QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 37/2006/DS-GDT NGÀY 06 THÁNG 11 NĂM 2006 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VỤ ÁN: "TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ"

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Ngày 06 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản (đòi nhà cho ở nhờ) và tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hàng Nguyệt Hoa, sinh năm 1930;

Trú tại: nhà số 492, đường Thống Nhất, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

B đơn: Ông Sử Chấn Quang, s inh năm 1953;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (hiện đang định cư tại Mỹ).

Người quyn li, nghĩa v liên quan:

1. Bà Sử Thị Đẩu, sinh năm 1927;

Trú tại: nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2. Ông Sử Chấn Hùng, sinh năm 1945 (hiện đang định cư tại Mỹ); uỷ quyền cho anh Sử Chấn Quang đại diện tham gia tố tụng.

3. Bà Sử Thị Vàng, 93 tuổi (đã chết); hiện chưa xác minh được địa chỉ gia đình bà Vàng.

4. Ông Sử Văn Mà, sinh năm 1944 (đã chết); gia đình ông Mà đang trú tại: khu phố 2, phường Đông Hải, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

5. Ông Đào Thân Diệu (Đào Tỷ), sinh năm 1945;

Trú tại: nhà số 490, đường Thống Nhất, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

6. Bà Hàng Quỳnh Hoa, sinh năm 1928;

Trú tại: tổ 7, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Nhn thy:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 -8-1992 và các lời khai tại Toà án trong quá trình giải quyết, bà Hàng Nguyệt Hoa yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Sử Chấn Quang trả lại căn nhà số 1A, hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận mà gia đình bà Hoa đã cho ở nhờ từ năm 1966. Theo bà Hoa thì: cụ Sử Xương Hà và vợ là cụ Diệp Thị có 10 ngườicon trong đó có 2 người đã chết từ nhỏ, 8 người còn lại gồm:

1. Ông Sử Khắc Hiên (đã chết, có con là ông Sử Chấn Quang đại diện thừa kế tham gia tố tụng).

2. Ông Sử Khắc Thọ (đã chết, có con là ông Sử Văn Mà đại diện thừa kế tham gia tố tụng).

3. Ông Sử Bội Nguyên (đã chết, có con là ông Sử Chấn Hùng đại diện thừa kế tham gia tố tụng).

4. Bà Sử Thị Lan (đã chết, có con là bà Hàng Quỳnh Hoa đại diện thừa kế tham gia tố tụng).

5. Bà Sử Thanh An (đã chết, có con là ông Đào Thân Diệu đại diện thừa kế tham gia tố tụng).

6. Ông Sử Bội Trường (đã chết, có vợ là bà Hàng Nguyệt Hoa).

7. Bà Sử Thị Đẩu.

8. Bà Sử Thị Vàng.

Cụ Hà chết khoảng năm 1933, cụ Th ị chết khoảng năm 1942, đều không để lại di chúc. Sinh thời hai cụ tạo lập được căn nhà trên diện tích đất 298,65m2 tại số 52 đường Thống Nhất, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Năm 1945, ngôi nhà trên bị bom phá sập toàn bộ. Năm 1947, ông Sử Bội Trường xây nhà mới trên nền đất cũ (nay là số 286 đường Thống Nhất, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận). Năm 1948, bà Hoa kết hôn với ông Trường. Năm 1957, vợ chồng bà Hoa xây lại nhà thành nhà hai tầng. Năm 1965, vợ chồng bà Hoa tiếp tục sửa chữa phần nhà kho và nhà để xe phía sau thành nhà ở, nay là căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Các lần xây dựng, sửa chữa nhà, ông Trường đều đứng tên xin phép và được chính quyền (cũ) chấp nhận. Năm 1965, ông Trường đề nghị chính quyền (cũ) công nhận quyền sở hữu của ông đối với nhà đất. Tại bản án số 39/65 ngày 15-4-1965, Toà hoà giải rộng quyền Ninh Thuận (chế độ cũ) công nhận ông Trường là chủ sở hữu nhà đất tại phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (gồm cả căn nhà số 286 đường Thống Nhất và căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học). Năm 1966, ông Trường cho cháu ruột là ông Sử Chấn Quang về ở nhờ tại căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học. Năm 1966, ông Trường chết.

Tr•ớc khi chết, ông Trường lập di chúc đề ngày 15 -4-1966 cho vợ là bà Hoa sở hữu toàn bộ nhà đất, sau đó bà Hoa đứng tên kê khai nhà đất và được Ty trước

bạ xác nhận. Bà Hoa đã nhiều lần yêu cầu ông Quang dời nhà đi nơi khác, nhưng gia đình ông Quang vẫn ở tại căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học từ đó đến nay.

Năm 1970, các ông, bà Sử Chấn Quang, Sử Văn Mà, Sử Thị Đẩu, Sử Thanh An, Sử Thị Lan khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Hà, cụ Thị là toàn bộ nhà đất tại số 286 đường Thống Nhất, phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang -Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Tại bản án sơ thẩm số 29/TT ngày 27 -4-1972, Toà án tỉnh Ninh Thuận (chế độ cũ) quyết định bác yêu cầu chia thừa kế của các đ•ơng sự đối với nhà đất trên.

Các đương sự kháng cáo ngày 10-5-1972.

Tại bản án số 454 ngày 14-11-1973, Toà th•ợng thẩm Huế (chế độ cũ) quyết định công nhận phần xây dựng căn nhà tại số 286 đường Thống Nhất (bao gồm cả căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học) là của bà Hoa, còn nền đất là di sản thừa kế của cụ Hà, cụ Thị để phân chia cho các thừa kế.

Bà Hoa khiếu nại bản án trên, nhưng chưa được giải quyế t và bản án cũng chưa được thi hành thì giải phóng Miền Nam. (Gia đình bà Hoa vẫn ở tại căn nhà số 286 đường Thống Nhất và gia đình ông Quang vẫn ở tại căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học).

Sau khi giải phóng Miền Nam, bà Hoa tiếp tục khiếu nại.

Tại Quyết đị nh số 30 ngày 14 -7-1975, Uỷ ban quân quản thị xã Phan Rang quyết định công nhận quyền sở hữu của bà Hoa đối với toàn bộ căn nhà trên, đồng thời buộc ông Quang trả lại cho bà Hoa căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học. Năm 1977 và năm 1982, bà Hoa đứng tên kê kh ai, nộp thuế toàn bộ nhà đất. Năm 1982, ông Quang cũng kê khai phần nhà đất ông đang quản lý. Năm 1990, bà Hoa làm thủ tục xin hợp thức hoá toàn bộ nhà đất. Tại Quyết định số 1618 ngày 1-8-1990, Sở xây dựng tỉnh Thuận Hải (cũ) công nhận bà Hoa là chủ sở hữu căn nhà số 286 đường Thống Nhất trên diện tích đất 247m2 (bao gồm cả diện tích đất của căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học mà ông Quang đang sử dụng).

Ông Sử Chấn Quang và những ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận lời khai của bà Hoa về quan hệ gia đình và đồng thời có yêu cầu phản tố đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ Hà, cụ Thị để lại là toàn bộ nhà đất số 286 đường Thống Nhất. Theo ông Quang và những ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày thì căn nhà 52 đường Thống Nhất của cụ Hà, cụ Thị tạo lập chỉ bị bom đánh sập phần nhà phía tr•ớc vào năm 1945, còn phần nhà phía sau nay là căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học do vợ chồng bà Sử Thị Đẩu xây dựng từ năm 1944 vẫn nguyên vẹn. Các bà Sử Thị Lan, Sử Thị Vàng, Sử Thanh An, Sử Thị Đẩu đã góp tiền để ông Trường (là con trai) đứng tên xây dựng lại nhà. Năm 1957, ông Trường sửa chữa nhà, sau đó đến năm 1965 thì nộp đơn yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu nhà đất mà không có ý kiến đồng ý của các anh em trong gia đình. Năm 1965 , ông Quang và gia đình chuyển đến sống tại căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học vì ông Quang là cháu đích tôn của hai cụ. Năm 1973, Toà th•ợng thẩm Huế đã xác nhận phần đất trên có hai căn nhà là di sản thừa kế của cụ Hà, cụ Thị để phân chia cho 8 đồng thừa kế, nhưng bản án chưa được thi hành. Sau giải phóng Miền Nam, bà Hoa đã tự kê khai để hợp thức hoá nhà đất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/DSST ngày 16-3-1994, Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định:

Bà Hàng Nguyt Hoa được quyn s hu ngôi nhà 286 Thng Nht, phường M Hương, th Phan Rang Tháp Chàm, tnh Ninh Thun trên din tích đất s dng là 159,45m2 v trí:

Đông giáp: đường Thng Nht.

Tây giáp: nhà 1A hm Nguyn Thái Hc. Nam giáp: nhà 288 đường Thng Nht. Bc giáp: nhà 284 đường Thng Nht.

Ông S Chn Quang được quyn s hu ngôi nhà 1A hm Nguyn Thái Hc hin ông đang , trên din tích đất s dng là 139,20m2. Ông S Chn Quang có nghĩa v hoàn tr cho bà Hàng Nguyt Hoa s tin là 53.155.000 đồng tr giá căn nhà 1A hm Nguyn Th ái Hc.

Bà Hàng Nguyt Hoa nghĩa v tr tin chia tha kế cho:

1. Bà S Th Đẩu 32.725.000 đồng, do ông S Chn Quang được u quyn nhn thay.

2. Bà S Th Vàng 32.725.000 đồng.

3. Ông S Khc Hiên 32.725.000 đồng, do ông S Chn Quang đại din tha k ế hp pháp nhn thay.

4. Ông S Khc Th 32.725.000 đồng, do ông S Văn Mà đại din tha kế hp pháp nhn thay.

5. Ông S Bi Nguyên 32.725.000 đồng, do ông S Chn Quang đại din cho ông S Chn Hùng (con ông S Bi Nguyên) u quyn nhn thay.

6. Bà S Th Lan 32.725.000 đồng, do bà Hàng Qunh Hoa đại din tha

kế hp pháp nhn thay.

7. Bà S Thanh An 32.725.000 đồng, do ông Đào Thân Diu (Đào T) đại din tha kế hp pháp nhn thay.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đ•ơng sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 23-3-1994, bà Hàng Nguyệt Hoa kháng cáo không đồng ý chia thừa kế nhà đất.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 264/DSPT ngày 22-12-1994, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Đình ch vic xét x phúc thm đối vi v kin tranh chp di sn tha kế gia nguyên đơn bà Hàng Nguyt Hoa, b đơn ông S Chn Quang. nguyên đơn kháng cáo nhưng được triu tp hp l đến ln th hai mà vn vng mt không do chính đáng.

Bn án dân s sơ thm s 01/DSST ngày 1631994 ca Toà án nhân dân tnh Ninh Thun hiu lc thi hành.

Sau khi có bản án phúc thẩm, bà Hàng Nguyệt Hoa khiếu nại.

Tại Quyết định số 233/KNDS ngày 28 -7-1995, Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 264/DSPT ngày 22 -12-1994 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại.

Tại Kết luận số 318 ngày 5-10-1995, Viện tr•ởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 65/DS ngày 3-11-1995, Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: Huỷ bản án dân sự phúc thẩm

số 264/DSPT ngày 22 -12-1994 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 306/DSPT ngày 31-12-1996, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Gi nguyên quyết định ca bn án dân s sơ thm s 01/DSST ngày 1631994 ca Toà án nhân dân tnh Ninh Thun.

Bà Hàng Nguyt Hoa được s hu ngôi nhà 286 Thng Nht, phường M Hương, th Phan Rang Tháp Chàm, tnh Ninh Thun trên din tích đất là 159,45m2 v trí như trong sơ đồ kèm theo h sơ.

Ông S Chn Quang được quyn s hu ngôi nhà 1A hm Nguyn Thái Hc hin ông đang , trên din tích đất s dng là 139,20m2 nhưng ông Quang phi hoàn tr cho bà Hàng Nguyt Hoa giá tr xây dng nhà và giá tr quyn s dng đất tng cng là 53.155.000 đồng.

Bà Hàng Nguyt Hoa nghĩa v thanh toán phn tha kế cho nhng ngườiđược ng tha kế gm:

1. Bà S Th Đẩu 32.725.000 đồng, do ông S Chn Quang được u quyn nhn thay.

2. Bà S Th Vàng 32.725.000 đồng.

3. Ông S Khc Hiên 32.725.000 đồng, do ông S Chn Quang đại din tha kế hp pháp nhn thay.

4. Ông S Khc Th 32.725.000 đồng, do ông S Văn Mà đại din tha kế hp pháp nhn thay.

5. Ông S Bi Nguyên 32.725.000 đồng, do ông S Chn Quang đại din cho ông S Chn Hùng (con ông S Bi Nguyên) u quyn nhn thay.

6. Bà S Th Lan 32.725.000 đồng, do bà Hàng Qunh Hoa đại din tha kế hp pháp nhn thay.

7. Bà S Thanh An 32.725.000 đồng, do ông Đào Thân Diu (Đào T) đại din tha kế hp pháp nhn thay.

Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi có bản án phúc thẩm, bà Hàng Nguyệt Hoa khiếu nại cho rằng

Quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là đúng pháp luật; việc Toà án cấp phúc thẩm xác định diện tích đất trên đó có căn nhà số 286 đường Thống Nhất và căn nhà 1A hẻm Nguyễn Thái Học là di sản thừa kế của cụ Hà, cụ Thị để phân chia cho các con của hai cụ là không đúng pháp luật.

Tại Quyết định số 24/KNDS ngày 17-3-1998, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 306/DSPT ngày 31 -12-1996 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định kháng nghị đánh máy nhầm là bản án dân sự phúc thẩm số 308/DSPT) với nhận định:

Bn án sơ thm và phúc thm x công nhn quyn s hu ca bà Hàng Nguyt Hoa đối vi ngôi nhà 286 đường Thng Nht và căn nhà 1A hm Nguyn Thái Hc là căn c, đúng pháp lut.

Riêng phn din tích đất ca căn nhà 286 đường Thng Nht và căn nhà 1A hm Nguyn Thái Hc, phường M Hương, th xã Phan Rang, tnh Ninh Thun do ông Trường xây dng trên nn đất ca ngôi nhà 52 đường Thng Nht ca c Hà và c Th đã b bom đánh sp hoàn toàn t năm 1945. Quá trình ông Trường xây dng, sa cha hai căn nhà đều được chính quyn (cũ) cho phép và khi đó nhng ngườicon khác ca c Hà và c Th không ai ý kiến phn đối.

Trưc khi chết, ông Trường đã lp di chúc giao toàn b tài sn trên cho bà Hàng Nguyt Hoa (là v) s hu. Thc tế bà Hoa đã ti căn nhà 286 phường Thng Nht t năm 1947, đã np thuế, khai theo quy định ca Nhà c.

Đến năm 1990 bà Hoa được S xây dng tnh Thun Hi (cũ) cp giy chng nhn quyn s hu nhà 286 đường Thng Nht, trong đó có c nhà 1A hm Nguyn Thái Hc. Do đó bà Hoa quyn s dng din tích đất ca c hai căn nhà này. Bn án dân s sơ thm s 01/DSST ngày 1631994 ca Toà án nhân dân tnh Ninh Thun và bn án dân s phúc thm s 306/DSPT ngày 31 121996 ca Toà phúc thm Toà án nhân dân ti cao ti thành ph H Chí Minh li xác định giá tr nn đất nhà trên là di sn tha kế ca c Hà và c Th để chia cho nhng ngườicon ca hai c là không căn c pháp lut. Tuy nhiên xét căn nhà 1A hm Nguyn Thái Hc, ông Quang đã n định t năm 1966 đến nay, ông Quang không ch nào khác, vy giao cho ông Quang s hu nhưng phi thanh toán giá tr nhà và đất cho bà Hoa là đúng pháp lut. Bn án phúc thm áp dng biên bn định giá nhà ngày 24121993 để buc ông Quang thanh toán giá tr đất, nhà cho bà Hoa là chưa đảm bo quyn li ca ông Quang, nay thy cn phi x theo khung giá đất ca UBND tnh quy định.

các l trên, đề ngh U ban Thm phán Toà án nhân dân ti cao xét x theo th tc giám đốc, hu bn án dân s sơ thm s 01/DSST ngày 16-31994 ca Toà án nhân dân tnh Ninh Thun và bn án dân s phúc thm s 306/DSPT ngày 31 121996 ca Toà phúc thm Toà án nhân dân ti cao ti thành ph H Chí Minh; giao h sơ cho Toà án nhân dân tnh Ninh Thun xét x li theo h•ng đã phân tích trên.

Tại Quyết định số 08/UBTP-DS ngày 7-4-1998, Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quyết định:

Tm đình ch vic gii quyết v án dân s v tha kế nhà đất nguyên đơn là bà Hàng Nguyt Hoa và b đơn là anh S Chn Quang cho đến khi có Ngh quyết ca U ban th•ng v Quc hi v các giao dch dân s v nhà được xác lp trưc ngày 1 7-1991.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 01/DSST ngày 16-3-1994 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận và bản án dân sự phúc thẩm số 306/DSPT ngày 31-12-1996 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Xét thy:

Ngày 26-8-1992, bà Hàng Nguyệt Hoa khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Sử Chấn Quang trả lại căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học mà gia đình bà đã cho ông Quang ở nhờ từ năm 1966. Quá trình giải quyết vụ án, ông Quang và những ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ Sử X•ơng Hà, cụ Diệp Thị để lại gồm toàn bộ nhà đất tại phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận mà gia đình bà Hoa và gia đình ông Quang đang quản lý, sử dụng nhưng không nộp tiền tạm ứng án phí. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 306/DSPT ngày 31-12-1996, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp quyền sở hữu nhà đất nhưng lại giải quyết cả quan hệ về thừa kế là chưa chính xác. Do đó, cần phải xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp, nếu bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Hà, cụ Thị thì cần phải yêu cầu họ nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định của pháp luật.

Từ năm 1947, ông Sử Bội Trường đã tiến hành xây nhà mới, sửa chữa nhà mới trên nền đất diện tích 298,65m2 có nguồn gốc do cụ Hà, cụ Thị tạo lập tại phường Mỹ Hương, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Việc xây dựng, sửa chữa nhà được chính quyền (cũ) cho phép và công nhận, trong khi những ngườicon khác của cụ Hà , cụ Thị không ai có ý kiến phản đối. Tr•ớc khi chết, ông Trường lập di chúc cho bà Hoa được sở hữu toàn bộ nhà đất và bà Hoa trực tiếp quản lý nhà đất. Tại Quyết định số 30 ngày 14-7-1975, Uỷ ban quân quản thị xã Phan Rang -Tháp Chàm công nhận quyền sở hữu của bà Hoa đối với toàn bộ căn nhà trên đồng thời buộc ông Quang trả lại cho bà Hoa căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học. Năm 1990, bà Hoa được Sở xây dựng tỉnh Thuận Hải (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 286 đường Thống Nhất, trong đó gồm cả nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học. Tuy nhiên, khi giải quyết lại vụ án Toà án cấp sơ thẩm cũng phải xem xét kỹ chứng cứ, tài liệu về việc ông Quang, bà Đẩu và các đ•ơng sự khác cho rằng nhà cũ chỉ bị sập một phần và nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học do các đ•ơng sự gó p tiền xây dựng…

Về đất đang có tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nguồn gốc đất là của cụ Hà, cụ Thị nhưng nhà của hai cụ đã bị bom phá sập từ năm 1945, sau đó ông Trường đã xây dựng lại nhà. Chính quyền chế độ cũ có lúc công nhận, có lúc không công nhận ông Trường, bà Hoa có quyền sử dụng đất, còn chính quyền Nhà nước ta thì ngay từ khi giải phóng đã công nhận toàn bộ nhà đất là của bà Hoa. Do đó, nếu trong quá trình giải quyết vụ án mà bị đơn và những ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xuất trình được chứng cứ mới thì phải công nhận bà Hoa là ngườicó quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong thực tế vợ chồng bà Hoa đã đồng ý cho ông Quang ở tại căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học từ năm 1966 và ông Quang đã sinh sống ổn định tại căn nhà này; khi còn sống, ông Trường cũng không yêu cầu ông Quang trả lại nhà. Hơn nữa, sau khi Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm xác định giao cho ông Quang tiếp tục được sở hữu căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học và chỉ phải thanh toán lại cho bà Hoa giá trị xây dựng căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học thì bà Hoa đã đồng ý và cho rằng quyết định của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là đúng pháp luật. Do đó, phải xác minh làm rõ việc ông Quang vào ở tại căn nhà số 1A hẻm Nguyễn Thái Học là do ông Trường cho hay cho ở nhờ, từ đó mới đủ căn cứ giải quyết vụ án hợp tình, hợp lý. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào bản án của Toà th•ợng thẩm Huế (chế độ cũ) và lời khai của bị đơn, ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xác định quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của cụ Hà, cụ Thị để phân chia cho các thừa kế là chưa có căn cứ vững chắc.

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ông Sử Bội Nguyên (đã chết) có con là ông Sử Chấn Hùng đang sinh sống tại Mỹ, vì vậy phải áp dụng các quy định của Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27 -7-2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài tham gia để giải quyết vụ án thì mới đảm bảo quyền của đương sự. Ngoài ra, cũng cần phải xác định chính xác tư cách tham gia tố tụng của các đương sự hiện nay và yêu cầu của họ theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Mặt khác, do vụ án đã bị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tạm đình chỉ việc giải quyết theo quy định của pháp luật từ năm 1998 và giá nhà đất đã có biến động lớn nên cần thiết phải định giá lại theo giá thị Trường mới đảm bảo quyền lợi của đ•ơng sự và phù hợp với thực tế.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và khoản 2 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia;

Quyết đnh:

Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 306/DSPT ngày 31-12-1996 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 01/DSST ngày 16-3-1994 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

———————

do hu bn án sơ thm và bn án phúc thm:

1. Cần xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp;

2. Cần điều tra, xác minh lại một số tài liệu, chứng cứ trong vụ án;

3. Cần định giá lại tài sản theo giá thị Trường.

Nguyên nhân dn đến vic hu các bn án sơ thm và phúc thm:

1. Thiếu sót trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp khi thụ lý và giải quyết vụ án;

2. Thiếu sót trong việc thu thập, xác minh và đánh giá chứng cứ;

3. Do thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài.

SOURCE: SOURCE: CÁC QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO NĂM 2006 – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VÀ CƠ QUAN PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ HOA KỲ (USAID). 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: