LUẬT VỀ CƠ QUAN CÔNG TỐ HÀN QUỐC

Đã được sửa đổi, bổ sung bằng luật số:

– 3382 ngày 31/12/1986

-4043 ngày 31/12/1988

– 4395 ngày 22/11/1991

– 4961 ngày 4/8/1995

– 5430 ngày 13/12/1997

 

CHƯƠNG I – NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1: Mục đích

Luật này quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, nhân sự và những vấn đề khác của cơ quan công tố.

Điều 2: Viện công tố

1. Văn phòng Công tố có nhiệm vụ giám sát tất cả mọi hoạt động của các Công tố viên

2. Các Văn phòng Công tố bao gồm: Viện công tố tối cao, Viện công tố cấp cao và Viện công tố cấp quận.

Điều 3: Vị trí và thẩm quyền theo lãnh thổ của Viện công tố

Viện công tố tối cao ngang cấp với Toà án tối cao, Viện công tố cấp cao ngang cấp với với Toà án phúc thẩm, Viện công tố quận ngang cấp với Toà án quận và Toà án gia đình.

Trong một khu vực có chi nhánh của Toà án quận thì cũng có chi nhánh Văn phòng Viện công tố quận tương đương (sau đây gọi là Văn phòng chi nhánh) thành lập ở đó.

Vị trí, tên gọi của Viện công tố tối cao và của các Viện công tố khác và các chi nhánh của nó được Tổng thống quyết định bằng Sắc lệnh.

Thẩm quyền theo lãnh thổ của mỗi Viện công tố và chi nhánh của nó tương ứng với mỗi Toà án và chi nhánh Toà án cấp tương đương.

Điều 4: Nhiệm vụ của Công tố viên

Các Công tố viên có những nhiệm vụ và được ủy quyền đại diện cho quyền lợi công theo những quy định sau:

1. Điều tra các tội phạm, thực hành quyền công tố và thực hiện những công việc cần thiết để duy trì quyền hạn đó.

2. Hướng dẫn và giám sát công tác của nhân viên cảnh sát có liên quan đến việc điều tra các tội phạm.

3. Yêu cầu Toà án áp dụng pháp luật và các văn bản dưới luật một cách đúng đắn.

4. Hướng dẫn và giám sát việc thi hành các bản án hình sự

5. Xác lập, hướng dẫn, giám sát các vụ kiện dân sự và tố tụng hành chính với tư cách người bảo vệ quyền lợi của Nhà nước hoặc với tư cách là một bên trung gian và thực hiện những quy định tại các luật và các văn bản dưới luật khác.

Trong khi thi hành công vụ, Công tố viên phải giữ thái độ trung lập về chính trị, trung thành với nhân dân và không được lạm dụng quyền hạn mà pháp luật trao cho họ.

Điều 5: Thẩm quyền theo lãnh thổ nơi Công tố viên thực hiện nhiệm vụ

Trừ những quy định của luật và các văn bản dưới luật khác, Công tố viên phải thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền của Viện công tố nơi họ công tác. Quy định rằng nếu đòi hỏi phải tiến hành điều tra thì họ có thể thực hiện nhiệm vụ bên ngoài phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

 

Điều 6: Cấp bậc của Công tố viên

Cấp bậc của Công tố viên được phân thành: Tổng trưởng công tố, Công tố viên trưởng cấp cao, Công tố viên trưởng và Công tố viên (được sửa đổi, bổ sung bằng luật số 4543 ngày 10/3/1993).

Điều 7: Nguyên tắc tập trung thống nhất của Công tố viên

1. Công tố viên phải chấp hành mọi mệnh lệnh của cấp trên về những vấn đề liên quan đến công việc.

2. Tổng trưởng công tố, Công tố viên trưởng cấp cao của mỗi Viện công tố hoặc Công tố viên trưởng của chi nhánh đều có nhân viên dưới quyền và những nhân viên này thực hiện công việc của mình dưới sự giám sát của cấp trên.

3. Tổng trưởng công tố, Công tố viên trưởng của mỗi Viện công tố hoặc chi nhánh Viện công tố có thể tự mình thực hiện công việc hoặc thực hiện công việc của cấp dưới hay ra lệnh cho cấp dưới thực thi những nhiệm vụ đó.

Điều 8: Hướng dẫn và giám sát của Bộ trưởng Bộ Tư pháp

Bộ trưởng Tư pháp là cấp trên cao nhất của ngành công tố có nhiệm vụ hướng dẫn và giám sát chung các Công tố viên. Đối với từng vụ án cụ thể thì chỉ giám sát và hướng dẫn Tổng trưởng công tố.

Điều 9: Trợ giúp qua lại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

Các nhân viên của Viện công tố phải trợ giúp người khác trong việc thi hành nhiệm vụ của Viện công tố.

Điều 10: Kháng nghị và xem xét lại các quyết định

1. Những người khiếu nại hay bị cáo không nhất trí với một quyết định không cấu thành việc truy tố có thể đệ đơn bằng văn bản lên Viện trưởng Viện công tố cấp cao có thẩm quyền thông qua Viện công tố cấp quận hoặc chi nhánh Viện công tố mà Công tố viên đó công tác. Trong trường hợp này, nếu Công tố viên Viện công tố quận hoặc chi nhánh cho rằng việc kháng nghị như vậy có những căn cứ hợp lý thì phải sửa lại quyết định của mình.

2. Nếu Công tố viên trưởng của Viện công tố cấp cao cho rằng kháng nghị được nêu ở khoản 1 là xác đáng thì ông ta có thể hướng dẫn trực tiếp nhân viên thuộc quyền sửa lại quyết định đã không tạo ra một hành động công của Công tố viên Viện công tố cấp quận hay chi nhánh. Trong trường hợp này, Công tố viên của Viện công tố cấp cao sẽ thực hiện những nhiệm vụ của Công tố viên cấp quận hay chi nhánh Viện công tố (được bổ sung bằng Luật số 5430 ngày 13/12/1997).

3. Bất kỳ người khiếu nại nào bất đồng với quyết định từ chối xem xét kháng nghị được nêu ở đoạn 1 có thể đệ trình văn bản kháng nghị lại lên Tổng trưởng công tố thông qua Viện công tố cấp cao, nơi Công tố viên đã từ chối đó công tác. Trong trường hợp này, nếu Công tố viên của Viện công tố cấp cao cho rằng việc tái kháng nghị có cơ cở xác đáng thì anh ta sẽ xem xét lại quyết định của mình.

4. Bản kháng nghị và tái kháng nghị theo quy định của luật như đã đề cập ở khoản 1 và 3 phải được hoàn thành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo theo quy định của Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối đơn kháng nghị. Nếu người chống án không làm đơn kháng nghị hoặc tái kháng nghị trong thời hạn nêu trên theo đúng thời hạn luật định bởi những lý do bất khả kháng thì thời hạn kháng nghị sẽ được tính lại kể từ khi tình huống bất khả kháng đó chấm dứt. (được bổ sung bằng Luật số 5430 ngày 13/12/1997).

5. Tất cả những đơn kháng nghị và tái kháng nghị nêu ở đoạn 4 ở trên sẽ bị từ chối trừ trường hợp phát hiện những bằng chứng quan trọng mới và người kháng nghị hoặc bị cáo giải thích rõ ràng được nguyên nhân chậm trễ. (được bổ sung bằng Luật số 5430 ngày 13/12/1997).

6. Nếu kháng nghị trong trường hợp như quy định tài Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự đã được đệ trình mà bị bác trước khi Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực thì có thể đệ trình 1 bản kháng nghị mới theo thời hạn như trong khoản 4. (được bổ sung bằng Luật số 5430 ngày 13/12/1997).

7. Nếu một người kháng nghị yêu cầu quyết định của Toà án thì kháng nghị của người đó có thể bị xem xét để rút lại.

Điều 11: Quy định về ủy quyền

Những vấn đề cần thiết cho công tác của Viện công tố sẽ được xác định bằng Sắc lệnh của Bộ Tư pháp.

CHƯƠNG II – VIỆN CÔNG TỐ TỐI CAO

Điều 12: Tổng trưởng công tố

1. Tổng trưởng công tố có quyền phân công công việc đối với Viện công tố tối cao.

2.Tổng trưởng công tố chịu trách nhiệm về những công việc của Viện công tố tối cao, thực hiện quyền điều hành chung tất cả các công việc của Viện công tố, trực tiếp hướng dẫn và giám sát các công chức của các Viện công tố.

3. Nhiệm kỳ của Tổng trưởng công tố là 2 năm và sẽ không được bổ nhiệm lại (được bổ sung bằng Luật số 4043 ngày 31/12/1988).

4. Tổng trưởng công tố không được bổ nhiệm vào bất kỳ cương vị quan chức nào trong thời hạn 2 năm kể từ ngày từ nhiệm (được bổ sung bằng Luật số 5263 ngày 13/1/1997){Đoạn này đã bị bãi bỏ bằng phán quyết của Toà án Hiến pháp vì cho rằng không hợp hiến trong phán quyết ngày 16/7/1997}.

5. Tổng trưởng công tố không được khuyến khích hay tham gia bất kỳ đảng phái chính trị nào trong thời hạn 2 năm kể từ ngày từ nhiệm (được bổ sung bằng Luật số 5263 ngày 13/1/1997){Đoạn này đã bị bãi bỏ bằng phán quyết của Toà án Hiến pháp vì cho rằng không hợp hiến trong phán quyết ngày 16/7/1997}.

Điều 13: Phó Tổng trưởng công tố

1. Phó Tổng trưởng công tố được bổ nhiệm trong số các Công tố viên cấp cao và có quyền phân công công tác trong Viện công tố tối cao.

2. Phó Tổng trưởng công tố trợ giúp cho Tổng trưởng công tố và thực hiện nhiệm vụ của Tổng trưởng công tố trong trường hợp Tổng trưởng công tố bị tai nạn hay đột tử.

Điều 14: Công tố viên của Viện công tố tối cao

Các Công tố viên của Viện công tố tối cao bao gồm các Công tố viên trưởng ở địa phương được bổ nhiệm làm Công tố viên của Viện công tố tối cao.

Điều 15: Nhân viên nghiên cứu của Viện công tố tối cao

1. Viện công tố tối cao bao gồm các nhân viên nghiên cứu công tố

2. Các nhân viên nghiên cứu được bổ nhiệm trong số các Công tố viên và họ có thể cùng lúc đảm đương cương vị Công tố viên của Viện công tố cấp quận hoặc Công tố viên của Viện công tố cấp cao (được bổ sung bằng luật số 4543 ngày 10/3/1993).

3. Nhân viên nghiên cứu công tố có trách nhiệm giúp việc cho Tổng trưởng công tố hoạch định kế hoạch và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác công tố.

Điều 16: Tổ chức của Viện công tố

1. Viện công tố tối cao có các Vụ và 1 Cục hành chính, trong Cục Hành chính và các vụ có các Ban. Cục Hành chính và các Ban được thành lập theo Sắc lệnh của Tổng thống.

2. Các Vụ trưởng, Tổng giám đốc Cục Hành chính và các Trưởng Ban được phân công phụ trách các đơn vị như đã nêu ở khoản 1. Các Vụ trưởng được bổ nhiệm trong số các Công tố viên trưởng; Tổng giám đốc Cục Hành chính được bổ nhiệm trong số các quan chức thực hiện chức năng quản lý hoặc nhân viên công tố hành chính bậc 2; Các Trưởng Ban được bổ nhiệm trong số nhân viên hành chính và điều tra bậc 4, các nhân viên kỹ thuật và tin học. Các Trưởng Ban thuộc các Vụ có thể được bổ nhiệm trong số các Công tố viên.

3. Vụ trưởng, Tổng giám đốc Cục Hành chính và Trưởng Ban như đã quy định tại khoản 2 do cấp trên chỉ đạo và điều hành, chịu trách nhiệm về công tác của đơn vị mình như các Vụ, Ban và Cục Hành chính; trực tiếp giám sát các nhân viên thuộc quyền.

 

CHƯƠNG III-VIỆN CÔNG TỐ CẤP CAO

Điều 17: Viện công tố cấp cao

1. Mỗi Viện công tố cấp cao có một Viện trưởng được bổ nhiệm trong số các Công tố viên trưởng cao cấp.

2. Viện trưởng Viện công tố cấp cao chịu trách nhiệm về mọi công việc trong cơ quan mình. Trực tiếp điều hành và giám sát các nhân viên thuộc quyền.

Điều 18: Phó Viện trưởng Viện công tố cấp cao

1. Mỗi Viện công tố cấp cao có một Phó Viện trưởng được bổ nhiệm trong số các Công tố viên trưởng.

2. Phó Viện trưởng Viện công tố cấp cao có trách nhiệm trợ giúp cho Viện trưởng và thay mặt Viện trưởng thực hiện những công việc của Viện trưởng trong trường hợp Viện trưởng không thể đảm đương công việc.

Điều 18-2: Trưởng phòng của Viện công tố cấp cao

1. Mỗi Viện công tố cấp cao có các Phòng thực hiện một phần công việc của cơ quan.

2. Mỗi Phòng của Viện công tố cấp cao có một Trưởng phòng.

3. Trưởng phòng chịu sự điều hành của cấp trên và có quyền điều hành các công việc của Phòng mình (được bổ sung bằng luật số 5430 ngày 13/12/1997).

Điều 19: Công tố viên của Viện công tố cấp cao

1. Mỗi Viện công tố cấp cao có một số Công tố viên

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể phân công một vài Công tố viên ở Viện công tố cấp cao giải quyết các công việc của Viện công tố quận theo thẩm quyền của mình.

Điều 20: Tổ chức của Viện công tố cấp cao

1. Viện công tố cấp cao có một số phòng, một Cục Hành chính, một số Ban. Việc thành lập và quy định về nhiệm vụ của các Ban do Sắc lệnh của Tổng thống quy định.

2. Mỗi Phòng của Viện công tố cấp cao có thể có thể có một số Ban, nhiệm vụ của các Ban này cũng được quy định bằng Sắc lệnh của Tổng thống.

3. Giám đốc Cục Hành chính và các Trưởng Ban được nêu ở khoản 1 và 2 có thể được bổ nhiệm trong số các Công tố viên hành chính, điều tra viên bậc 4 hoặc bậc 5. Họ cũng có thể được bổ nhiệm từ nhân viên điện tử viễn thông bậc 5 hoặc nhân viên điều tra ma tuý bậc 5.

4. Giám đốc hành chính và các Trưởng Ban chịu sự điều hành của cấp trên, có trách nhiệm thực hiện công việc của Cục Hành chính và của các Ban, giám sát và trực tiếp điều hành các nhân viên thuộc quyền.

 

CHƯƠNG IV: VIỆN CÔNG TỐ QUẬN VÀ CÁC CHI  NHÁNH CỦA

VIỆN CÔNG TỐ

Điều 21: Viện trưởng Viện công tố quận

1. Mỗi Viện công tố quận có một Viện trưởng được bổ nhiệm trong số các Công tố viên trưởng.

2. Viện trưởng có trách nhiệm thực hiện các công việc của Viện công tố quận, trực tiếp điều hành và giám sát nhân viên thuộc quyền.

Điều 22: Trưởng chi nhánh của Viện công tố

1. Mỗi chi nhánh của Viện công tố có một Trưởng chi nhánh được bổ nhiệm trong số các Công tố viên (được bổ sung bằng luật số 4543 ngày 10/3/1993 và luật số 4930 ngày 5/1/1995).

2. Trưởng chi nhánh chịu sự chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng Viện công tố quận, thực hiện công việc và giám sát nhân viên thuộc quyền.

Điều 23: Phó Viện trưởng Viện công tố quận và Phó Trưởng chi nhánh

1. Mỗi quận và chi nhánh có một Phó Viện trưởng và một Phó Trưởng chi nhánh được quy định bằng Sắc lệnh của Tổng thống.(được bổ sung bằng luật số 4543 ngày 10/3/1993).

2. Phó Viện trưởng Viện công tố có trách nhiệm giúp việc cho Viện trưởng, thay mặt Viện trưởng thực hiện công việc trong trường hợp Viện trưởng không thể đảm đương nhiệm vụ.

Điều 24: Trưởng phòng

1. Viện công tố quận và chi nhánh Viện công tố có thể thành lập các Phòng để thực hiện một phần công việc của cơ quan.

2. Mỗi phòng của Viện công tố quận và chi nhánh có một Trưởng phòng, chịu sự điều hành của cấp trên và thực hiện nhiệm vụ của phòng đó.

Điều 25: Công tố viên của Viện công tố quận và chi nhánh

Các Công tố viên được phân công làm việc tại Viện công tố quận và chi nhánh Viện công tố.

Điều 26: Tổ chức của Viện công tố quận và chi nhánh

1. Mỗi Viện công tố quận và chi nhánh Viện công tố được thành lập một Cục Hành chính theo Sắc lệnh của Tổng thống. Cục Hành chính được thành lập các Ban. Nhiệm vụ của các ban thuộc Cục Hành chính do Tổng thống quy định.

2. Mỗi Phòng của Viện công tố quận cũng có thể thành lập các ban, nhiệm vụ của các Ban thuộc Phòng do Tổng thống quy định bằng Sắc lệnh.

3. Giám đốc hành chính được bổ nhiệm trong số các công chức hành chính công tố bậc 3, 4 hoặc điều tra viên bậc 4. Các Trưởng Ban được bổ nhiệm từ các công chức hành chính công tố bậc 4, 5 hoặc từ các điều tra viên, nhân viên điện tử viễn thông, nhân viên điều tra ma tuý bậc 5.

4. Giám đốc hành chính và các Trưởng ban chịu sự chỉ đạo, điều hành của cấp trên, thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền của mình và giám sát, điều hành các nhân viên thuộc quyền.

 

CHƯƠNG V-CÔNG TỐ VIÊN

Điều 27: Tiêu chuẩn của Tổng trưởng Công tố

Tổng trưởng công tố được bổ nhiệm trong số những người đã từng đảm đương những chức vụ dưới đây ít nhất 15 năm (được bổ sung bằng luật số 4930 ngày 5/1/1995):

1. Thẩm phán, Công tố viên hoặc Luật sư

2. Người có tiêu chuẩn như Luật sư và đã từng làm công tác trong lĩnh vực pháp lý cho 1 tổ chức của Chính phủ, chính quyền địa phương, cho các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập hoặc doanh nghiệp tư nhân, các Học viện do Nhà nước đầu tư như quy định tại Điều 2 Luật khung về quản lý các Học viện do Nhà nước đầu tư hoặc bất kỳ người nào có kỹ năng luật pháp và;

3. Người có tiêu chuẩn Luật sư và đã có học hàm giáo sư luật hoặc Phó Giáo sư luật tại các trường đại học.

 

 

Điều 28: Tiêu chuẩn của Công tố viên trưởng cấp cao

Công tố viên trưởng cấp cao và Công tố viên trưởng được bổ nhiệm trong số những người đã từng giữ những cương vị như quy định tại Điều 27 không dưới 10 năm.

Điều 29: Tiêu chuẩn của Công tố viên

Công tố viên được bổ nhiệm trong số những người có đủ tiêu chuẩn theo những quy định dưới đây:

1. Những người đã hoàn thành các khoá học tại Viện nghiên cứu và đào tạo tư pháp sau khi đã vượt qua các cuộc kiểm tra tư pháp và;

2. Những người có tiêu chuẩn như một Luật sư (Điều này đã được sửa đổi toàn bộ bằng luật số 4543 ngày 10/3/1993).

Điều 30: Bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng đối với Công tố viên của Viện công tố cấp cao

1. Trưởng phòng của Viện công tố cấp cao, Trưởng chi nhánh Văn phòng Viện công tố, Phó Công tố viên trưởng theo quy định của Điều 23 khoản 1 và Phó Viện trưởng Viện công tố quận được bổ nhiệm theo Sắc lệnh của Tổng thống trong số những người đã giữ cương vị như theo quy định của Điều 27 ít nhất 10 năm.

2. Công tố viên của Viện công tố cấp cao và Phó Công tố viên trưởng, Trưởng phòng chi nhánh Viện công tố, Chi nhánh trưởng của Viện công tố quận và các chi nhánh khác được quy định trong đoạn 1 được bổ nhiệm trong số những người đã từng giữ cương vị như quy định tại Điều 27 ít nhất 5 năm.

Điều 31: Tổng số năm công tác

Đối với những người đã từng giữ 2 hay nhiều cương vị khác nhau thì số năm công tác trên mỗi cương vị sẽ được cộng lại để áp dụng cho các quy định của các điều 27, 28 và 30.

 

Điều 32: Uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ của Công tố viên

1. Tổng trưởng công tố, theo đề nghị của Giám đốc Viện nghiên cứu và đào tạo pháp lý ra lệnh cho bất kỳ học viên nào của Viện thực hiện thay các nhiệm vụ của Công tố viên tại các Viện công tố quận hoặc chi nhánh của Viện công tố trong thời gian nhất định.

2. Nếu Viện trưởng Viện công tố quận thấy cần thiết thì có thể cử Công tố viên hành chính bậc 4, Công tố viên điều tra bậc 5 hoặc Công tố viên hành chính bậc 5, nhân viên điều tra ma tuý bậc 5 của Viện công tố quận đại diện cho Công tố viên tại chi nhánh Viện công tố (được sửa đổi, bổ sung bằng Luật số 4961 ngày 4/8/1995).

3. Không ai có quyền hành động thay mặt Công tố viên như quy định tại khoản 1 và 2 để đưa vụ án ra Hội đồng xét xử theo Luật tổ chức Toà án.

Điều 33: Không đủ tiêu chuẩn trở thành Công tố viên

Không ai được bổ nhiệm là Công tố viên trong các trường hợp sau đây:

1. Người là không đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 33 khoản 1 của Luật công chức Nhà nước.

2. Người bị kết án phạt tù không phải khổ sai hoặc đã chịu một hình phạt nghiêm khắc và;

3. Người bị bãi nhiệm do nghi ngờ phạm pháp và đã không qua được 5 năm thử thách.

Điều 34:Bổ nhiệm và phân công Công tố viên

Việc bổ nhiệm và phân công công tác đối với Công tố viên do Tổng thống quyết định theo đề xuất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Điều 35: Uỷ ban nhân sự Công tố viên

1. Để tuân thủ mọi tham vấn của Bộ trưởng Bộ tư pháp về những vấn đề cần thiết cho việc bổ nhiệm, thăng chức hoặc các vấn đề nhân sự khác của Công tố viên, Uỷ ban nhân sự của Công tố viên sẽ được thành lập trong Bộ tư pháp.

2. Những vấn đề liên quan đến thành phần, hoạt động và tư vấn của Uỷ ban nhân sự công tố do Tổng thống quy định bằng Sắc lệnh.

Điều 36: Phân công công tác, khen thưởng, kỷ luật

1. Công tố viên là loại công chức đặc biệt và những vấn đề cần thiết cho việc phân công công tác, khen thưởng, kỷ luật đối với Công tố viên được quy định trong các đạo luật khác.

2. Địa vị của Công tố viên được tôn trọng. Việc khen thưởng các Công tố viên được xác định tương ứng với nhiệm vụ và thành tích của họ.

3. Đối với những học viên của Viện nghiên cứu và đào tạo pháp lý, những người thay mặt Công tố viên thực thi nhiệm vụ của họ theo quy định tại Điều 32 khoản 1 thì công tác phí được thanh toán theo các điều kiện quy định trong Sắc lệnh của Tổng thống.

Điều 37: Sự đảm bảo địa vị của Công tố viên

Không một Công tố viên nào có thể bị sa thải, đình chỉ công tác hoặc cắt giảm mức lương trừ trường hợp phạm tội, bị kết án tù không phải là hình phạt khổ sai hoặc bị trừng phạt nghiêm khắc bằng các biện pháp khác hoặc là đối tượng của một hình thức kỷ luật nặng.

Điều 38: Về hưu tạm thời

1. Nếu một Công tố viên bị gọi nhập ngũ hoặc động viên vào lực lượng dự bị hay thuyên chuyển khỏi cơ quan nhằm thực hiện nhiệm vụ khác như được quy định trong luật thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ ra lệnh cho người đó tạm thời hồi hưu cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ của mình và nếu Công tố viên đệ trình đơn đề nghị tạm dừng công tác nhằm mục đích nghiên cứu pháp luật và học tập tại một học viện, trường Cao đẳng hay đại học ở nước ngoài hay điều trị y tế để chữa bệnh…thì Bộ trưởng Tư pháp có thể nếu xét có căn cứ hợp lý thì sẽ cấp giấy chứng nhận cho Công tố viên đó tạm nghỉ công tác với thời hạn tối đa không quá 2 năm.

2. Trong các trường hợp như quy định ở khoản 1, những vấn đề cần thiết cho việc thanh toán tiền thưởng v.v…trong thời gian tạm nghỉ công tác sẽ được quyết định bằng Sắc lệnh của Tổng thống.

Điều 39: Về hưu do bị bệnh thần kinh hoặc hạn chế năng lực hành vi

Nếu Công tố viên không thể thực thi nhiệm vụ của mình do bị bệnh về thần kinh hoặc hạn chế năng lực hành vi thì Tổng thống sẽ ra lệnh cho người đó phải nghỉ hưu theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Điều 40: Nghỉ hưu trong danh dự

1. Nếu Công tố viên đã phục vụ từ 20 năm trở lên trong ngành công tố tự nguyện nghỉ hưu trước khi đến tuổi, người đó có thể được thêm trợ cấp danh dự

2. Những vấn đề liên quan đến việc thanh toán, trợ cấp danh dự được đề cập trong đoạn 1 được quy định trong Sắc lệnh của Tổng thống.

Điều 41: Tuổi nghỉ hưu

Tuổi nghỉ hưu của Tổng trưởng công tố là 65. Đối với các Công tố viên khác thì tuổi nghỉ hưu là 63.

Điều 42: Giới hạn độ tuổi đối với cấp bậc

1.Thời hạn nâng bậc của Công tố viên trưởng cấp cao là 4 năm nhưng có thể rút ngắn 1 năm. Quy định rằng nếu tổng thời gian mà người đó công tác với cương vị Công tố viên trưởng cấp cao và Công tố viên trưởng là ít hơn 10 năm thì người đó sẽ được xem xét để coi là đến tuổi nâng bậc kể từ ngày phục vụ tròn 10 năm.

2. Độ tuổi giới hạn để nâng bậc đối với Công tố viên trưởng là 8 năm nhưng có thể rút ngắn 2 năm..

3. Việc gia hạn thời hạn nâng bậc của các Công tố viên do Tổng thống quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

4. Việc tính thời hạn nâng bậc được quy định tại khoản 1 và 2 được tính là: Nếu một Công tố viên được tái bổ nhiệm sau khi đã nghỉ hưu thì tổng số thời gian mà người đó đã công tác trước khi nghỉ hưu sẽ được cộng tiếp và thời gian người đó tạm nghỉ hưu cũng được tính vào năm công tác.

Điều 43: Cấm tham gia vào các hoạt động chính trị

Không Công tố viên nào được phép tham gia vào những hoạt động dưới đây khi đang đương chức:

1. Là thành viên của Quốc hội hoặc Hội đồng địa phương

2. Tham gia vào các phong trào chính trị

3. Được thuê mướn kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận và;

4. Được hứa hẹn khen thưởng vì công việc mà chưa được sự cho phép của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Điều 44: Công tố viên kiêm nhiệm

Bất kỳ ai là thành viên của Bộ Tư pháp hay các cơ quan trực thuộc Bộ Tư pháp có tiêu chuẩn như Công tố viên có thể làm việc kiêm nhiệm ở Viện công tố.

Điều 44-2: Nghiêm cấm điều phái Công tố viên

Không Công tố viên nào được phép làm việc cho Ban thư ký của Phủ Tổng thống hoặc giữ thêm một chức vụ khác tại Văn phòng Ban thư ký Phủ Tổng thống.

 

CHƯƠNG VI-NHÂN VIÊN VIỆN CÔNG TỐ

Điều 45: Nhân viên Viện công tố

Viện công tố có nhân viên quản lý và các Công tố viên hành chính bậc 2,3. Các Công tố viên điều tra bậc 4, 5 và các nhân viên điều tra ma tuý bậc 6,7,8,9 và các công chức chuyên trách đặc biệt.

Điều 46: Nhiệm vụ của Công tố viên hành chính

1. Công tố viên hành chính bậc 4 và các điều tra viên, Công tố viên hành chính bậc 5, Công tố viên hành chính và điều tra viên ma tuý bậc 6,7 được thực hiện những công việc dưới đây:

a.Các công việc có liên quan đến điều tra theo lệnh Công tố viên

b.Chuẩn bị và lưu trữ các báo cáo về tội phạm

c.Trợ giúp công tác hành chính trong các vụ kiện và được Công tố viên chỉ định để thực hiện các thủ tục tố tụng dân sự với tư cách là bên bảo vệ quyền lợi của Nhà nước hoặc bên trung gian hay thực hiện những công việc liên quan đến việc chuẩn bị và lưu trữ các báo cáo và tài liệu khác có liên quan đến tố tụng dân sự và các công việc hành chính sự vụ khác.

2. Nhân viên điều tra và Công tố viên hành chính bậc 4, nhân viên điều tra ma tuý và nhân viên điều tra bậc 5 có nhiệm vụ trợ giúp các Công tố viên tiến hành điều tra và buộc tội theo hướng dẫn của Công tố viên.

3. Công tố viên hành chính và các nhân viên điều tra ma tuý bậc 8,9 trợ giúp cho các Công tố viên hành chính, điều tra viên và nhân viên điều tra ma tuý bậc 5,6 và 7.

Điều 47: Thực hiện nhiệm vụ cảnh sát tư pháp

1. Nếu Công tố viên hành chính, nhân viên điều tra ma tuý bậc 6,7,8 hoặc 9 nhận được hướng dẫn từ Tổng trưởng công tố hoặc Viện trưởng Viện công tố thì Công tố viên hành chính, nhân viên điều tra ma tuý bậc 6,7 sẽ thực hiện nhiệm vụ của nhân viên cảnh sát tư pháp như quy định tại Điều 196 khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự và Công tố viên hành chính, nhân viên điều tra ma tuý bậc 8,9 sẽ làm nhiệm vụ của cảnh sát tư pháp theo Điều 196 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Bất kỳ một viên chức nào trong Viện công tố tương đương với bậc 5,6,7 mà nhận được hướng dẫn, chỉ thị của Viện trưởng Viện công tố sẽ phải thực hiện nhiệm vụ của cảnh sát tư pháp theo Điều 196 khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự và những người có chức vụ tương đương bậc 8, 9 sẽ thực hiện nhiệm vụ của cảnh sát tư pháp theo Điều 196 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 48: Trợ lý Tổng trưởng công tố

1. Viện công tố tối cao sẽ phân công một người làm Trợ lý Tổng trưởng công tố.

2. Trợ lý Tổng trưởng công tố được bổ nhiệm trong số điều tra viên, Công tố viên hành chính bậc 4 hoặc công chức Nhà nước tương đương bậc 4 có nhiệm vụ giải quyết những công việc riêng theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng trưởng công tố.

Điều 49: Các nhân viên kỹ thuật và phiên dịch

1. Các Viện công tố có thể tuyển chọn người phiên dịch hoặc các nhân viên kỹ thuật để làm các công việc thuộc lĩnh vực kỹ thuật.

2. Những nhân viên quy định trong khoản 1 Điều này có trách nhiệm làm công tác dịch thuật, kỹ thuật theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên.

Điều 50: Phân công công tác đối với nhân viên Viện công tố

1. Việc phân công công tác đối với các nhân viên của Viện công tố do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định. Điều này không áp dụng đối với các điều khoản đặc biệt của luật này và các luật khác.

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể uỷ quyền cho Tổng trưởng công tố hoặc Viện trưởng Viện công tố phân công công tác như quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Các quy định tại khoản 1 và 2 Điều 33 và 35 luật này có thể được áp dụng để điều động cán bộ, nhân viên của Viện công tố.

 

Điều 51: Thành lập tạm thời Viện công tố

Bộ Tư pháp có thể tổ chức tạm thời một Viện công tố theo quy định của luật này. Trong trường hợp đó có thể áp dụng việc điều động cán bộ hoặc khen thưởng theo quy định của đoạn cuối Điều 44.

Điều 52: Biên chế của Viện công tố

Tổng biên chế của Viện công tố được quy định bằng Sắc lệnh của Tổng thống.

 

CHƯƠNG VII – HƯỚNG DẪN VÀ GIÁM SÁT NHÂN VIÊN

CẢNH SÁT TƯ PHÁP

Điều 53: Nhiệm vụ của cảnh sát tư pháp

Nhân viên cảnh sát tư pháp phải tuân thủ bất kỳ mệnh lệnh chính thức nào của Công tố viên có thẩm quyền trong quá trình điều tra hình sự.

Điều 54: Yêu cầu thay thế

1. Nếu nhân viên cảnh sát tư pháp có cấp bậc cao hơn trưởng đồn, tương đương hoặc thấp hơn giám thị trại giam có hành động bất hợp pháp trong khi thực thi nhiệm vụ thì Công tố viên trưởng của Viện công tố quận có thể ra lệnh cho người đó đình chỉ điều tra vụ án có liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền chỉ định một người khác thay thế.

2. Người có khả năng được chỉ định phải phù hợp với yêu cầu quy định tại khoản 1 và phù hợp với khả năng của người bị thay thế để đáp ứng công việc trừ khi anh ta đưa ra lý do chính đáng để từ chối.

PHỤ LỤC

1.Ngày có hiệu lực:

Luật này có hiệu lực vào ngày ban hành

2.Các biện pháp chuyển giao

Nhiệm kỳ của Tổng trưởng công tố phục vụ trên cương vị của mình được tính từ ngày Luật này có hiệu lực và được tính lại từ ngày được bổ nhiệm.

3.Bỏ qua

PHỤ LỤC (LUẬT SỐ 4043 NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 1988)

Các biện pháp chuyển giao liên quan đến nhân viên Viện công tố

Trừ quy định tại Điều 45, các nhân viên đặc biệt, công chức hành chính và các nhân viên y tế được chuyển đến công tác tại Viện công tố từ Bộ Y tế hoặc Bộ Phúc lợi sẽ được tính thâm niên công tác tương đương với cấp bậc được quy định theo Điều 46 và 47 của Luật này kể từ khi Luật này có hiệu lực và có thể thực hiện những nhiệm vụ của nhân viên cảnh sát tư pháp.

PHỤ LỤC (LUẬT SỐ 4395 NGÀY 22 THÁNG 11 NĂM 1991)

Luật này có hiệu lực từ ngày ban hành

Phụ lục (Luật số 4543 ngày 10 tháng 3 năm 1993)

1.Luật này có hiệu lực kể từ ngày ban hành

2.Các biện pháp chuyển giao

Những người giữ cương vị là Công tố viên cao cấp hay Công tố viên tại thời điểm Luật này có hiệu lực sẽ được xem xét để bổ nhiệm là Công tố viên theo quy định của Luật này.

PHỤ LỤC (LUẬT SỐ 4930  NGÀY 05  THÁNG 1 NĂM 1995)

Luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 1995.

PHỤ LỤC (LUẬT SỐ 4946 NGÀY 30 THÁNG 3 NĂM 1995)

Luật này có hiệu lực từ ngày ban hành.

PHỤ LỤC (LUẬT SỐ 5263 NGÀY 13 THÁNG 1 NĂM 1997)

Luật này có hiệu lực từ ngày ban hành. Quy định rằng bổ sung thêm Điều 44-2 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 1997.

PHỤ LỤC (LUẬT SỐ 5430  NGÀY 13 THÁNG 12  NĂM 1997)

Luật này có hiệu lực từ ngày ban hành.

©2007 VKSNDTC. All rights reserved.

Advertisements

2 Responses

  1. Toi dang rat can Luat hon nhan gia dinh va Luat ve moi gioi hon nhan cua mot so nuoc tren the gioi, dac biet la cua Han Quoc va Trung Quoc. Rat mong nhan duoc su giup do cua quy vi.
    Tran trong cam on.

  2. Tôi đang làm luận văn về đề tài môi giới kết hôn nên rất cần tham khảo luật hôn nhân gia đình và luật môi giới hôn nhân của một số nước đặc biệt là Hàn quốc, Trung quốc và Mỹ. Rất mong nhận được sự giúp đỡ.
    Trân trọng.

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: