tụng ở tòa án, các doanh nghiệp được quyền mời luật sư). Khâu nghiên cứu hồ sơ giao cho các chuyên viên giúp việc, nên huy động sư tham gia của giới nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, viện nghiên cứu bằng cơ chế báo cáo viên kiêm nhiệm chẳng hạn. Chức năng “công tố” nên giao cho Bộ Thương mại (Cục Quản lý thị trường).

– Về thẩm quyền: Theo khoản 15 Điều 39 dự luật, cơ quan quản lý cạnh tranh có cả thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Ở châu Âu, việc này giao cho tòa án, bởi logic: vấn đề này chỉ liên quan đến bồi thường thiệt hại, chủ yếu liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp bị hại, trong khi vai trò chủ đạo của cơ quan quản lý cạnh tranh là điều tiết nền kinh tế.

SOURCE: http://vnexpress.net/Vietnam/Ban-doc-viet/2003/06/3B9C8C10/

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: