Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍNH CHUYỂN ĐỔI CỦA TIỀN TỆ

image TS. PHAN VĂN TÌNH

Trong thời gian qua, khi trao đổi về tính chuyển đổi của tiền tệ có nhiều chuyên gia đưa ra những giải pháp cho vấn đề chuyển đổi của đồng Việt Nam (VND) rất đáng được quan tâm và cần có sự trao đổi.

Có ý kiến cho rằng, để nâng cao khả năng chuyển đổi của VND, cần thực hiện các giải pháp: đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ dựa trên lãi suất và lạm phát cơ bản làm mục tiêu; thực hiện chiến dịch tầm thường hoá đô la Mỹ bằng cách phát huy hơn nữa tác dụng của thị trường ngoại hối; xoá bỏ các giấy phép mua bán ngoại tệ trong giao dịch vãng lai, nâng cao khả năng xuất khẩu bằng VND… Bài viết này muốn đề cập đến một số vấn đề liên quan đến bản chất của việc chuyển đổi tiền tệ; góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn, thuận lợi cũng như thách thức đối với quốc gia chưa có điều kiện kinh tế chín muồi mà vội áp dụng chế độ chuyển đổi đồng bản tệ của mình; đề cập đến tính thời sự, khả năng nâng cao tính chuyển đổi của VND theo các giải pháp do một số chuyên gia đưa ra.

1. Chuyển đổi tiền tệ là một phạm trù kinh tế.

Trước hết, tôi tán thành với ý kiến cho rằng, chuyển đổi tiền tệ và duy trì cơ chế chuyển đổi – là một vấn đề kinh tế phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều thay đổi về chất trong nền kinh tế quốc gia, cũng như trong quan hệ ngoại thương. Tuy nhiên, về ý kiến cho rằng chuyển đổi của đồng tiền là vấn đề khá trừu tượng, khó đánh giá chính xác và đo lường trực tiếp, thiết nghĩ, cần phải làm sáng tỏ hơn. Tôi cho rằng, tính chuyển đổi tiền tệ là một phạm trù được xác định bởi tổng hoà các mối quan hệ kinh tế, bao gồm quan hệ tiền tệ – tín dụng – ngân hàng, ngoại thương… Khi điều kiện kinh tế chưa chín muồi thì tất nhiên sẽ không có một tiêu chí nào để xác định tính chuyển đổi của đồng tiền. Nhưng khi đồng bản tệ của các quốc gia trở thành đồng tiền chuyển đổi tự do, thì rõ ràng vấn đề không còn trừu tượng và khó xác định. Hiện nay các đồng tiền của các nước trên thế giới được chia ra làm 2 nhóm: nhóm các đồng tiền tự do chuyển đổi và nhóm các đồng tiền không tự do chuyển đổi.

Vì chuyển đổi tiền tệ là một phạm trù kinh tế, nên khi bàn đến, người ta quan tâm đến nhiều yếu tố, tựu trung là những điều kiện cơ bản cần và đủ cho đồng tiền của bất cứ một quốc gia nào có thể chuyển đổi. Các điều kiện đó là: Tiềm năng kinh tế của một nước và khả năng cân đối tài chính quốc gia; hình thái hình thành giá cả hàng hoá; tổ chức thị trường bán buôn nội địa phát triển một cách ổn định, có khả năng đáp ứng bất cứ nhu cầu tiêu dùng nào của những người sở hữu đồng tiền; ngành công nghiệp xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đảm bảo cán cân thanh toán một cách ổn định; có mức dự trữ ngoại tệ đủ cho nền kinh tế; thị trường hối đoái năng động; cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho việc chuyển đổi đồng tiền.

Như vậy, bất cứ một yếu tố nào trong số các yếu tố nêu trên đều có đại lượng để tính toán. Nếu chúng ta cho rằng chuyển đổi tiền tệ là vấn đề trừu tượng, khó đánh giá và đo lường trực tiếp thì chúng ta không thể xây dựng được những giải pháp khả thi cho việc chuyển đổi của đồng bản tệ.

Từ những luận giải trên, có thể thấy rằng, khả năng chuyển đổi của tiền tệ phụ thuộc vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy, trong thực tiễn kinh tế thế giới, tính chuyển đổi tiền tệ có các mức độ khác nhau như: “chuyển đổi đầy đủ” và “chuyển đổi hạn chế”.

Đồng tiền của bất cứ một quốc gia nào được xem là “chuyển đổi đầy đủ” nếu việc chuyển đổi ra đồng tiền của quốc gia khác không bị luật pháp của quốc gia đó khống chế ở bất cứ phương diện nào, đồng thời thoả mãn được hai yếu tố trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Đó là được sử dụng rộng rãi trong trong định giá và thanh toán đối với các giao dịch ngoại thương và được mua bán rộng rãi trên các thị trường ngoại hối. Chính vì vậy, “chuyển đổi đầy đủ” còn gọi là chuyển đổi tự do.

Trong trường hợp “Chuyển đổi hạn chế” thì đồng bản tệ của quốc gia bị luật pháp hạn chế phạm vi, cũng như đối tượng sử dụng. Ví dụ như người cư trú sử dụng được, nhưng người không cư trú thì không được sử dụng, hoặc đồng tiền đó được sử dụng đối với nghiệp vụ vãng lai, nhưng không được sử dụng đối với giao dịch vốn…

Có hai loại “chuyển đổi hạn chế”. Đó là chuyển đổi “nội hạt” và chuyển đổi “ngoại hạt”. Nghiệp vụ chuyển đổi này phụ thuộc vào nơi cư trú và hoạt động của doanh nghiệp là chủ sở hữu đồng bản tệ. Chuyển đổi “ngoại hạt” xảy ra khi cần có ngoại tệ để thanh toán cho nước ngoài, trường hợp này chỉ sử dụng cho người cư trú là pháp nhân và thể nhân có quan hệ nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ. Chuyển đổi nội hạt, thì ngược lại, chỉ áp dụng trong trường hợp người cư trú đổi đồng bản tệ ra đồng ngoại tệ để chi tiêu tại nước sở tại.

2. Những ưu việt và thách thức đối với quốc gia khi chuyển đổi đồng bản tệ

Trước hết, chúng ta có thể khẳng định rằng, đồng bản tệ của quốc gia nào trở thành đồng tiền chuyển đổi, thì nó sẽ có vai trò tích cực đối với việc phát triển nền kinh tế quốc dân của quốc gia đó .

Chuyển đổi tiền tệ chỉ tồn tại trong một nền kinh tế phát triển bền vững, tự do cạnh tranh và không bị ràng buộc bởi bất cứ một hạn chế nào về quan hệ thương mại và thanh toán.

Tính chuyển đổi của đồng tiền có vai trò định hướng cho các nhà sản xuất cũng như tiêu thụ hàng hoá. Trong điều kiện hội nhập, thì thị trường nội địa là một phần của thị trường thế giới, và ngược lại, thị trường thế giới sẽ là cầu nối cho sự phát triển của thị trường nội địa.

Khi đồng bản tệ của một quốc gia có cơ chế tự do chuyển đổi thì các nhà sản xuất và tiêu thụ hàng hoá của quốc gia đó, khi có kế hoạch định hướng thị trường, sẽ có phương án lựa chọn thị trường tối ưu hơn so với điều kiện đồng bản tệ không tự do chuyển đổi.

Vì vậy, có thể nói rằng tính chuyển đổi của tiền tệ làm cho thị trường nội địa và thế giới liên kết lẫn nhau chặt chẽ hơn, tạo khả năng cho thị trường nội địa phản ứng một cách linh hoạt đối với biến đổi trên thị trường thế giới và như vậy, nó có thể tác động tích cực đến việc phát triển nền kinh tế quốc gia có đồng bản tệ chuyển đổi.

Tuy nhiên, tính chuyển đổi của đồng tiền sẽ đặt quốc gia có đồng tiền chuyển đổi vào những thách thức nhất định. Trong điều kiện hội nhập, sẽ diễn ra quá trình thích ứng và cân bằng các yếu tố kinh tế của từng quốc gia riêng lẻ với thị trường thế giới trên các phương diện chi phí sản xuất, giá cả hàng hoá, chất lượng và trình độ kỹ thuật của sản phẩm… Khi nền kinh tế thế giới phát triển thì nền kinh tế nội địa phải thay đổi cơ cấu theo định hướng nâng cao chất lượng hoạt động nhằm tạo ra những hàng hoá có khả năng cạnh tranh về giá cả cũng như chất lượng. Như vậy, tính chuyển đổi của đồng bản tệ sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế tiến đến một cơ cấu tối ưu và sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động và tài chính quốc gia.

Thế nhưng, nếu nền kinh tế quốc gia không có đủ điều kiện và vì vậy, không có khả năng phản ứng một cách cân bằng và kịp thời đối với những thay đổi trên thị trường thế giới thì kết quả sẽ là ngược lại. Đó là thách thức thứ nhất đối với quốc gia chưa có điều kiện kinh tế chín muồi, nhưng vội vàng áp đặt đồng tiền của mình trở thành đồng tiền chuyển đổi.

Một yếu tố hết sức quan trọng cần phải nhận biết là trước khi đồng tiền quốc gia trở thành đồng tiền chuyển đổi, các nhà sản xuất chỉ tính đến các quan hệ nội địa vì có sự bảo hộ của các hạn chế về thương mại và thanh toán, nhưng trong cơ chế tự do chuyển đổi, các nhà sản xuất phải đối đầu với dòng hàng hoá cạnh tranh từ thị trường thế giới. Để đối phó, người ta phải đẩy mạnh sản xuất hàng hoá và mở rộng thị trường tiêu thụ để tăng nguồn thu nhằm bù đắp phần thâm hụt trong xuất – nhập khẩu do nhập khẩu tăng nhanh. Nếu không làm được như vậy thì cơ chế chuyển đổi sẽ là nguy cơ đối với khả năng mất cân bằng trong thanh toán. Đó là thách thức thứ hai.

Chúng ta biết rằng, giải quyết đối kháng giữa năng lực cạnh tranh giữa thị trường nội địa và thị trường thế giới và duy trì khả năng cân bằng trong thanh toán chỉ có thể thực hiện được, nếu mức chi phí sản xuất, giá cả hàng hoá trên lãnh thổ quốc gia sẽ tương ứng với mức chi phí và giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới theo chế độ tỷ giá hiện hành giữa đồng bản tệ và ngoại tệ. Vì vậy, trong cơ chế chuyển đổi tiền tệ, người ta phải duy trì một chế độ tài chính nghiêm ngặt, bảo đảm sự phát triển ổn định nền kinh tế thông qua việc áp dụng một chính sách tín dụng- tiền tệ và ngân sách phù hợp, không được để xảy ra tình trạng mất cân đối trong thanh toán kéo dài. Điều kiện cho một cơ chế chuyển đổi đồng bản tệ hoạt động bình thường là phải có nguồn dự trữ ngoại tệ đầy đủ, cũng như khả năng khai thác nguồn vốn để có thể duy trì được sự ổn định nền kinh tế trong trường hợp mất cân bằng trong thanh toán. Nếu không thì nền kinh tế sẽ rơi vào khó khăn. Đó là thách thức thứ ba đối với việc chuyển đổi đồng tiền quốc gia trong điều kiện kinh tế chưa chín muồi.

3. Xung quanh các giải pháp nâng cao khả năng chuyển đổi VND

Nếu VND trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi khi có đầy đủ các điều kiện kinh tế – pháp luật, nó sẽ tạo ra những động lực cho phát triển nhanh nền kinh tế, là thước đo để so sánh một cách khách quan mức độ phát triển kinh tế Việt Nam so với các nước và xác định chính xác tỷ trọng kinh tế Việt Nam trong nền kinh tế thế giới. Vì vậy, làm cho VND trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi là rất cần thiết.

Tuy nhiên, như đã đề cập trên đây, chuyển đổi tiền tệ , đòi hỏi phải có sự thay đổi theo chiều sâu nhiều quan hệ trong nền kinh tế. Nếu không có những bước đi thích hợp để tạo tiền đề cho chuyển đổi đồng tiền thì không những sẽ không đạt được mục tiêu chuyển đổi mà còn gây tác hại cho nền kinh tế.

Trong lĩnh vực chuyển đổi tiền tệ, các nước trên thế giới đã có những bước đi hết sức thận trọng. Chẳng hạn, trong số hơn 150 thành viên của IMF, thì đến nay mới có hơn 70 nước có cơ chế chuyển đổi đồng bản tệ của mình. Đó là những nước thực hiện đúng cam kết theo điều VIII, Điều lệ IMF là tự do hoá thanh toán và các giao dịch vãng lai. Các nước như Anh, Pháp, Tây Đức (hiện nay Đông và Tây Đức đã thống nhất), ý, Thụy Điển, Hà Lan, Thụy Sĩ, Ai len và Luc- xăm bua – phục hồi cơ chế chuyển đổi đồng bản tệ của mình sau 15 năm kể từ ngày Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Các quốc gia khác thì bắt đầu chế độ chuyển đổi đồng bản tệ của mình muộn hơn. Ví dụ như Nhật – vào năm 1964, Đan Mạch – 1967, Phần Lan 1979, Tây Ban Nha – 1986… Đa phần các quốc gia trong số này thực hiện chế độ chuyển đổi đồng bản tệ của mình đối với các nghiệp vụ thương mại vãng lai và duy trì những hạn chế cần thiết đối với các giao dịch chuyển vốn và đầu tư nước ngoài.

Như vậy, sự không đồng nhất về thời gian, phương thức chuyển đổi cho thấy rằng tính chuyển đổi của tiền tệ phụ thuộc vào quá trình phát triển kinh tế của từng nước.

Bàn đến việc nâng cao khả năng chuyển đổi của VND, trước hết, chúng ta xem xét khả năng chuyển đổi hiện nay của VND ở mức độ nào? Sau đó mới có thể đề cập đến những giải pháp nâng cao khả năng chuyển đổi của nó.

Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội đất nước, đồng tiền Việt Nam được chuyển đổi ra ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Tính chuyển đổi này được luật định bằng các quy định của Nhà nước. Theo Nghị định của Chính phủ số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 về quản lý ngoại hối thì người cư trú là các doanh nghiệp, chi nhánh công ty nước ngoài, nhà thầu nước ngoài, tổ chức tín dụng ở Việt Nam, cơ quan nhà nước, cơ quan lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, … được mua ngoại tệ bằng VND để thanh toán cho các giao dịch vãng lai hay các giao dịch được phép khác. Ngoài ra, một số đối tượng thuộc người không cư trú như cơ quan ngoại giao, cơ quan đại diện nước ngoài có nguồn thu hợp pháp bằng VND có thể mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép ở Việt Nam.

Xét về bản chất thì việc mua ngoại tệ một chiều như trên phản ảnh tính chuyển đổi của VND. Tuy nhiên, đây là việc chuyển đổi có điều kiện như phải có nguồn thu hợp pháp, phải có xác nhận của cơ quan hữu quan hoặc các chứng từ chứng minh rõ nhu cầu và tính hợp lệ của việc mua ngoại tệ. Tính chuyển đổi của VND trong điều kiện này phụ thuộc vào quyết định của Nhà nước và phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường và nhu yêu cầu phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước. Như vậy, khả năng và phạm vi chuyển đổi VND do chính sách và chủ trương của Nhà nước quyết định. Nói một cách khác, Nhà nước có thể thay đổi tính chuyển đổi nội bộ của đồng bản tệ. Nhiều nước trên thế giới mà đồng bản tệ của họ chưa chuyển đổi tự do, vẫn thực hiện chuyển đổi nội bộ như vậy.

Ngày 18/10/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 131/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối. Trong đó, dỡ bỏ những rào cản cuối cùng đối với các hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến giao dịch vãng lai là bước đi mang tính quyết định chứng tỏ quyết tâm của Việt Nam trong việc tiến tới một hệ thống giao dịch vãng lai quốc tế không còn hạn chế và là cơ sở pháp lý quan trọng để IMF xem xét quyết định công nhận Việt Nam đã hoàn toàn thực hiện đúng các nghĩa vụ nêu trong Điều VIII, Điều lệ IMF. Tiếp đó, ngày 13/12/2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Ngoại hối, có hiệu lực từ ngày 1/6/2006. Có thể nói, 2 văn bản này sẽ tạo ra một cơ chế quản lý ngoại hối theo hướng tự do hoá các giao dịch vãng lai, từng bước tự do hoá các giao dịch vốn, phù hợp với các quy định của Điều lệ IMF và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Khi xem xét vấn đề chuyển đổi của VND, một số tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp như đã đề cập ở phần đầu của bài viết. Xét về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn thì một số trong các giải pháp nêu trên không có ý nghĩa đối với việc chuyển đổi VND.

Trước hết về “giải pháp tầm thường hoá đô la”. Điều làm nhiều người quan tâm là làm cách nào để có được một chiến dịch như vậy. Trước hết, nói đến chiến dịch là nói đến toàn bộ các việc làm được thực hiện một cách tập trung và khẩn trương trong một thời gian nhất định để thực hiện một mục đích nhất định.

Thế nhưng, chuyển đổi tiền tệ là một phạm trù kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố và quan hệ trong nền kinh tế quốc dân, chứ không đơn thuần bị chi phối bởi hiện tượng “đô la hoá”. Vì vậy, nếu chúng ta có thể “tầm thường hoá” đô la thì chúng ta cũng không làm được cuộc “cách mạng” trong việc chuyển VND sang cơ chế chuyển đổi tự do được.

Cần lưu ý rằng một trong những điều kiện quan trọng để một đồng tiền quốc gia trở thành đồng tiền chuyển đổi là quốc gia đó có dự trữ ngoại tệ đủ cho nhu cầu của nền kinh tế, mà đó là một quá trình trung – dài hạn. Tôi cho rằng, tác giả của giải pháp trên có ý tưởng vận dụng các công cụ về giá cả lãi suất để tác động đến người dân và các doanh nghiệp từ bỏ hoặc hạn chế dự trữ đồng đô la Mỹ để chuyển sang VND. Về ý tưởng này có mấy vấn đề cần lưu ý:

Trước hết, chúng ta nên xem xét và lựa chọn là nên đi theo cách nào: kinh tế hay hành chính.

– Nếu vận dụng các biện pháp hành chính để nâng cao vị thế của VND thì không ổn. Vấn đề cần đặt ra là chúng ta phải làm sao để bảo đảm và duy trì đồng tiền Việt Nam một cách ổn định. Khi đồng tiền của chúng ta ổn định thì tự thân thị trường sẽ tìm con đường cho dân chúng và doanh nghiệp. Khi đó người ta sẽ tự do lựa chọn đồng tiền nào để thanh toán, cất trữ …. để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nguồn ngoại tệ có được bằng nhiều kênh như huy động kiều hối, xuất khẩu hàng hoá, lao động, vay mượn …

– Việt Nam đang trên tiến trình hội nhập. Điếu đó có nghĩa là giữa thị trường Việt Nam và thị trường Mỹ sẽ diễn ra quá trình giao thoa và cân bằng nhiều yếu tố của thị trường bởi tác động của nhiều quy luật khách quan, mà điều tiết bằng các biện pháp chủ quan sẽ không thực hiện được.

Vấn đề thứ hai là “giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu bằng VND”. Đẩy mạnh xuất khẩu bằng VND có nghĩa là việc các nhà xuất khẩu Việt Nam chấp nhận để nhà nhập khẩu nước ngoài sử dụng VND để thanh toán cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Tác giả giải pháp này dự báo rằng, tỷ lệ xuất khẩu bằng VND sẽ được tăng dần hằng năm: năm 2006 là 10%, năm 2010 là 30%. Vấn đề cơ bản chúng ta cần phải biết trong hình thức xuất khẩu đó là nguồn “ngoại tệ” bằng VND mà các nhà nhập khẩu nước ngoài thanh toán cho nhà xuất khẩu Việt Nam lấy từ đâu? Do xuất khẩu cho Việt Nam có được hay do vay của Chính phủ Việt Nam. Nếu do xuất khẩu cho Việt Nam mà có được,có nghĩa là VND đã được sử dụng trong định giá hàng hoá và dịch vụ ngoại thương? Nếu vậy thì các nhà xuất khẩu nước ngoài mở tài khoản bằng VND tại các ngân hàng thương mại Việt Nam để duy trì số tiền Việt Nam có được do xuất khẩu và sẽ dùng số tiền Việt Nam đó để thanh toán cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Nếu như vậy, thì chủ tài khoản là các nhà xuất khẩu nước ngoài có thể sử dụng VND để chuyển ra bất cứ loại ngoại tệ nào để sử dụng cho các mục đích của họ. Nếu không thì quan hệ ngoại thương theo hình thức nhà nhập khẩu nước ngoài xuất khẩu cho Việt Nam và thanh toán bằng VND dưới dạng ghi nợ và nhà xuất khẩu Việt Nam xuất khẩu cho nước ngoài sẽ nhận số tiền Việt Nam mà nhà xuất khẩu có được. Về bản chất thì đây chỉ là quan hệ song phương giống như hình thức hàng đổi hàng, việc định giá được thực hiện qua đồng tiền chuyển đổi của nước thứ ba. Như vậy, về hình thức xuất khẩu theo giải pháp nói trên không có vai trò trong việc chuyển đổi VND.

4. Cần phải có các giải pháp trung và dài hạn

Việc nâng cao khả năng chuyển đổi của VND là một yêu cầu cũng như mục tiêu của Chính phủ, thế nhưng để đạt được mục tiêu đó chúng ta cần những bước đi phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đảm bảo rằng tính chuyển đổi của VND có nội hàm kinh tế và ổn định, có vai trò không những đối với nền kinh tế Việt Nam, mà còn đối với nền kinh tế thế giới. Tác giả bài viết này cho rằng, Việt Nam cần một khoảng thời gian từ 7 đến 10 năm nữa để có đủ các điều kiện kinh tế – xã hội cho việc chuyển đổi tự do VND. Trong khoảng thời gian đó, một loạt các giải pháp cần phải được thực hiện:

– Hình thành thị trường hối đoái năng động, xoá bỏ dần các hạn chế đối với các giao dịch và thanh toán vãng lai;

Hoàn thành cơ bản công cuộc cổ phần hoá các doanh nghiệp quốc doanh;

– Tái cơ cấu ngành; phát triển đồng đều và ổn định các khu vực của nền kinh tế quốc dân;

– Cải cách thể chế Ngân hàng Nhà nước; củng cố hệ thống các tổ chức tín dụng theo hướng phát triển lành mạnh, ổn định và bền vững;

– Thực hiện chính sách tiền tệ – tín dụng hợp lý, đảm bảo nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, nhưng phải ổn định được sức mua của VND;

– Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở phát triển bền vững các doanh nghiệp; đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở ưu tiên đầu tư các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh;

– Phát triển nguồn dự trữ ngoại tệ quốc gia, đảm bảo nhu cầu phát triển bình thường nền kinh tế.

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 5/2006

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: