TRÁCH NHIỆM, THỦ TỤC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI OAN SAI TRONG TỐ TỤNG

TS. DƯƠNG THANH MAI & TH.S. ĐỖ ĐÌNH LƯƠNG – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ tư pháp
Chế độ trách nhiệm của nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại đối với oan sai trong tố tụng là một trong những công cụ để đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội, đặc biệt để bảo vệ công dân trong quan hệ với các cơ quan công quyền. Nhưng bên cạnh đó còn cần phải làm rõ trách nhiệm: giữa các cơ quan tố tụng, giữa cơ quan chủ quản và cá nhân người tiến hành tố tụng. Vậy phân định trách nhiệm giữa các chủ thể nói trên như thế nào? ở các nước, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại ra sao?
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình hoạt động tố tụng, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, vẫn còn những oan sai. Việc giải quyết oan sai sẽ dây dưa, kéo dài nếu không phân định được trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của cơ quan tố tụng với trách nhiệm cá nhân công chức thừa hành công vụ gây ra oan sai.

Những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở pháp lý cho việc bồi thường thiệt hại do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đã được quy định trong Hiến pháp và các bộ luật cơ bản nhưng chúng ta vẫn còn thiếu
những quy định cụ thể trực tiếp điều chỉnh vấn đề này. Để xây dựng được những quy định cụ thể đó, có lẽ, chúng ta cần phải nghiên cứu và phải tìm ra câu trả lời cho nhiều vấn đề như “ai phải bồi
thường thiệt hại?”, “trách nhiệm bồi thường được xác định trên cơ sở pháp lý nào?”, và “việc bồithường được giải quyết thế nào…
2. Trách nhiệm của Nhà nước
Về mặt lý luận, chúng ta phải làm rõ “Nhà nước có phải là một chủ thể trong mối quan hệ bồi thường thiệt hại do cơ quan tố tụng gây ra hay không?”. Trước đây, rất nhiều quốc gia thực hiện nguyên tắc “miễn trừ quốc gia”. Nguyên tắc này cho rằng: Nhà nước được hưởng quyền miễn trừ quốc gia nên không thể bị coi là bị đơn trong những vụ kiện yêu cầu bồi thường. Khi nhân viên Nhà nước xâm phạm quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức thì đó là hành vi mang tính cá nhân, Nhà nước không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trên thực tế, tuy nhân viên thi hành nhiệm vụ của Nhà nước nhưng người hưởng lợi là Nhà nước và toàn xã hội chứ không riêng gì cá nhân đó; mặt khác, nếu cá nhân công chức thi hành nhiệm vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thì trực tiếp ảnh hưởng đến tính tích cực và tính chủ động của nhân viên Nhà nước khi thi hành nhiệm vụ. Vì vậy, cá nhân nhân viên cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường là không phù hợp với nguyên tắc công bằng. Do đó, vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, quan điểm “miễn trừ quốc gia tuyệt đối” đang dần trở nên lạc hậu và ít được áp dụng; một số quốc gia đã bắt đầu đưa ra chế định pháp luật mà theo đó, Nhà nước là chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại do cơ quan tố tụng gây ra.
Thuyết “miễn trừ quốc gia” còn phải được xem xét trên bình diện quan hệ quốc tế trong việc xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một quốc gia đối với công dân của quốc gia khác. Theo
quy định của pháp luật quốc tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế của Nhà nước bao gồm hai yếu tố cấu thành là: (a) hành vi trái pháp luật quốc tế (việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện các nghĩa vụ quốc tế) thuộc trách nhiệm của Nhà nước; và (b) Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại do hành vi trái pháp luật quốc tế gây ra. Vì thiệt hại đó có thể là vật chất hoặc phi vật chất nên trách nhiệm bồi thường cũng có thể là trách nhiệm bồi thường vật chất và trách nhiệm bồi thường phi vật chất. Ngoài trách nhiệm bồi thường vật chất, bên gây thiệt hại còn có thể bị trả đũa hoặc chịu sự trừng phạt do bên bị thiệt hại áp dụng. Như vậy, nếu cơ quan tư pháp hoặc công chức thuộc các cơ quan tư pháp khi thi hành công vụ có những hành vi vi phạm nghĩa vụ quốc tế của Nhà nước thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động của các cơ quan và công chức tư pháp đó và phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do các hành vi của họ gây ra. Trên thực tế, một trong những dạng phổ biến nhất của trách nhiệm pháp lý của Nhà nước trong pháp luật quốc tế hiện đại chính là trách nhiệm phát sinh do Nhà nước vi phạm nghĩa vụ đối xử công bằng với công dân nước ngoài trên lãnh thổ của mình.
Hiến pháp 1992 khẳng định “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền
được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự” (Điều 72). Như vậy, Hiến pháp đã xác định căn cứ để được bồi thường là tính trái pháp luật của các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và phạm vi bồi thường gồm thiệt hại về vật chất và phi vật chất. Với quy định rất chung này, hoàn toàn chưa rõ nguyên tắc phải phân định ra sao trách nhiệm giữa cơ quan và cá nhân tiến hành tố tụng, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cùng làm oan cho người dân.
3. Phân định trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
Việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn nếu
như không có cơ sở pháp lý cụ làm căn cứ để xác định, nhất là khi vụ án phức tạp đòi hỏi hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan phải có sự phối hợp.
Các nhà lập pháp Trung Quốc đã phân loại rạch ròi sự vi phạm của từng loại cơ quan trong hoạt
động tố tụng hình sự. Cụ thể, gồm hai loại vi phạm sau: (a) các hành vi xâm phạm quyền công dân
trong tố tụng hình sự do các cán bộ thuộc cơ quan công an, kiểm sát thực hiện; và (b) các phán
quyết hình sự xâm phạm quyền công dân trong tư pháp hình sự bao gồm các phán quyết hình sự do toà án đưa ra trái với nguyên tắc xét xử nghiêm minh (đúng người, đúng tội, đúng pháp luật).
Hoa Kỳ và Australia đều là những nước theo truyền thống luật án lệ và đều có các tòa án hoạt động trên nguyên tắc tranh tụng. Đây cũng là hai quốc gia có quan điểm miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm của tòa án đối với việc tuyên các bản án oan, sai. Lý do của việc miễn trừ này có những cơ sở khoa học và thực tế. Thứ nhất là , quy trình đào tạo luật và cách thức lựa chọn, bổ nhiệm thẩm phán rất chặt chẽ cùng với những tiêu chuẩn rất cao nên thẩm phán thường là người có trình độ chuyên môn cao, nghiệp vụ vững vàng. Thứ hai là , thủ tục tố tụng (đối tụng) đã hạn chế những rủi ro và sai lầm mà thẩm phán có thể mắc phải trong xét xử. Thủ tục tố tụng (đối tụng) được coi là tương đối hoàn hảo, dựa trên một giả định thực tế là mỗi bên tham gia tố tụng (công tố viên, bị cáo, các bên trong vụ kiện dân sự) đều phải có nghĩa vụ chứng minh lập luận của mình là đúng đắn và phù hợp với các tình tiết của vụ án.
Bộ luật Dân sự Việt Nam ( Điều 624) phân định, về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan và cá
nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc bồi thường thiệt hại như sau: (a) đối với người bị
thiệt hại, cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện các nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ; và (b) s au đó, người có thẩm quyền đã gây thiệt hại và có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ, có trách nhiệm hoàn trả theo luật định khoản tiền mà cơ quan đã bồi thường cho người bị hại. Bằng những quy định đó, luật đã xác định rõ hơn các hoạt động và các cơ quan tố tụng thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định này, đó là cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án và cơ quan thi hành án .
4. Phân định trách nhiệm giữa cơ quan chủ quản và cá nhân
Để phân định trách nhiệm giữa cơ quan chủ quản và cá nhân công chức tiến hành tố tụng gây ra oan sai phải có cơ sở pháp lý cụ thể. Pháp luật một số nước đưa quy định điều chỉnh vấn đề này trên cơ sở áp dụng một số học thuyết như “thuyết trách nhiệm đại diện” và “thuyết chuyển giao lao động tạm thời”.
“Thuyết trách nhiệm đại diện” cho rằng: nhân viên công tác trong cơ quan nhà nước có hành vi vi
phạm pháp luật trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà gây tổn hại thì phải chịu trách nhiệm, nhà nước đã đại diện chi trả tiền bồi thường tổn hại, sau đó nhà nước có quyền thu hồi lại khoản bồi hoàn từ nhân viên có hành vi gây tổn hại.
Theo “thuyết chuyển giao lao động tạm thời” , cũng như trong quan hệ giữa người quản lý lao động và người lao động, trong mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân về những hành vi vi phạm của người mà mình đã uỷ quyền hay đã thuê để người đó thực hiện một công việc nào đó cho Nhà nước. Với cách lập luận như vậy, một khi người công chức có vi phạm gây thiệt hại cho công dân, thì trước hết nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại, còn việc xử lý công chức có vi phạm và trách nhiệm của người công chức đó tới đâu là việc riêng của cơ quan nhà nước (người sử dụng lao động) với công chức (người lao động làm công ăn lương).
Các nước theo truyền thống pháp luật của Anh trước đây và thậm chí hiện tại (Hoa Kỳ) coi trách
nhiệm cá nhân là trách nhiệm tuyệt đối . Nghĩa là, một người trong trong khả năng kiểm soát của
mình đã thực hiện một hành vi nào đó thì sẽ chịu trách nhiệm về tất cả những hậu quả thiệt hại do
hành vi đó gây ra. Tuy nhiên, “thuyết trách nhiệm tuyệt đối” của cá nhân cũng có những vấn đề bất cập khi các mối quan hệ ngày càng phức quan mà thuyết này lại chưa đưa ra được những hạn chế.
Để hạn chế những bất cập đó, một số nguyên tắc khác đã được toà án quyết định và áp dụng. Đó là nguyên tắc thẩm quyền theo pháp luật (legal authority) và nguyên tắc bổn phận theo luật định
(statutory duty) . Theo những nguyên tắc này, có thể phân định được trách nhiệm giữa cơ quan chủ quản với cá nhân công chức tiến hành tố tụng và tránh cho cá nhân công chức khỏi việc phải chịu trách nhiệm tuyệt đối về những hành vi của mình đối với một số việc làm trong khi thi hành công vụ.
Một số quốc gia thành lập chế độ bồi thường, trong đó, cả nhà nước và nhân viên cơ quan nhà nước cùng chịu trách nhiệm bồi thường . ý nghĩa tích cực của việc này là nó tăng cường tính trách nhiệm, thận trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhân viên cơ quan nhà nước, phòng trừ lạm dụng quyền và phát sinh hành vi vi phạm pháp luật. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia thực hiện chế độ Nhà nước đứng ra bồi thường sau đó thu lại khoản bồi hoàn từ nhân viên nhà nước đã gây nên tổn hại trong khi thực thi nhiệm vụ. Bất luận là lỗi vô ý hay cố ý, mọi tổn hại trước tiên đều do Nhà nước bồi thường; Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường, sau đó, căn cứ vào lỗi của cá nhân mà đưa ra mức bồi hoàn tương ứng. Đây chính là quan điểm đang được áp dụng ở Trung Quốc. Tuy nhiên, pháp luật của Trung Quốc chưa đưa ra những quy định cụ thể đối với trình tự bồi hoàn tiền bồi thường, cũng chưa có quy định rõ ràng về vấn đề trợ giúp kinh tế cho những người phải bồi hoàn phí bồi thường. Bồi hoàn tiền bồi thường không phải là hình thức duy nhất nhân viên nhà nước phải chịu trách nhiệm do sai lầm trong khi thực thi nhiệm vụ. Tuỳ theo mức độ vi phạm mà nhân viên nhà nước phải chịu hình thức kỷ luật hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bộ luật Tố tụng hình sự tại Điều 24 xác định hai vấn đề có tính nguyên tắc: (a) Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đối với việc làm trái pháp luật của cơ quan hoặc cá nhân thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét và giải quyết nhanh chóng các khiếu nại, tố cáo đó; (b) Đối với trường hợp làm oan thì cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường và khôi phục danh dự, quyền lợi cho người bị hại; cá nhân có hành vi trái pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý tương xứng với hành vi (kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự).
5. Trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự ở mỗi nước đều có quy định riêng nhưng nhìn chung, các nước đều quy định thủ tục đơn giản, đặc biệt và thời hiệu ngắn. Cơ quan giải quyết bồi thường thiệt hại thông thường là toà án.
Tại Trung Quốc, theo quy định của Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại thì việc giải quyết bồi thường thiệt hại sẽ do Hội đồng bồi thường của Toà án thực hiện. Luật này phân biệt hai trườnghợp: trường hợp thứ nhất: các cơ quan gây thiệt hại tự nguyện đứng ra bồi thường cho người bị hại; trường hợp thứ hai : người bị thiệt hại yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường.
Khi cơ quan có nghĩa vụ bồi thường thấy rằng, những tổn hại thực tế do chính cơ quan mình gây ra thuộc diện phải được bồi thường, thì cần chủ động bồi thường cho người bị hại. Nếu đương sự không đồng ý với quyết định của cơ quan có nghĩa vụ bồi thường thì phải yêu cầu kháng án tới Hội đồng bồi thường của Toà án (Hội đồng bồi thường gồm 3 đến 7 thành viên) hoặc cơ quan cấp trên của cơ quan có nghĩa vụ bồi thường.
Tuy nhiên, nếu cơ quan có nghĩa vụ bồi thường không chủ động thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì
người yêu cầu bồi thường có quyền yêu cầu cơ quan đó phải thực hiện việc bồi thường. Nếu việc gửi đơn có khó khăn, có thể yêu cầu trình bày miệng; nhân viên của cơ quan có nghĩa vụ bồi thường phải tiếp nhận và ghi chép vào sổ nhật ký của cơ quan.
Người yêu cầu bồi thường vì bị bắt giam sai ở giai đoạn khởi tố, xét xử, thì có thể đưa ra yêu cầu bồi thường với bất cứ cơ quan nào trong số các cơ quan cùng có nghĩa vụ bồi thường. Cơ quan nào
nhận được đơn yêu cầu trước thì phải giải quyết việc bồi thường.
Luật cũng quy định thời hạn 2 tháng cho cơ quan tố tụng phải giải quyết bồi thường. Sau thời hạn trên, người bị hại chưa được bồi thường hoặc được bồi thường nhưng chưa thỏa đáng có thời hạn 30 ngày để yêu cầu cơ quan cấp trên xem xét giải quyết và sau đó có thể kiện lên TAND. Hội đồng bồi thường trong thời hạn 3 tháng phải ra quyết định có bồi thường hay không. Quyết định của Hội đồng bồi thường do Chủ tịch Hội đồng bồi thường ký tên và đóng dấu của toà án.
Tại Nhật Bản , Luật Bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự lại quy định một cách cụ thể rằng: Toà án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại là Toà án đã tuyên người đó “vô tội”. Còn theo các quy định về trình tự bồi thường thiệt hại của pháp luật Pháp thì việc giải quyết bồi thường thiệt hại cũng được tiến hành theo một trình tự đặc biệt và thuộc thẩm quyền của Phòng hình sự Toà phá án. Với những quy định này, pháp luật Pháp và Nhật Bản đã không trao thẩm quyền xét xử bồi thường thiệt hại cho các toà án, các cơ quan khác đã gây oan sai nhằm tránh sự không công bằng và thiếu khách quan của các cơ quan này trong việc xem xét yêu cầu và bồi thường thiệt hại cho người bị hại.
Pháp luật tố tụng hình sự của Pháp gắn việc bồi thường thiệt hại cho công dân do oan sai với việc
chứng minh sự vô tội của họ. Vì vậy, việc bồi thường thiệt hại sẽ là kết quả của trình tự xem xét lại bản án. Tuy nhiên, người bị hại và gia đình cũng cần phải thể hiện yêu cầu bồi thường bằng đơn yêu cầu bồi thường.
Tại Hoa Kỳ , thủ tục xét bồi thường thiệt hại cho những trường hợp bị oan sai do các cơ quan tiến
hành tố tụng gây ra tương đối cụ thể. Trước hết, tòa án phải xác định xem nhân viên công quyền có thực hiện hành vi trái pháp luật không và hành vi đó có phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại của công dân không. Các bên liên quan được miễn trách nhiệm trong trường hợp tòa án phát hiện rằng: (a) nhân viên công quyền không thực hiện hành vi sai trái, mặc dù công dân có thể bị thiệt hại; (b) nhân viên công quyền có thực hiện hành vi sai trái nhưng hành vi đó không gây thiệt hại cho công dân; (c) nhân viên công quyền thực hiện hành vi sai trái và hành vi đó gây ra thiệt hại cho công dân nhưng nhân viên đó lại được miễn trách nhiệm theo một số quy định cụ thể khác. Tiếp theo, tòa án phải xác định xem hành vi sai trái của nhân viên có được thực hiện trong khi thi hành công vụ hay không để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan chủ quản. Tòa án phải quyết định về mức độ bồi thường thiệt hại. Mỗi tòa án được quyền tự quyết định về mức độ bồi thường thiệt hại căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án. Bên nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh tổng số các thiệt hại do hành vi sai trái gây ra.
Một ngoại lệ về cơ quan xử lý bồi thường thiệt hại là Thụy Điển . Thụy Điển có một cơ quan của
Chính phủ chuyên trách giải quyết bồi thường cho những người bị oan sai trong tố tụng hình sự. Đó là Văn phòng bồi thường thiệt hại. Văn phòng có 9 luật sư và 4 cán bộ quản lý cùng với một số cán bộ giúp việc. Hiện nay, Văn phòng bồi thường thiệt hại có những chức năng: (a) tư vấn pháp luật cho Chính phủ; (b) giám sát việc các cơ quan nhà nước hạn chế quyền tự do báo chí; (c) đại diện cho Nhà nước trong các vụ kiện dân sự có yếu tố nước ngoài; và (d) xem xét giải quyết việc bồi thường cho người bị bắt, giam giữ và bị tù oan.
Trong pháp luật hiện hành của nước ta, cũng đã có những quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này.
Điều 624 của Bộ luật Dân sự khẳng định trình tự hai bước: cơ quan bồi thường cho người dân và cá nhân bồi hoàn lại cho cơ quan. Lỗi là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi hoàn của cá nhân có thẩm quyền đã gây thiệt hại khi thực hiện nhiệm vụ.
Nghị định số 47-CP ngày 3/5/1997 về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (NĐ số 47) là văn bản hướng dẫn thi hành Điều 623 (bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra) và Điều 624 của Bộ luật Dân sự như đã nêu ở trên. Để cụ thể hoá một số nội dung của Nghị định số
47-CP, Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 54/1998-TT-TCCP ngày 4/6/1998
(TT số 54) Nội dung chính của NĐ số 47 và TT số 54 là cụ thể hoá trình tự, thủ tục giải quyết hai bước: bồi thường thiệt hại và hoàn trả.
Phân tích các quy định của Nghị định 47 về trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại và hoàn trả bồi
thường có thể nhận thấy những điểm mâu thuẫn, không rõ ràng và chưa hợp lý (giữa quy trình giải quyết theo thoả thuận với người bị thiệt hại và quy trình do Hội đồng giải quyết bồi thường thiệt hại thực hiện; thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường lại là người có thẩm quyền quyết định mức bồi thường…). Mặt khác, các quy định hiện hành hoàn toàn chưa giải quyết được các vấn đề đặc thù của việc giải quyết bồi thường thiệt hại đối với trường hợp oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm (độc lập và liên đới) của các cơ quan tiến hành các bước, các giai đoạn tố tụng vốn có mối liên hệ rất mật thiết với nhau. Cho đến nay, vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này.
Về kinh phí bồi thường thiệt hại oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Về phí bồi thường thiệt hại đối với oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra ở các nước cũng có cách tiếp cận khác nhau.
Tại Trung Quốc , Nhà nước bồi thường từ kinh phí của cơ quan có nghĩa vụ bồi thường “Phí bồi
thường được lấy từ ngân sách tài chính các cấp, biện pháp bồi thường cụ thể do Quốc vụ viện quy định” (Điều 29, Luật Nhà nước bồi thường). Phí nhà nước bồi thường do cơ quan có nghĩa vụ bồi thường chi trả trong khoản tiền đã được dự toán của cơ quan đó.
Tại Hoa Kỳ , trong đại đa số các trường hợp, cơ quan phải đứng ra bồi thường là chính quyền địa
phương hoặc chính quyền liên bang chứ không phải cơ quan tố tụng có nhân viên vi phạm. Logic
chung của cách tiếp cận này là ở chỗ, chính quyền địa phương phải là cơ quan chịu trách nhiệm tối cao về mọi hoạt động của các cơ quan công quyền ở địa phương; mọi cơ quan địa phương, trong đó có các cơ quan tố tụng, đều nhận ngân sách hoạt động từ chính quyền địa phương; do vậy, nếu cắt ngân sách để bồi thường thì sẽ ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các cơ quan trên.

Tại bang New South Wales của Australia, Chính phủ thành lập Quỹ bồi thường thiệt hại được đặt dưới sự quản lý của Bộ Tư pháp (Cục trợ giúp người bị hại). Các nguồn thu của Quỹ bao gồm các khoản thu từ tài sản sung công trong các vụ án hình sự, thu từ án ma tuý, ngân sách nhà nước, tiền phạt thu từ việc xử lý hành chính, v.v? Ngoài việc chi bồi thường cho những người bị hại, kể cả phần hỗ trợ cho tư vấn pháp luật, Quỹ này còn được chi cho các hoạt động của Uỷ ban tư vấn, Cục trợ giúp người bị hại và một số hoạt động chuyên môn liên quan khác.
Nghị định số 47- CP ngày 3/5/1997 của Chính phủ là văn bản hướng dẫn thi hành các điều 623 và
624 của Bộ luật Dân sự cũng chỉ quy định chung việc bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức gây ra theo. Ngày 30/3/1998, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 38/1998/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Cơ quan tài chính từng cấp lập dự toán cho phần bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức gây ra và tổng hợp vào mục chi dự phòng của ngân sách cấp mình (Mục 1). Cơ quan tài chính cùng cấp thực hiện việc cấp phát kinh phí cho việc bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào kết luận của Hội đồng xét giải quyết bồi thường thiệt hại và các hồ sơ, chứng từ kèm theo. Đồng thời, cơ quan tài chính cùng cấp mở một tài khoản chuyên thu để thu hồi các khoản hoàn trả bồi thường thiệt hại do các cá nhân gây thiệt hại nộp trực tiếp căn cứ vào kết luận của Hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả bồi thường thiệt hại. Các quy định về lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước tuy có ưu điểm là đơn giản, tập trung một đầu mối ở cơ quan tài chính địa phương nhưng trên thực tế lại không phù hợp với cơ chế quản lí kinh phí theo ngành dọc hiện nay của các cơ quan tiến hành tố tụng.
6. Kết luận và một số kiến nghị
Chế độ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của công chức khi thi hành công vụ gây ra là khái niệm đã ngày càng trở nên quen thuộc trong một nhà nước pháp quyền và trở thành một trong những công cụ để đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội, đặc biệt là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quan hệ với các cơ quan công quyền .
Chế định bồi thường oan sai do các cơ quan tố tụng gây ra là một hiện tượng phổ biến ở các nước.
Chế định này có một đặc trưng chung là (a) trong quan hệ với dân, Nhà nước và cá nhân công chức cùng phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn hại về vật chất và tinh thần của người bị oan sai do công chức đó gây ra khi tiến hành các hoạt động tố tụng . Người bị oan sai có thể là công dân nước đó hoặc người nước ngoài; và (b) tính chịu trách nhiệm của Nhà nước trước dân thể hiện trong các quy định của pháp luật làm căn cứ cho việc phân định trách nhiệm và đảm bảo cho việc bồi thường được giải quyết sao cho đơn giản, nhanh và thuận tiện cho người dân.
Để có cơ sở pháp lý cho việc phân định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những vụ oan sai
do các cơ quan tố tụng gây ra, Nhà nước cần sớm ban hành một văn bản có hiệu lực pháp lý cao (luật hoặc thấp nhất là pháp lệnh) để điều chỉnh toàn diện vấn đề này. Đồng thời, cần xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, các luật về tổ chức Chính phủ, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân để có thể điều chỉnh một cách đồng bộ những vấn đề liên quan trong các văn bản này. Ví dụ, như đề xuất dưới đây về giao cho toà án xem xét và quyết định việc bồi thường thiệt hại cần được bổ sung vào các quy định trong Luật tổ chức Toà án nhân dân.
Riêng về việc phân định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cần nghiên cứu làm rõ hai vấn đề: (a) Thứ nhất là việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng: T rong phạm vi tài liệu tham khảo mà chúng tôi có được, nhiều nước không quy định cụ thể về vấn đề này. Có lẽ, điều đó xuất phát từ quan điểm Nhà nước- với tư cách là đại diện công quyền- phải chịu trách nhiệm bồi thường trước dân, sau đó là vấn đề trách nhiệm bồi hoàn của chính các cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã gây oan sai. Việc phân định trách nhiệm ở mỗi giai đoạn tố tụng cũng cần dựa trên thẩm quyền luật định của từng cơ quan khi ra quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp tố tụng không đủ căn cứ dẫn đến oan sai ở giai đoạn đó; (b) Thứ hai là vấn đề phân định trách nhiệm giữa cơ quan với cá nhân người tiến hành tố tụng gây oan sai: Về cơ bản thì các quy định hiện hành của Bộ luật Dân sự, Nghị định số 47, Thông tư số 54 là hợp lý, có thể giữ lại trong văn bản luật hoặc pháp lệnh sẽ được soạn thảo.
Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại tuy là giai đoạn sau cùng nhưng lại rất quan trọng.
Các nguyên tắc giải quyết bồi thường thiệt hại như: giải quyết phải nhanh chóng, kịp thời, thuận
tiện và công khai với dân; khuyến khích sự tự nguyện thực hiện trách nhiệm bồi thường của các cơ quan và cá nhân tiến hành tố tụng; bảo đảm quyền tham gia và tự quyết định của cá nhân người bị oan sai trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền của người bị oan sai được giải quyết bồi thường cuối cùng bằng một quyết định, bản án của toà án, v.v… cần phải được luật hóa. Thủ tục giải quyết theo phương thức ” Một cửa” của nhiều nước là rất đáng tham khảo và có thể vận dụng ở Việt Nam, vì nó đảm bảo được các nguyên tắc nói trên, đặc biệt là mô hình Hội đồng giải quyết bồi thường của Toà án Trung Quốc. Việc giao cho toà án nhân dân thực hiện trách nhiệm đầu mối giải quyết bồi thường thiệt hại có nhiều ưu điểm như: tạo được cơ chế một cửa mà không phải thành lập thêm một cơ quan mới trong điều kiện cải cách hành chính hiện nay; đội ngũ thẩm phán nhìn chung đã được được đào tạo cơ bản và có nhiều kinh nghiệm trong việc xét xử các vụ việc về bồi thường thiệt hại; thủ tục tố tụng tư pháp do luật định, việc xét xử công khai của toà án là những yếu tố quan trọng để thực hiện được các nguyên tắc giải quyết bồi thường thiệt hại như đã đề cập ở trên. Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, một trong các nguyên tắc phổ biến mà các quốc gia đều phải tuân thủ khi tham gia vào các điều ước quốc tế, đó là: bảo đảm cho công dân các nước thành viên quyền được nhận sự phán xử các vụ việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng một trình tự tố tụng tư pháp.
Bên cạnh những kiến nghị cụ thể trên, cũng cần đầu tư nghiên cứu để có các biện pháp triệt để và
bền vững, làm sao cho số lượng những vụ án oan sai ngày càng giảm xuống. Để làm được việc này,
cần phải có những biện pháp tác động toàn diện tới chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, như: nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của từng chức danh tư pháp; tăng cường trách nhiệm pháp lý đối với từng trường hợp cụ thể được phân công xử lý; đổi mới và thực hiện các chính sách hợp lý về lương bổng, đãi ngộ vật chất; gắn liền trách nhiệm với khen thưởng, kỷ luật đối với đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp./.
————————-
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 2 NĂM 2002

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: