Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

DỰ THẢO LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, thi hành án và tố tụng hình sự (sau đây gọi chung là trách nhiệm bồi thường nhà nước); thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ có lỗi đã gây ra thiệt hại.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Công dân Việt Nam, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, người nước ngoài, tổ chức nước ngoài bị thiệt hại theo quy định của Luật này thì được Nhà nước bồi thường.

Điều 3. Áp dụng pháp luật

Việc giải quyết bồi thường nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này. Trong trường hợp Luật này không có quy định thì áp dụng các quy định có liên quan của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Trách nhiệm bồi thường nhà nước là trách nhiệm dân sự, theo đó Nhà nước phải bồi thường cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi hành công vụ gây ra trong khi thi hành công vụ.

2. Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước là cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hiện các công việc có liên quan đến việc giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, thi hành án và hoạt động tố tụng hình sự.

3. Cơ quan quản lý bồi thường nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về việc thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước; hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ cho các cơ quan thực hiện việc giải quyết bồi thường nhà nước; hướng dẫn về thủ tục cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước.

4. Người thi hành công vụ là người được bầu cử hoặc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một vị trí trong bộ máy nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ có liên quan trực tiếp đến việc thực thi quyền lực Nhà nước hoặc những người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến việc thực thi quyền lực nhà nước.

Điều 5. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước

Trách nhiệm bồi thường nhà nước phát sinh khi có các căn cứ sau đây:

1. Có thiệt hại xảy ra đối với cá nhân, tổ chức;

2. Chủ thể gây ra thiệt hại là người thi hành công vụ;

3. Có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ do cơ quan giải quyết bồi thường xác định hoặc theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ các trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự;

4. Hành vi trái pháp luật được thực hiện trong khi thi hành công vụ;

5. Người thi hành công vụ có lỗi vô ý hoặc cố ý, trừ các trường hợp trách nhiệm bồi thường nhà nước được xác định không căn cứ vào yếu tố lỗi theo quy định của Luật này;

6. Có quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra thiệt hại và thiệt hại xảy ra.

Điều 6. Nguyên tắc giải quyết bồi thường nhà nước

Việc giải quyết bồi thường Nhà nước phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

1. Kịp thời, công khai và đúng pháp luật;

2. Tạo điều kiện thuận lợi để người bị thiệt hại, thân nhân của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước;

3. Bồi thường được thực hiện bằng tiền, được chi trả một lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thoả thuận khác;

4. Thiệt hại về vËt chÊt thùc tÕ được bồi thường toàn bộ; thiệt hại vÒ tinh thÇn ®­îc båi th­êng theo møc quy ®Þnh t¹i LuËt nµy;

5. Việc bồi thường thiệt hại được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước với người bị thiệt hại, thân nhân của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ; nếu không thương lượng được thì người bị thiệt hại, thân nhân của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 7. Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động bồi thường nhà nước

1. Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bồi thường nhà nước.

2. Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường nhà nước.

3. Theo dõi, thống kê về việc thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước, định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Thanh tra, kiểm tra về việc giải quyết bồi thường nhà nước.

5. Hợp tác quốc tế về giải quyết bồi thường nhà nước.

Điều 8. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về việc thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước.

2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong quản lý nhà nước về việc thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước theo quy định của Luật này và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

3. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về việc thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước theo quy định của Luật này và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Điều 9. Các hành vi bị cấm

1. Giả mạo hồ sơ, giấy tờ và khai báo không trung thực để được bồi thường nhà nước.

2. Thông đồng giữa người bị thiệt hại và người thi hành công vụ để hưởng chế độ bồi thường nhà nước trái pháp luật.

3. Can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết bồi thường nhà nước.

4. Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

TẢI TOÀN VĂN DỰ THẢO TẠI ĐÂY

Advertisements

One Response

  1. GÓP Ý LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC
    Điều 3: Trong trường hợp Luật này không có quy định thì áp dụng các quy định có liên quan của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết. Nếu các Luật khác cũng không có quy định liên quan thì sao? Thường thì trong các Luật khác chỉ vẻn vẹn có câu” nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
    Xin nêu một ví dụ trong các Luật và nghị quyết khác không có, trong Luật này cũng không thấy đề cập: đó là trường hợp bị oan của ông Nguyễn Lâm Sáu, do đấu tranh chống tham nhũng nên bị công an tỉnh Đăk Lăk bắt giam từ năm 1985, khi bắt không có phê chuẩn của Viện Kiểm sát, không có lệnh bắt, không có chứng cứ (chỉ là một chai dầu cam 0,65 Mly đã hư (Mly là cái gì? nếu là hơn một nửa mili lít thì bằng bao nhiêu?). Trong vụ bắt này còn có một người khác tên là Phạm Văn Cần, nhưng anh Cần đã bị chết trong nhà giam của Công an. Ông Nguyễn Lâm Sáu được thả sau 9 ngày, nhưng chỉ có lệnh tạm tha, không truy tố, không tuyên tội (chắc chắn không thể tuyên tội được vì ông Sáu không có tội), không xét xử, không đình chỉ vụ án, không miễn nhiệm trách nhiệm hình sự…Từ đó đến nay ông Sáu liên tục gửi đơn thư khiếu nại lên UBND tỉnh Đăk Lăk, Công an tỉnh Đăk Lăk, các cơ quan chức năng TW, nhất là khi có Nghị quyết 388, nhưng UBND tỉnh và Công an tỉnh chỉ giả vờ giải quyết và IM LẶNG, KHÔNG TRẢ LỜI, không thực hiện pháp luật, không thực hiện Nghị quyết 388.
    Trong suốt 23 năm, ông Sáu không có chứng minh nhân dân, không có hộ khẩu, vẫn là “bị can” chờ ngày “xét xử”, thế trong thời gian đằng đẵng kéo dài trong gần 3 thập kỷ, treo vắt qua 2 thế kỷ này, nếu được bồi thường thì tính toán như thế nào? Ông Sáu không bị giam cầm nhưng cũng gần như thế, có thể gọi là “tù ngoài”, ngoài vòng pháp luật, không ai bảo vệ, không lương, không gạo, không thu nhập, không việc làm, không quyền công dân… , khiếu kiện thì mãi vẫn không trả lời, dù tỉnh các cơ quan TW đã có nhiều công văn, văn bản yêu cầu tỉnh Đặk Lăk phải giải quyết.
    Bắt giam rồi lại tạm tha
    Tù ngoài còn khổ gấp ba tù hầm.
    (Nguyễn Lâm Sáu)
    Xin quý vị xem kỹ bài báo của Tạp chí Pháp lý, cơ quan ngôn luận của Hội luật gia VN:
    http://blog.360.yahoo.com/blog-Mu02rkMyc6.sbyp.tJJcag–?cq=1&l=6&u=10&mx=10&lmt=5
    Và các bài khác của báo Tiền phong: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?SearchQuery=%22nguy%E1%BB%85n+l%C3%A2m+s%C3%A1u%22&cboInputMethod=1
    Vì thế, trong Luật này chưa có trường hợp cố tình bắt giam, ngượi bị bắt giam không có tội, bắt giam không đúng luật, không tha hẳn người bị oan mà chỉ tạm tha (trường hợp của ông Sáu là gần 23 năm), không xét xử, không đình chỉ điều tra, không bãi nhiệm trách nhiệm hình sự…
    Nếu đòi bồi thường thiệt hại mà phải thương lượng thì không bao giờ được cả, bên bị hại luôn luôn đòi rất cao và ngược lại, và cơ quan gây ra oan sai lại đi thương lượng làm sao mà khách quan được? Điều này đã được thực tế chứng minh thông qua các vụ bồi thường oan sai do các báo trong nước đăng tải. Mà theo khoản 5, điều 6 khi thương lượng không thành thì yêu cầu Tòa án giải quyết, thế thì mọi việc sao không chuyển cho Tòa án từ đầu luôn?
    Theo tôi, những vụ oan sai do cố ý (như vụ trên để trả thù người tố cáo) thì những cán bộ gây oan sai phải bỏ 100% tiền túi ra và bồi thường mọi thiệt hại, gây thiệt hại gì thì phải đền nấy, kể cả tiền tàu xe, tiền giấy, in ấn đơn thư, tiền gửi đơn thư qua bưu điện… có như thế thì các cán bộ thoái hóa biến chất không dám làm những việc dại dột, liều lĩnh gây thiệt hại cho công dân.
    Điều 14 Khoản 1: “Trong trường hợp có thu nhập thường xuyên, mức bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình của cá nhân, tổ chức trong ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xẩy ra”. Điều này cũng vô lý và không khả thi, vì giả sử nếu tính bình quân thu nhập của người bị oan cách đây 20, 30 năm thì quá phi lý và không thể và không ai chấp nhận được, thu nhập bình quân lúc đó chắc cũng chỉ…50 đồng/tháng.
    Khoản 2 điều này: “Cá nhân có thu nhập nhưng không xác định được thì được bồi thường theo theo thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Trong trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì xác định theo mức lương tối thiểu chung tại thời điểm giải quyết bồi thường.” Cũng rất vô lý, như thế thì những người lao động bằng chất xám, chẳng hạn những người viết phần mềm vi tính, buôn bán bất động sản, sản xuất kinh doanh quy mô lớn, khi không xác định được mức thu nhập thì được bồi thường tính theo mức lương tối thiểu hoặc thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì nghe quá vô lý. Trong xã hội hiện nay, có nhiều người làm việc với nhiều mức lương vô cùng chênh lệch, nhất là những người có trình độ làm việc trong các tổ chức, công ty nước ngoài, lương hàng ngàn đô la.
    Điều 15, khoản 2: Những người thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước mà bị chết thì vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng của họ được bồi thường chung một khoản tiền bù đắp về tinh thần là ba trăm sáu mươi tháng lương tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường. Xin được hỏi những người làm luật căn cứ đâu mà tính toán như thế, hay theo chỉ tính toán theo chủ quan của chính mình?. Mạng người rẻ mạt thế ư?
    Theo tôi, ngoài số tiền trên còn phải bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần… từ lúc bị oan, bị giam… đến lúc người bị oan bị chết.
    Điều 22. (Những) người thi hành công vụ gây ra thiệt hại mà tham gia vào các khoản 1, 2 và 3 thì không bao giờ có công bằng, chẳng khác gì kẻ cắp là quan tòa. Nếu (những) người này đã chết (vì vụ oan sai đã kéo dài quá lâu) thì ai sẽ thực hiện 3 khoản của điều này?
    Điều 31, khoản 2:
    Về việc xin lỗi, theo nghĩa của tiếng Việt, chỉ đúng với những lỗi nhỏ do vô tình gây ra, như lỡ giẫm vào chân, không cố ý làm bẩn áo người khác, còn những việc như cố ý bắt, tống giam người bị oan thì không gọi là lỗi, mà gọi là TỘI ÁC, nên không nên xin lỗi, mà là ĐỀN TỘI!
    “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường nhà nước, cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai theo quy định tại khoả 1 và 2 Điều này”.
    Nếu trong khoảng thời gian này, các cơ quan không xin lỗi, không cải chính, không trả lời thị bị hình thức trừng trị, trừng phạt nào? (Xin đừng bao giờ dùng từ “xử lý!), nếu kéo dài thời gian thì cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường thiệt hại sau 7 ngày từ khi người bị oan gửi đơn đòi bồi thường thiệt hại đến khi vụ việc được giải quyết.
    Xin được nói thêm là trong vụ việc kể trên của ông Nguyễn Lâm Sáu, mặc dù đã có nhiều luật, nghị quyết quy định rõ trách nhiệm giải quyết thuộc về ai và trong thời bao lâu, và có cả nhiều văn bản của các cơ quan TW liên quan yêu cầu tỉnh Đăk Lăk phải giải quyết, nhưng tỉnh Đăk Lăk vẫn LẶNG CÂM, tỉnh Đăk Lăk đã vi phạm nghiêm trọng các Luật, nhưng vẫn không bị trừng trị, vụ việc vẫn rơi vào im lặng. Ông Sáu đã mất rất nhiều thứ, mà không ai can thiệp, giải quyết, mà nếu giải quyết không biết có luật nào bồi thường nổi hay không: Tinh thần, sức khỏe, danh dự, uy tín, niềm tin, quyền lao động, khả năng ngoại giao, quyền công dân, cơ hội học tập, nghiên cứu, sáng tạo cho cả gia đình, con cái thất học, chậm trễ học hành, không thành đạt. Hành trình khiếu kiện mấy chục năm, mất rất nhiều công sức và tiền của, mất quyền bầu cử thiêng liêng, không được hội họp, bị cô lập, bị coi là phạm nhân, là tù nhân, không phải gia đình văn hóa, mọi người khinh rẻ, con cái khó thành lập gia đình, oan trái và nhục nhã lớn v.v và v.v…
    Theo tôi, việc bồi thường thỏa đáng phải được tiến hành trước khi xin lỗi, cải chính để tránh tình trạng xin lỗi, cải biến xong thì cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường “lờ” việc bồi thường luôn, như trường hợp của ông Nguyễn Đình Chiến ở Cần Thơ, vụ án tranh cãi xuyên thế kỷ.
    Điều 32:
    Xin được hỏi: căn cứ vào đâu mà bồi thường 3 ngày lương tối thiểu. Nếu người bị hại là nông dân thì họ có lương đâu mà tính, còn đối với những người học ở nước ngoài về, những lao động chất lượng cao, làm việc trong các công ty nước ngoài, dùng chất xám… cũng tính 3 ngày lương cơ bản à?
    “…Nhất nhật tù thiên thu tại ngoại
    Một ngày tù bằng khổ ngàn thu
    Nỗi nhục lớn muôn đời cộng lại
    Danh dự cao thiêng lấy chi bù?!

    Danh dự là sinh mạng thứ hai
    Không phải của ai cũng như ai
    Danh dự mỗi người là một khác
    Điên khùng sao sánh được đức tài?!…” (Nguyễn Lâm Sáu)
    Việc bồi thường phải tính theo giá cả thị trường hoặc tiền lương… tại thời điểm bồi thường, ví dụ: lương của một công chức cách đây 30 năm là 80 đồng, không thể áp dụng số tiền lương tại thời điểm đó được, mà phải quy ra lương hiện tại, cộng với thời gian lên lương, thăng chức, trượt giá, tiền nghỉ lễ, Tết, nghỉ mát… và quan trong nhất là phải tính lãi suất từ lúc bị thiệt hại đến khi nhận tiền bồi thường, lãi mẹ đẻ lãi con, lãi suất cao nhất tại thời điểm bồi thường vì người bị thiệt hại có tiền từ lúc bị gây thiệt hại (Khi công dân vay tiền của ngân hàng mà không trả nợ đúng thời hạn thì đều bị tính lãi kiểu này, đó là có hợp đồng, thỏa thuận, còn trường hợp gây oan sai không có thoả thuận, hợp đồng nhưng lãi suất được tính như thế là tạm chấp nhận được).
    Điều 36:Trường hợp gửi đơn khiếu nại, đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nhiều lần mà không được trả lời, không giải quyết thì người bị oan phải làm sao??? Cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết mà không giải quyết thì có bị trừng phạt hoặc bồi thường gì không? Ai đứng ra giám sát và trừng phạt cơ quan này?
    Điều 37, khoản 2: Cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng mà tổ chức việc định giá, giám định thiệt hại thì không bao giờ khách quan được. Cần phải có một cơ quan độc lập giám định thiệt hại.
    Khoản 4: Tòa án cũng thuộc thẩm quyền cấp tỉnh. Nếu trường hợp Tòa án cũng không trả lời thì sao? Người bị oan khiếu kiện lên cấp TW, như thế sẽ “vượt cấp”.
    Điều 39: Kinh phí bồi thường thiệt hại cũng phải được lấy một phần (nên quy định %) của người thi hành công vụ gây ra.
    Trong luật không thấy đề cập nếu các cơ quan có thẩm quyền không trả lời, không bồi thường kịp thời, đúng thời hạn thì bị trừng trị hoặc bồi thường thiệt hại thế nào cả.
    TÓM LẠI:
    – Làm luật phải khách quan, đứng giữa, không vì lợi ích của Nhà nước hay quyền lợi của người bị thiệt hại do oan sai.
    – Cần nêu rõ các vụ việc bị kéo dài thời gian, kéo dài nhiều năm, khác với bồi thường gần với thời gian gây thiệt hại.
    – Để thực hiện công bằng xã hội, việc bồi thường phải thỏa đáng, không vì Nhà nước thiếu kinh phí và vì số lượng oan sai quá lớn mà giảm số tiền bồi thường theo đúng mức cần thiết. Nếu Luật này được thực hiện tốt thì có thể bước đầu Nhà nước phải bỏ ra khoản tiền khá lớn để bồi thường, nhưng về lâu dài, theo tôi, chắc chắn số tiền này sẽ càng ít đi do cán bộ không dám gây oan sai.
    – Đã sai là oan và đã oan là do sai, do đó không tách rời hai khái niệm này và cả hai đều phải được bồi thường.
    – Tại sao phải có Luật bồi thường Nhà nước? Vậy Hiến pháp và Pháp luật chưa có điều khoản bồi thường hay sao, và tại sao đã có pháp luật quy định về bồi thường mà lâu nay vẫn không được thực hiện? Không thực hiện hoặc trì hoãn do không có luật bồi thường riêng?
    – Thật đơn giản chỉ cần nói sai gì bồi thường nấy, sai đến đâu bồi thường đến đó, ai làm sai người đó phải chịu trách nhiệm một phần hoắc tất cả (tất cả nếu gây oan sai do cố ý). Không thể liệt kê tất cả các sự việc, tình huống oan sai vì điều này là vô cùng phức tạp, vô cùng bất ngờ và vô cùng nhiều.
    – Chỉ cần người bị oan chứng minh được thiệt hại của mình (trước khi có Luật bồi thường) một cách hợp lý, không cần phải có hóa đơn, chứng từ liên quan, ví dụ cách đây 20 năm, người bị oan bị đau ốm, khi đi mua thuốc không lấy hóa đơn hoặc lúc đó không có hóa đơn vì lúc đó chưa có Luật Bồi thường Nhà nước quy định phải chứng minh được thiệt hại thì không thể không thanh toán cho họ, thì cơ quan bồi thường phải bồi thường đầy đủ, “nói phải ông vải cũng nghe”, trong cuộc sống có nhiều sự thật không còn bằng chứng và cũng ít nhân chứng không phải là bằng chứng, nhất là các vụ việc bị kéo dài thời gian.

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: