Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP Ở MALAYSIA

THS. HOÀNG VĂN TÚ & TRẦN VĂN THUẬN – Vụ pháp luật Văn phòng Quốc hội

1. Về hệ thống Toà án
Malaysia là một Nhà nước liên bang, vì vậy, mô hình tổ chức của Toà án ở Malaysia cũng có những đặc điểm riêng. Hệ thống Toà án ở Malaysia bao gồm: Toà án liên bang, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm, Toà án xét xử theo phiên, và Toà án địa hạt. Ngoài các Toà án theo thứ bậc tố tụng trên đây, còn có Toà án đặc biệt (1) , Toà án hồi giáo, Toà án của những người bản xứ và Toà án vị thành niên, Toà gia đình.
Toà án liên bang là Toà án cao nhất trong hệ thống Toà án ở Malaysia, bao gồm 11 thẩm phán. Khi xét xử, Hội đồng xét xử thường gồm từ 3-5-7 thẩm phán, nhưng thường thì việc xét xử do một Hội đồng gồm 3 thẩm phán thực hiện. Về mặt thẩm quyền, Toà án liên bang có thẩm quyền tương tự như Toà án thượng thẩm khi xét xử sơ thẩm. Toà án liên bang có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những vụ án hình sự, dân sự của Toà án phúc thẩm bị kháng cáo. Tuy nhiên, các thẩm phán Toà án liên bang có thể về các bang để xét xử lưu động.
Toà án phúc thẩm có vị trí thứ hai về mặt tố tụng sau Toà án liên bang, bao gồm 15 thẩm phán.
Toà án này có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những bản án, quyết định về dân sự, hình sự
của Toà án thượng thẩm có kháng cáo; trừ một số trường hợp không được kháng cáo lên Toà phúc thẩm. Toà án này được thành lập vào năm 1954, nhằm làm giảm bớt sự quá tải của Toà án liên bang.

Toà án thượng thẩm: Malaysia có 2 Toà án thượng thẩm theo khu vực, đó là Toà án thượng thẩm
Sabah và Sarawak, Toà án thượng thẩm Malaya. Toà án thượng thẩm có thẩm quyền xét xử cả sơ
thẩm và phúc thẩm.
Về hình sự, Toà án thượng thẩm có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các tội phạm xảy ra trên địa bàn, chủ yếu là đối với các tội phạm hình sự nghiêm trọng, chẳng hạn như tội buôn bán, vận chuyển ma tuý, tội giết người, các tội theo Luật về vũ khí có khung hình phạt cao nhất đến tử hình. Toà án thượng thẩm cũng thực hiện xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định của Toà án địa phương trong phạm vi địa bàn của mình. Ngoài ra, Toà án thượng thẩm cũng thực hiện giám đốc thẩm về xét xử hình sự đối với các bản án, quyết định của các toà án địa phương.
Về dân sự, Toà án thượng thẩm Malaysia có thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ và thẩm quyền đối với tất cả các vụ việc dân sự, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án địa hạt và Toà án theo phiên xét xử, cụ thể là các vụ án liên quan đến ly hôn, quan hệ vợ chồng, giám hộ, thừa kế, quản lý tài sản, phá sản và các án kiện dân sự khác có giá ngạch từ trên 250.000 Ring git. Toà án thượng thẩm còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những vụ án có kháng cáo từ các Toà án địa hạt và Toà án xét xử theo phiên về hình sự và dân sự. Ngoài ra, Toà án thượng thẩm còn có thẩm quyền kiểm tra, giám sát chung đối với các Toà án địa phương.
Toà án xét xử theo phiên: có thẩm quyền xét xử sơ thẩm về dân sự và hình sự. Về dân sự, Toà án này có thể xem xét bất kỳ vấn đề dân sự nào liên quan tới tai nạn giao thông, tranh chấp thuê nhà đất, thương tích và các vấn đề khác có giá ngạch không quá 250.000 Ring git. Về hình sự, Toà án này có thẩm quyền xét xử đối với tất cả các tội phạm, trừ các tội có mức hình phạt cao nhất là tử hình.
Toà án địa hạt: Toà án này được thành lập ở hầu hết các đô thị tại Malaysia, có thẩm quyền xét xử sơ thẩm về hình sự và dân sự. Theo quy định của Luật về các Toà án địa phương của Malaysia, Thẩm phán Toà án địa hạt có thẩm quyền áp dụng mức hình phạt với thời hạn không quá 5 năm tù, phạt tiền không quá 10.000 Ring git, hoặc có thể quyết định hình phạt đánh roi tối đa là 12 roi trong khi xét xử đối với các tội phạm chỉ có hình phạt tiền là hình phạt chính, tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt không quá 10 năm tù. Về dân sự, thẩm quyền của Toà án này được xác định theo giá ngạch của vụ án, chỉ xét xử những vụ án dân sự có giá ngạch không quá 25.000 Ring git.
Như vậy, có thể nhận xét rằng, việc quy định về thẩm quyền xét xử của hệ thống toà án ngoài việc
căn cứ vào yêu cầu về năng lực, trình độ của đội ngũ thẩm phán, còn tính đến yếu tố phân công công việc nhằm tránh sự quá tải trong hoạt động xét xử ở các cấp toà án. Bên cạnh đó, có một điểm đáng lưu ý khác là hệ thống tư pháp ở Malaysia được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tranh tụng, vì vậy, toà án chủ yếu đóng vai trò trọng tài giữa bên công tố và một bên là bị cáo, luật sư. Vai trò của thẩm phán trong hoạt động xét xử ít nhiều mang tính chất thụ động. Tuy nhiên, khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật Malaysia quy định thẩm phán có vai trò nhất định trong hoạt động điều tra tội phạm, thông qua việc quy định lệnh bắt, lệnh khám xét… của cơ quan điều tra phải được sự đồng ý của thẩm phán.
Về vấn đề bổ nhiệm thẩm phán: Chánh án Toà án liên bang được nhà Vua bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng, trên cơ sở có tham khảo ý kiến của một Hội đồng do nhà Vua thành lập. Việc bổ nhiệm Chánh án Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm cũng như thẩm phán của Toà án liên bang, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm cũng được thực hiện theo cách thức này. Để trở thành thẩm phán Toà án liên bang thì phải là thẩm phán đương nhiệm của Toà phúc thẩm hoặc thượng thẩm và phải có thời gian công tác từ 10 đến 15 năm. Đáng lưu ý là thẩm phán Toà án liên bang, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm được bổ nhiệm suốt đời. Việc bãi nhiệm thẩm phán ở các Toà án liên bang, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm của Malaysia không phải do nhà Vua quyết định, mà được quyết định bởi Nghị viện. ở Malaysia không coi thẩm phán Toà án liên bang là công chức nhà nước, mà thẩm phán được trả lương và có chế độ đãi ngộ riêng theo quy định do Nghị viện ban hành. Những vấn đề này nhằm bảo đảm tính độc lập của Toà án trong hoạt động xét xử.
2. Về cơ quan công tố
Cơ quan công tố ở Malaysia được tổ chức từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Trưởng công tố liên bang. Hệ thống các cơ quan công tố ở Malaysia hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Trưởng công tố liên bang. Theo quy định của Hiến pháp Malaysia, Trưởng công tố liên bang có quyền khởi tố, thực hiện việc truy tố cũng như đình chỉ việc thực hiện thẩm quyền này đối với các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của bất kỳ Toà án nào ở các bang cũng như của Liên bang. Thẩm quyền này cũng thuộc về các công tố viên của Malaysia, các công tố viên cũng có quyền khởi tố trực tiếp đối với các vụ án hình sự theo thẩm quyền, lập bản cáo trạng và thực hiện quyền công tố nhà nước tại Toà án. Trong hoạt động của mình, cơ quan công tố nhấn mạnh đến việc bảo vệ lợi ích công. Cũng tương tự như thẩm quyền của Viện kiểm sát ở nước ta, sau khi nhận được kết quả điều tra từ các cơ quan điều tra, Công tố viên có quyền quyết định việc truy tố hay không truy tố.
Điều đáng lưu ý là hoạt động của công tố viên ở Malaysia, bên cạnh việc được điều chỉnh bởi các
quy định của Hiến pháp liên bang, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật về hoạt động chứng cứ năm 1950, còn được điều chỉnh bởi Quy chế công tố viên và Quy chế về đạo đức hành nghề của công tố viên. Đây cũng là vấn đề mà chúng ta có thể nghiên cứu, tham khảo.
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật Malaysia quy định cơ quan công tố ở Malaysia không trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra. Tuy nhiên, cơ quan công tố ở Malaysia có thể thực hiện việc đưa ra các khuyến nghị đối với cơ quan cảnh sát và các cơ quan thi hành pháp luật khác tiến hành, kể cả việc đưa ra các khuyến nghị trong công tác điều tra của các cơ quan này.
3. Về lực lượng cảnh sát hoàng gia Malaysia và cơ quan điều tra
Lực lượng cảnh sát hoàng gia Malaysia được tổ chức từ trung ương cho tới địa phương. ở 13 bang
và 2 vùng lãnh thổ là Kuala Lumpur và Putra Jaya đều có các sở cảnh sát; sau đó là 134 cơ quan cảnh sát của các quận, huyện (bao gồm 134 quận, huyện) và 728 đồn cảnh sát ở các khu vực. Tổng thanh tra là người đứng đầu lực lượng cảnh sát của Malaysia. Giúp việc cho Tổng thanh tra có Phó Tổng thanh tra. Dưới Tổng thanh tra và Phó Tổng thanh tra là 6 ban chức năng chuyên sâu về các lĩnh vực như quản lý hành chính, giữ gìn trật tự an ninh (ở cấp dưới có 15 đội ở 13 bang và lãnh thổ Kuala Lumpur và Putra Jaya), tham mưu, điều tra tội phạm, phòng chống tội phạm ma tuý…
Cơ quan điều tra tội phạm là một bộ phận nằm trong Bộ Nội vụ Malaysia. Trong đó, nhiệm vụ của cơ quan điều tra tội phạm là đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm và tiến hành việc điều tra.
Theo quy định của pháp luật, những người có thẩm quyền điều tra bao gồm:
– Cảnh sát liên bang Malaysia (cơ quan điều tra);
– Cơ quan chống tham nhũng (điều tra những tội phạm về tham nhũng);
– Hải quan hoàng gia.
Trong đó, cơ quan điều tra thuộc Bộ Nội vụ, được tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương cho đến địa phương; ở địa phương, cơ quan điều tra nằm trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan cảnh sát ở địa phương.
Ngoài ra, pháp luật Malaysia cũng quy định một số cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra những tội phạm liên quan đến hoạt động của mình, đó là Uỷ ban về kinh doanh (điều tra về những vụ việc kinh doanh không giấy phép); Ngân hàng trung ương Malaysia (điều tra những vụ việc liên quan đến gửi tiền bất hợp pháp, chuyển tiền bất hợp pháp); các bộ khác của Chính phủ cũng có thẩm quyền điều tra những vụ việc nhất định trong việc áp dụng những chế tài xử phạt đối với những hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Thẩm quyền điều tra của cảnh sát thuộc về cảnh sát liên bang. Tức là, các điều tra viên không nhân danh đơn vị cảnh sát địa bàn của họ để thực hiện hoạt động điều tra, mà nhân danh cảnh sát liên bang để thực hiện thẩm quyền này. Trong hoạt động của mình, cơ quan điều tra của cảnh sát có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra. Trong hoạt động đấu tranh chống tội phạm, cơ quan điều tra có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn (bao gồm bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú cũng như thực hiện việc khám người, khám nhà hay một địa điểm cụ thể của một người) để phục vụ cho yêu cầu điều tra tội phạm, xác minh thu thập chứng cứ…
Tuy nhiên, khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật Malaysia quy định hoạt động của cơ quan điều tra tội phạm cũng chịu sự chi phối, chỉ đạo nhất định từ phía thẩm phán (như việc bắt người của cơ quan điều tra phải có sự phê chuẩn của thẩm phán, trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người mà có căn cứ cho rằng người này đã hoặc đang chuẩn bị phạm tội; việc khám người, khám nhà, địa điểm khác? đều phải có lệnh của thẩm phán).
Điều đáng lưu ý là pháp luật Malaysia quy định trong trường hợp cơ quan cảnh sát xét thấy không cần thiết phải tạm giữ thì người bị tạm giữ có thể nộp tiền đặt cọc để được tại ngoại, trừ một số trường hợp nhất định mà pháp luật quy định việc cấm đặt cọc.
4. Về tổ chức và hoạt động của nhà tù Kajang
Malaysia có 29 nhà tù. Kajang là một trong những nhà tù lớn nhất của Malaysia, có nhiệm vụ giam giữ và quản lý, giáo dục các phạm nhân đã bị kết án, do Tổng Giám đốc nhà tù đứng đầu. Qua tìm hiểu về tổ chức và hoạt động tại nhà tù Kajang, có thể thấy một số điểm đáng quan tâm là:
– Về vấn đề quá tải trong giam giữ: để giải quyết tình trạng này, nhà tù đã thực hiện các biện pháp:
giam giữ luân chuyển (tức là giam giữ tù nhân một thời gian, sau đó cho tù nhân về nhà một thời
gian nhất định, sau đó lại đưa trở lại trại, tuy nhiên, hình thức này chỉ áp dụng đối với những phạm nhân bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng); tổ chức các trung tâm giáo dục bắt buộc ngoài nhà tù (nơi tổ chức các công việc cho phạm nhân làm vì mục đích công cộng, tương tự như hình thức tổ chức lao động công ích); tổ chức để phạm nhân thực hiện những yêu cầu về những dịch vụ công.
– Vấn đề phân loại đối tượng giam giữ: việc tiến hành việc phân loại phạm nhân để thực hiện việc
giam giữ riêng đã được thực hiện theo hướng: phân loại theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm mà phạm nhân bị kết án để tiến hành giam ở các khu vực khác nhau; giam giữ đối
với người bị kết án tử hình; đặc biệt, đối với phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS (hiện nay ở Malaysia có khoảng 1.700 người bị nhiễm HIV/AIDS) đã thực hiện việc giam giữ riêng.
– Đã thành lập các trung tâm y tế ở các nhà tù, tổ chức chăm sóc sức khoẻ của phạm nhân, tổ chức khám chữa bệnh và chú ý đến vấn đề tiêm phòng cho phạm nhân, nhất là đối với những bệnh có nguy cơ lây nhiễm cao.
– Chú trọng đến vấn đề đào tạo nghề, hướng nghiệp cho phạm nhân trong thời gian ở nhà tù; tổ
chức việc cấp chứng chỉ đào tạo nghề may mặc, đồ mộc, đồ điện? cho phạm nhân.
– Tù nhân được tham gia trong một số hoạt động cung cấp dịch vụ cho hoạt động của nhà tù
(công nghiệp đặc biệt của nhà tù), chẳng hạn trong một số lĩnh vực như: điện, làm bánh mỳ, may
mặc, mây tre…
Ngoài các cơ quan tư pháp đã được nêu ở trên, do hệ thống tư pháp ở Malaysia được tổ chức theo nguyên tắc tranh tụng trong quá trình xét xử nên luật sư và các tổ chức của luật sư ở Malaysia rất được coi trọng và đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình tố tụng. Các luật sư được tổ chức thành Hội đồng Đoàn luật sư ở Liên bang và Đoàn luật sư ở các bang. Đây là những tổ chức xã hội nghề nghiệp, hoạt động theo Luật hành nghề luật sư năm 1976.
5. Về Hội đồng luật sư
Ngoài các cơ quan tư pháp như đã trình bày ở trên, do các cơ quan tư pháp của Malaysia được tổ
chức theo hệ thống tranh tụng, nên, vai trò của luật sư ở Malaysia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động tố tụng và trong xã hội. Tổ chức luật sư ở Malaysia bao gồm Hội đồng Đoàn luật sư ở liên bang và các đoàn luật sư ở các bang. Hội đồng Đoàn luật sư là cơ quan lãnh đạo của các luật sư hành nghề ở Malaysia, được thành lập trên cơ sở quy định của Luật hành nghề pháp luật năm 1976. Hội đồng Đoàn luật sư có chức năng quản lý và giám sát các hoạt động các đoàn luật sư và thực hiện các hoạt động khác, chẳng hạn như việc xây dựng tiêu chuẩn đạo đức ứng xử nghề nghiệp của luật sư…
Trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng Đoàn luật sư Malaysia, Ban thư ký được thành lập có nhiệm vụ thực thi và điều phối các hoạt động về hành chính cũng như các hoạt động khác của Hội đồng.
Đứng đầu Ban thư ký là Giám đốc điều hành, Ban thư ký được chia thành các bộ phận: bộ phận về vấn đề đơn gia nhập Hội đồng Đoàn luật sư; chứng chỉ hành nghề hàng năm; quyền con người; trợ giúp pháp lý; đào tạo; kế toán; hỏi đáp hướng dẫn về nghiệp vụ; hệ thống thông tin- tư liệu về hành nghề luật sư và các bộ phận khác.
Đoàn luật sư được thành lập ở tất cả các bang theo Luật hành nghề luật sư năm 1976, có vị trí tương đối độc lập trong hoạt động, trong quan hệ với Hội đồng Đoàn luật sư. Mỗi Đoàn luật sư đều có tài khoản riêng. Mặc dù Hội đồng Đoàn luật sư trong một số trường hợp nhất định có ủy quyền cho các Uỷ ban của Hội đồng, các Uỷ ban Đoàn luật sư bang quản lý các công việc của Đoàn luật sư, nhưng các uỷ ban Đoàn luật sư bang và các Uỷ ban của Hội đồng không phải là cơ quan độc lập và không có quyền thay mặt Đoàn luật sư trong hoạt động.
Malaysia có số lượng luật sư khá đông đảo. Hiện nay, ở Malaysia có khoảng 11.000 luật sư đang hành nghề, trong khi dân số của Malaysia là trên 22 triệu dân. Số lượng các luật sư tham gia hành nghề ngày càng tăng, ước tính tăng từ 10-15% mỗi năm. Cũng như ở nhiều nước khác, luật sư ở Malaysia bao gồm luật sư tư vấn và luật sư bào chữa với các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo luật định. Việc tham gia của đông đảo đội ngũ luật sư cũng góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Malaysia trong hoạt động tố tụng.
Mặc dù với tính chất là một tổ chức xã hội-nghề nghiệp hoạt động độc lập, không có sự trợ giúp từ ngân sách nhà nước, Hội đồng Đoàn luật sư Malaysia đã thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý cho những người nghèo. Chương trình này được bắt đầu từ năm 1983 và được thực hiện bởi các luật sư tình nguyện là thành viên của Đoàn. Kinh phí cho hoạt động này là từ Quỹ trợ giúp pháp lý trung ương của Hội đồng Đoàn luật sư, Quỹ này được hình thành từ việc đóng góp hàng năm của các thành viên của các Đoàn luật sư.
Do sự khác biệt về hệ thống chính trị của hai nước, về mô hình tổ chức nhà nước và điều kiện kinh tế-xã hội giữa Việt Nam và Malaysia nên sự khác biệt giữa tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp Malaysia và các cơ quan tư pháp của Việt Nam cũng là điều tất yếu. Mặc dù vậy, những yếu tố tích cực về mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp ở Malaysia, cũng như những kinh nghiệm hoạt động của các cơ quan này là những thông tin có giá trị tham khảo bổ ích và cần được nghiên cứu, tham khảo một cách chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta./.
Chú thích:
1. Ở Malaysia có 13 bang và 2 vùng lãnh thổ, các bang và 2 vùng lãnh thổ luân phiên nhau giữ chức Nguyên thủ quốc gia (Vua) theo nhiệm kỳ 5 năm. Mỗi lần có Vua mới đều có những quy định mới ban kèm. Toà án đặc biệt được lập ra để xét xử những hành vi vi phạm những quy định đó hoặc tiết lộ bí mật đời tư của Vua.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2002

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: