Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ VỀ DỰ THẢO LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

BỘ TƯ PHÁP

Số: /TTr – BTP

Dự thảo

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2008

 

 TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ

Về dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm


Thực hiện Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2008 của Quốc hội khóa XII, Bộ Tư pháp được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng dự án Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm. Bộ Tư pháp xin kính trình Chính phủ về Dự án Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT VÀ MỤC TIÊU BAN HÀNH LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

1. Sự cần thiết ban hành Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm

Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm ở nước ta đã đạt được những kết quả chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm đã phát huy ý nghĩa quan trọng trong việc công khai và minh bạch các giao dịch bảo đảm, giúp cho người dân và doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần và có nguồn thông tin để tra cứu, tìm hiểu trước khi xem xét, quyết định ký kết hợp đồng nói chung và đầu tư, cho vay vốn nói riêng. Đồng thời thông qua việc đăng ký giao dịch bảo đảm có căn cứ để xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp cần xử lý tài sản để thanh toán nghĩa vụ. Từ đó, góp phần đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch dân sự, thương mại, đặc biệt trong hoạt động đầu tư vốn, tín dụng ngân hàng, cải thiện môi trường đầu tư trong và ngoài nước cũng như tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội của nước ta. Đăng ký giao dịch bảo đảm còn là công cụ quan trọng để hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, thực tế xét xử của Tòa án cho thấy, việc đăng ký nêu trên đã góp phần vào việc ngăn ngừa các tranh chấp về dân sự liên quan đến giao dịch bảo đảm, hợp đồng vay, góp vốn và cung cấp chứng cứ để giải quyết các tranh chấp đó.

Thứ hai: Nhằm hoàn thiện thể chế về đăng ký giao dịch bảo đảm, từ năm 2000 đến nay, pháp luật trong lĩnh vực này đã được xây dựng và hoàn thiện về cơ bản, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai đăng ký trong thực tế thông qua việc ban hành Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi chung là Nghị định số 08/2000/NĐ-CP) và tiếp tục được khẳng định trong Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/11/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm v.v… cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, điểm nổi bật là quy trình đăng ký, cung cấp thông tin đã được cải tiến, nhanh chóng và thuận tiện hơn, đáp ứng về cơ bản các yêu cầu cải cách thủ tục dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực này.

Thứ ba: Xây dựng hệ thống các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm trong cả nước. Đến nay, mọi cá nhân, tổ chức dùng bất kỳ tài sản nào để bảo đảm đều có cơ quan để đăng ký và tìm hiểu thông tin, trong đó có các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển. Cục Hàng không dân dụng đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay; Chi cục Hàng hải hoặc Cảng vụ Hàng hải trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu biển. 64 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi có đất, tài sản gắn liền với đất thực hiện đăng ký thế chấp trong trường hợp bên thế chấp là tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài. 257 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, 416 Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện đối với nơi chưa thành lập hoặc không thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đăng ký thế chấp trong trường hợp bên thế chấp là hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

Thứ tư: Số lượng đăng ký giao dịch bảo đảm ngày càng tăng, cụ thể:

– Từ tháng 03/2002 đến 03/2008, các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm của Bộ Tư pháp đã tiếp nhận và giải quyết 291.175 đơn yêu cầu đăng ký và 4.717 lượt cung cấp thông tin cho khách hàng.

Tính từ nửa cuối năm 2003 đến 2007, theo báo cáo của 46 UBND cấp tỉnh, thì số lượng đăng ký giao dịch bảo đảm về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đạt tổng cộng là 2.085.671 trường hợp, trong đó tại Văn phòng cấp tỉnh là 248.980 trường hợp, tại Văn phòng cấp huyện là 1.086.832 trường hợp.

Từ năm 2002 đến năm 2007, Cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã đăng ký 38 giao dịch bảo đảm bằng tàu bay. Các Chi cục đăng ký tàu biển khu vực đã đăng ký 628 trường hợp thế chấp, cầm cố tàu biển. Qua đó, đã tạo ra một nguồn vốn lưu động cho các doanh nghiệp vận tải biển, góp phần phát triển kinh tế biển.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, đó là:

– Hệ thống văn bản pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm còn phân tán và có sự trùng lặp, mâu thuẫn trong một số quy định, đồng thời quy trình đăng ký giao dịch bảo đảm còn thiếu sự thống nhất và chưa thực sự đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện cho người yêu cầu đăng ký trong một số trường hợp.

– Mô hình cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm chưa thực sự thuận tiện cho người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa do hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉ được thành lập đến cấp huyện. Ngoài ra, các Văn phòng này có thẩm quyền đăng ký theo chủ thể trong trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, dẫn đến khó khăn trong việc đăng ký và tìm hiểu thông tin do chủ thể của các giao dịch thường thay đổi. Hiện nay, các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm đều tiến hành đăng ký, cung cấp thông tin bằng giấy, chưa áp dụng việc đăng ký, tìm hiểu thông tin qua mạng, nên thời gian hoàn thành việc đăng ký và tra cứu thông tin bị kéo dài, gây tốn kém cho các bên liên quan.

– Trong thực tế thi hành pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm còn có nơi chưa thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về lĩnh vực này và không ít trường hợp cán bộ đăng ký gây phiền hà cho người dân.

2. Mục tiêu xây dựng Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm

Xuất phát từ một số hạn chế nêu trên, việc xây dựng Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm là cần thiết nhằm đạt các mục tiêu chủ yếu sau đây:

a) Hoàn thiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm theo hướng đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của các quy định trong lĩnh vực này. Từ đó, khắc phục một số hạn chế nêu tại điểm 1 phần I của Tờ trình.

b) Xây dựng cơ chế quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm, mô hình cơ quan đăng ký và thủ tục đăng ký phù hợp, nhằm đảm bảo hoạt động đăng ký được thông suốt, nhanh chóng, tạo thuận lợi tối đa cho cá nhân và tổ chức trong quá trình đăng ký và tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm và đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

c) Tăng cường hơn nữa các yếu tố đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, chủ sử dụng tài sản và cá nhân, tổ chức có liên quan.

d) Có đầy đủ thông tin về giao dịch bảo đảm để cung cấp cho mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Việc xây dựng dự án Luật nêu trên cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:

1. Dự án Luật thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách dịch vụ hành chính công vào lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm, trong đó có Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí của bộ máy nhà nước. Từ đó, dự thảo Luật phải đảm bảo quy trình, thủ tục đăng ký phù hợp, công khai, minh bạch, chính xác, đơn giản, thông suốt và tạo thuận lợi nhất cho cá nhân, tổ chức, đồng thời xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán. Giảm bớt các thủ tục không cần thiết và xây dựng cơ chế liên thông về thủ tục công chứng, đăng ký và cung cấp thông tin. Hài hoà lợi ích của các cá nhân, tổ chức cùng có quyền đối với một tài sản.

2. Công khai hóa các thông tin về giao dịch bảo đảm cho mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu, góp phần thúc đẩy các giao dịch dân sự, thương mại phát triển. Mở rộng phạm vi các trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm để tăng cường an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin ngày càng tăng trong nền kinh tế thị trường.

3. Từng bước đổi mới về tổ chức các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm, tạo thuận lợi cho người dân khi yêu cầu đăng ký, tìm hiểu thông tin, đồng thời đủ mạnh để đảm bảo hiệu quả, hiệu lực của hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm. Ứng dụng có hiệu quả thành tựu phát triển của công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan đăng ký.

4. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật Việt Nam, kế thừa và pháp điển hóa các quy định hiện hành còn phù hợp với thực tiễn.

5. Tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm của các nước có hệ thống pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm phát triển và vận dụng phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội ở Việt Nam.

III. QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO DỰ THẢO LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện các hoạt động sau đây:

1. Tổ chức tổng kết 5 năm triển khai công tác đăng ký giao dịch bảo đảm (2002-2007) vào tháng 11 năm 2007.

2. Rà soát các văn bản pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm; tổ chức nghiên cứu khoa học, tham khảo kinh nghiệm của các nước có hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm phát triển.

3. Khảo sát về thực trạng tổ chức, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm và thực thi pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm tại 18 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong năm 2007 và 06 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương trong năm quý I năm 2008; khảo sát thực tế tại một số bang của Mỹ, Canada, Nhật Bản, Pháp.

4. Xây dựng dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy trình theo pháp luật về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, Bộ Tư pháp đã nhiều lần tổ chức lấy ý kiến đóng góp trực tiếp (thông qua các tọa đàm, hội thảo) và bằng văn bản của các Bộ, ngành ở trung ương, các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các chủ thể chủ yếu chịu sự điều chỉnh của Luật này như các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp khác.

IV. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA DỰ THẢO LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm gồm 5 chương, 46 điều, với nội dung cơ bản sau đây:

1. Chương I “ Những quy định chung”

Chương này gồm 14 điều (từ Điều 1 đến Điều 14) quy định các vấn đề chung về đăng ký giao dịch bảo đảm, trong đó có một số nội dung chủ yếu sau đây:

a) Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Xuất phát từ quan điểm xây dựng Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm thành Luật chung trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, dự thảo Luật quy định về thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm đối với mọi loại tài sản, nhằm khắc phục tình trạng pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm còn thiếu đồng bộ, có trùng lặp, mâu thuẫn trong một số trường hợp và thống nhất pháp luật trong lĩnh vực nêu trên. Đồng thời, dự thảo Luật pháp điển hóa các quy định phù hợp và ổn định qua thực tiễn áp dụng. Các văn bản pháp luật khác có quy định về đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm cũng phải phù hợp với quy định của Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm.

Việc đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng bất động sản, quyền sử dụng đất, tàu bay, tàu biển được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định có liên quan trong pháp luật về đăng ký bất động sản, tàu bay, tàu biển. Trong trường hợp pháp luật về đăng ký bất động sản, tàu bay, tàu biển có quy định khác về đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng bất động sản, quyền sử dụng đất, tàu bay, tàu biển thì áp dụng các quy định đó so với quy định có liên quan trong Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm.

b) Đối tượng đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 4)

Dự thảo Luật quy định các trường hợp phải đăng ký (khoản 1 Điều 4) và các trường hợp đăng ký tự nguyện (khoản 2 Điều 4) trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/11/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Đồng thời, dự thảo mở rộng phạm vi các quyền, giao dịch về động sản được đăng ký bao gồm: bán có thoả thuận chuộc lại hoặc bán hàng thông qua đại lý đối với tài sản là động sản và giao dịch dân sự khác nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Việc công khai hoá các quyền, giao dịch nêu trên không bắt buộc (nếu không đăng ký thì giao dịch vẫn có hiệu lực), nhưng việc đăng ký sẽ làm cho giao dịch đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba và thời điểm đăng ký là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên khi có sự xung đột quyền và lợi ích đối với cùng một tài sản.

Việc mở rộng đối tượng đăng ký nêu trên xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đáp ứng được yêu cầu minh bạch, công khai hóa tình trạng pháp lý của các tài sản là động sản nhằm thúc đẩy giao dịch dân sự, kinh tế phát triển.

Thứ hai, đảm bảo xác định một cách công bằng quyền của các bên có liên quan đến cùng một tài sản. Việc xác định thứ tự ưu tiên giữa họ cần được căn cứ vào một tiêu chí chung đó là thời điểm đăng ký.

Thứ ba, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia, đối tượng đăng ký giao dịch bảo đảm được xác định rất nhiều, theo đó mọi giao dịch nhằm xác lập một “lợi ích bảo đảm” bằng tài sản đều có thể được đăng ký theo thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm, không phụ thuộc vào tên gọi hay hình thức thể hiện giao dịch đó.

c) Về nguyên tắc đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm (Điều 5)

Dự thảo quy định nguyên tắc đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm nói chung. Các nguyên tắc này được áp dụng đối với mọi trường hợp đăng ký và cung cấp thông tin, kể cả đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển, quyền sử dụng đất, bất động sản và được cụ thể hóa trong các quy định về thủ tục đăng ký, trách nhiệm của cơ quan đăng ký và người yêu cầu đăng ký.

d) Giá trị pháp lý của việc đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 7)

Dự thảo quy định giá trị pháp lý của việc đăng ký trên cơ sở tôn trọng tính chất dân sự của giao dịch bảo đảm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và thống nhất pháp luật về vấn đề này.

e) Hệ thống dữ liệu quốc gia các giao dịch bảo đảm (Điều 12)

Để phục vụ mục tiêu tối đa hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về giao dịch bảo đảm, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin, dự thảo Luật đã quy định rõ ràng trách nhiệm và mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia các giao dịch bảo đảm của các cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm.

g) Nội dung quản lý nhà nước về đăng ký và trách nhiệm quản lý nhà nước (Điều 13 và Điều 14)

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, uỷ ban nhân dân các cấp, dự thảo đã quy định rõ nội dung quản lý nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan trong việc giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm.

2. Chương II “Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm”

Chương này gồm 3 điều (từ Điều 15 đến Điều 17) quy định về các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm, cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó và cán bộ đăng ký. Dự thảo kế thừa các quy định về tổ chức trong các văn bản pháp luật hiện hành như Điều 16 Nghị định số 49/2006/NĐ-CP ngày 18/5/2006 của Chính phủ về đăng ký và mua, bán tàu biển, Điều 5 Nghị định số 70/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 của Chính phủ về đăng ký quốc tịch và đăng ký các quyền đối với tàu bay dân dụng, điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP. Các quy định của chương này đáp ứng yêu cầu về cải cách bộ máy của dịch vụ hành chính công, đó là một việc do một cơ quan thực hiện và xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan đăng ký cũng như xác định rõ trách nhiệm của cơ quan này và trách nhiệm của cán bộ đăng ký trong khi thực hiện đăng ký và cung cấp thông tin theo thẩm quyền.

3. Chương III “Thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm”

Chương này gồm 18 điều (từ Điều 18 đến Điều 35) quy định về thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm. Chương này có 3 mục, cụ thể như sau:

Mục 1 gồm 9 điều (từ Điều 18 đến Điều 26) quy định chung về thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm, kể cả động sản và bất động sản. Tuy nhiên, do là quy định chung nên việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng bất động sản, tàu bay, tàu biển phải tuân theo các quy định này và các quy định có liên quan trong các văn bản pháp luật về đăng ký bất động sản, quyền sử dụng đất, tàu bay, tàu biển; trong trường hợp các văn bản pháp luật về đăng ký bất động sản, quyền sử dụng đất, tàu bay, tàu biển có quy định khác thì áp dụng các quy định đó. Các quy định về thủ tục đăng ký được quy định rõ ràng, đảm bảo công khai, minh bạch. Đặc biệt, dự Luật đã “thiết lập” hành lang pháp lý để có thể tổ chức thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm qua hệ thống trực tuyến.

Mục 2 gồm 6 điều (từ Điều 27 đến Điều 32) quy định về thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản tại Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm. Các quy định của mục này cũng được áp dụng đối với đăng ký các giao dịch quy định tại khoản 3 Điều 4 của dự thảo và các giao dịch bảo đảm bằng bất động sản, trừ quyền sử dụng đất, quyền sử dụng mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản, công trình xây dựng, rừng sản xuất là rừng trồng, vườn cây lâu năm. Mục này không áp dụng đối với việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển.

Mục 3 gồm 3 điều (từ Điều 33 đến Điều 35) quy định về nguyên tắc và cách thức đăng ký trực tuyến và sẽ được cụ thể hoá trong Nghị định của Chính phủ. Trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, nhằm đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của tổ chức, cá nhân trong việc công khai hoá các giao dịch bảo đảm, dự thảo Luật quy định về đăng ký trực tuyến, góp phần nâng cao tính chính xác của thông tin, rút ngắn tối đa thời hạn giải quyết yêu cầu đăng ký. Qua đó, mọi người có thể đăng ký và tra cứu thông tin tại bất cứ nơi nào vào bất cứ thời điểm nào. Việc áp dụng đăng ký trực tuyến phụ thuộc vào mức độ tin học hoá tại các cơ quan đăng ký, do đó dự thảo đưa ra quy định chuyển tiếp để đảm bảo tính khả thi của phương thức đăng ký này (Điều 45).

4. Chương IV “Cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm”

Chương này gồm 8 điều (từ Điều 36 đến Điều 43) quy định về quyền tìm hiểu thông tin của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương thức tiếp cận thông tin, thẩm quyền và nguyên tắc cung cấp thông tin, nội dung thông tin được cung cấp. Dự thảo Luật đã cụ thể hoá nguyên tắc mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm đã đăng ký.

5. Chương V “ Điều khoản thi hành”

Chương này gồm 3 điều (từ Điều 44 đến Điều 46) quy định về hiệu lực thi hành của Luật, điều khoản chuyển tiếp và trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật.

V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XIN Ý KIẾN

Trong quá trình xây dựng dự án Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm, đa số các ý kiến đóng góp đều nhất trí với cơ cấu và nội dung cơ bản của Luật. Tuy nhiên, còn có một số có ý kiến khác nhau cần xin ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, cụ thể là:

1. Về phạm vi điều chỉnh

Hiện nay, có ba loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự thảo, cụ thể như sau:

a) Loại ý kiến thứ nhất: Xây dựng Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm thành một đạo luật chung trong hệ thống các văn bản pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Luật này điều chỉnh về nguyên tắc, thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tất cả các loại tài sản. Do đó, việc đăng ký quyền sử dụng đất, bất động sản, tàu bay, tàu biển cũng phải tuân theo các quy định của Luật này và các văn bản pháp luật có liên quan như Luật Đăng ký bất động sản, Luật Hàng không dân dụng, Bộ Luật Hàng hải và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong trường hợp Luật Đăng ký bất động sản, Luật Hàng không dân dụng, Bộ Luật Hàng hải và các văn bản hướng dẫn thi hành có quy định khác về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng các tài sản này, thì ưu tiên áp dụng các quy định đó.

Ưu điểm:

– Thống nhất về những nguyên tắc chung và thủ tục chung về đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng các loại tài sản.

– Không cần huỷ bỏ các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm trong các văn bản pháp luật hiện hành nêu trên, nhưng nếu có quy định trái với Luật này thì vẫn bị huỷ bỏ. Do đó, một mặt bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và mặt khác không gây xáo trộn hệ thống pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm hiện hành.

– Phân định rõ ràng và phù hợp về phạm vi điều chỉnh của Luật này với Luật Đăng ký bất động sản.

Nhược điểm:

– Không pháp điển hoá đầy đủ các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và tồn tại nhiều văn bản pháp luật về lĩnh vực này.

b) Loại ý kiến thứ hai: Xây dựng Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm thành một đạo luật chung, thống nhất điều chỉnh việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tất cả các loại tài sản, trong đó có các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm động sản, tàu bay, tàu biển, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Việc đăng ký các loại giao dịch bảo đảm đều phải tuân theo quy định của Luật này; trong trường hợp Luật này không có quy định, thì áp dụng các quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan như pháp luật về đăng ký bất động sản, Luật Hàng không dân dụng, Bộ Luật Hàng hải và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Ưu điểm:

– Khắc phục tình trạng pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm còn phân tán, thiếu đồng bộ, có trùng lặp và mâu thuẫn trong một số trường hợp; thống nhất và pháp điển hoá toàn diện pháp luật trong lĩnh vực nêu trên.

– Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cơ quan, tổ chức khi áp dụng, thực hiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Nhược điểm:

– Cần bãi bỏ một số quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm trong các văn bản pháp luật có liên quan như Điều 130 Luật Đất đai năm 2003 (trừ yêu cầu về hồ sơ đăng ký phải có hợp đồng thế chấp đã được công chứng hoặc chứng thực), các điều 20, 33, 34, 35, 36 và 153 của Bộ Luật Hàng hải và các điều 28, 29, 32 của Luật hàng không dân dụng.

– Cần xác định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật này với dự thảo Luật Đăng ký bất động sản trong trường hợp điều chỉnh về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và một số bất động sản. Nếu dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và một số bất động sản, thì có một số vấn đề phụ thuộc vào dự thảo Luật Đăng ký bất động sản như tổ chức, thẩm quyền của cơ quan đăng ký, có ghi nhận đăng ký vào Giấy chứng nhận đăng ký bất động sản hay không.

Bộ Tư pháp đồng tình với loại ý kiến thứ nhất, vì có các ưu điểm như đã nêu trên, đồng thời việc xây dựng dự thảo Luật này cần đặt trong bối cảnh hiện có một số văn bản pháp luật điều chỉnh về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển, cũng như việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và một số bất động sản thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật Đăng ký bất động sản thì phù hợp hơn.

Dự thảo Luật thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

2. Thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm bắt đầu có hiệu lực

Hiện nay, có hai loại ý kiến về thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm có hiệu lực:

a) Loại ý kiến thứ nhất: Đề nghị xác định thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm bắt đầu có hiệu lực là thời điểm đơn yêu cầu đăng ký được giải quyết xong và cập nhật vào sổ đăng ký hoặc cơ sở dữ liệu, vì một trong những mục tiêu cơ bản của hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm là công khai hoá thông tin về giao dịch đó. Vì vậy, chỉ sau khi cơ quan đăng ký giải quyết xong hồ sơ đăng ký và cập nhật thông tin vào vào sổ đăng ký hoặc cơ sở dữ liệu, thì lúc đó cá nhân, tổ chức mới có thể tra cứu, tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm và có cơ sở để xem xét, quyết định xác lập giao dịch dân sự, thương mại.

b) Loại ý kiến thứ hai: Đề nghị giữ nguyên quy định pháp luật hiện hành. Theo đó, việc đăng ký giao dịch bảo đảm bắt đầu có hiệu lực kể từ thời điểm cơ quan đăng ký nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ. Kể từ thời điểm này, giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba. Quy định như vậy sẽ giúp cho người yêu cầu đăng ký dễ dàng kiểm soát thời điểm có hiệu lực của việc đăng ký (thời điểm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản). Nhưng khó khăn cho người tra cứu, tìm hiểu thông tin, vì thông tin chưa được cập nhật để cung cấp cho họ.

Bộ Tư pháp nhất trí với loại ý kiến thứ nhất.

Dự thảo Luật thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

3. Về giá trị pháp lý của đăng ký giao dịch bảo đảm

Hiện nay có hai loại ý kiến khác nhau về vấn đề nêu trên, cụ thể như sau:

a) Loại ý kiến thứ nhất: Giao dịch bảo đảm đã đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký. Quy định này đảm bảo phù hợp với khoản 3 Điều 323 Bộ luật dân sự. Đồng thời, việc xác định giá trị pháp lý của đăng ký giao dịch bảo đảm như vậy sẽ từng bước hạn chế nguy cơ “hành chính hoá” trong đăng ký giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, theo quy định tại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Bộ luật Hàng hải thì đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển là điều kiện để giao dịch này có hiệu lực. Do vậy, để thống nhất pháp luật về vấn đề này, đòi hỏi Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm phải bãi bỏ quy định về giá trị pháp lý của việc đăng ký giao dịch bảo đảm trong Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Bộ luật Hàng hải.

b) Loại ý kiến thứ hai: Nhất trí với quy định giao dịch bảo đảm đã đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký. Tuy nhiên, dự thảo cần quy định việc đăng ký không chỉ là điều kiện để giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển có hiệu lực, mà cần bổ sung quyền sử dụng đất.

c) Loại ý kiến thứ ba: Giao dịch bảo đảm đã đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký. Còn thời điểm giao dịch bảo đảm có hiệu lực là thời điểm giao kết giao dịch đó; đối với trường hợp giao dịch bảo đảm phải được công chứng hoặc chứng thực, thì giao dịch này có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực.

Bộ Tư pháp nhất trí với loại ý kiến thứ nhất.

Dự thảo Luật thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

4. Thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký giao dịch bảo đảm

Hiện nay, có hai loại ý kiến về thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký giao dịch bảo đảm, đó là:

a) Loại ý kiến thứ nhất: Đề nghị thống nhất quy định thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký giao dịch bảo đảm theo nội dung kê khai của người yêu cầu đăng ký, nhằm tạo ra sự thống nhất và phù hợp hơn với thực tiễn thỏa thuận của các bên khi giao kết giao dịch bảo đảm.

b) Loại ý kiến thứ hai: Đề nghị giữ nguyên quy định pháp luật hiện hành. Theo đó, thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký được giao dịch bảo đảm khác nhau tùy theo đối tượng đăng ký, cụ thể là:

– Đối với những giao dịch bảo đảm bằng động sản, thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký là năm (05) năm, kể từ thời điểm đăng ký.

– Đối với đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thời hạn có hiệu lực của việc đăng ký được xác định theo nội dung kê khai của người yêu cầu đăng ký (tàu bay, tàu biển). Dự thảo kế thừa quy định hiện hành.

Bộ Tư pháp nhất trí với loại ý kiến thứ nhất.

Dự thảo Luật thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

5. Về tổ chức cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm

Hiện đang có hai loại ý kiến khác nhau về tổ chức hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm:

Loại ý kiến thứ nhất: Giữ nguyên hiện trạng hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm như hiện nay. Riêng việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng sản xuất là rừng trồng, thế chấp mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản, công trình xây dựng sẽ được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký bất động sản theo Luật Đăng ký bất động sản.

Ưu điểm của phương án này là không gây xáo trộn về tổ chức, bộ máy của các cơ quan đăng ký. Để đảm bảo tính khả thi của quy định về thẩm quyền đăng ký thế chấp của cơ quan có thẩm quyền đăng ký bất động sản theo Luật Đăng ký bất động sản, dự thảo quy định trong trường hợp chưa thành lập cơ quan này thì việc đăng ký được thực hiện tại các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (khoản 1 Điều 45 dự thảo).

Loại ý kiến thứ hai: Dự thảo không quy định về tổ chức các cơ quan đăng ký, mà để Chính phủ quy định.

Bộ Tư pháp nhất trí với loại ý kiến thứ nhất để khi Luật này có hiệu lực sẽ có điều kiện thi hành ngay, không cần chờ Nghị định hướng dẫn.

Dự thảo thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.

6. Về chức danh Đăng ký viên

Dự thảo không quy định về chức danh Đăng ký viên, vì quy trình đăng ký tương đối đơn giản, không đòi hỏi phải có cán bộ có chuyên môn sâu.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị cần xây dựng chức danh này, nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm và phù hợp với mô hình tổ chức, chế độ, chính sách hiện hành về đơn vị dịch vụ công, trừ lĩnh vực đăng ký thế chấp tàu bay, tàu biển, vì số lượng đăng ký ít. Đăng ký viên trong lĩnh vực đăng ký bất động sản sẽ đảm nhiệm việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Đăng ký viên chịu trách nhiệm về công việc của mình.

Trên đây là nội dung cơ bản của dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm và những vấn đề cần xin ý kiến, Bộ Tư pháp kính trình Chính phủ xem xét, quyết định./.

 

Nơi nhận:

– Thủ tướng Chính phủ (để b/cáo);

– Các Phó Thủ tướng CP (để b/cáo);

– Uỷ ban Pháp luật, VPQH Quốc hội (để phối hợp);

– Văn phòng Chính phủ (để phối hợp);

– Vụ Pháp luật thuộc VPCP (để phối hợp);

– Lưu VT, Cục ĐK.

BỘ TRƯỞNG

Hà Hùng Cường

 

 

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: