RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP, TRỢ CẤP VÀ CẠNH TRANH VỚI CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG WTO

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Ban Pháp chế VCCI

I/ RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHÔNG BÁN PHÁ GIÁ – CHỐNG TRỢ CẤP

I.1. Cam kết WTO của Việt Nam về các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp

Về vấn đề chống bán phá giá, chống trợ cấp của Việt Nam đối với hàng hoá nước ngoài nhập khẩu, các cam kết và nghĩa vụ liên quan của Việt Nam trong WTO tập trung trong các nhóm quy định sau:

(i) Cam kết gia nhập của Việt Nam về vấn đề liên quan: bao gồm các Đoạn 251, 252, 253, 254 và 255 Báo cáo của Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam;

(ii) Hiệp định về chống bán phá giá của WTO; và

(iii) Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO.

Theo đúng nguyên tắc áp dụng giữa các nhóm quy định trong WTO (chủ yếu là giữa các Hiệp định chung của tổ chức này với các cam kết gia nhập cụ thể), các quy định thuộc nhóm (i) được ưu tiên áp dụng so với các tiêu chí (ii) và (iii).

Trong trường hợp cụ thể này, trong cam kết nhóm (i) Việt Nam khẳng định “sẽ không áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá và chống trợ cấp cho đến khi các văn bản (pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp) phù hợp với các điều khoản của các Hiệp định đã được công khai và đã có hiệu lực của WTO” và cam kết “đảm bảo các văn bản (về chống bán phá giá và chống trợ cấp) phù hợp hoàn toàn với các quy định liên quan của WTO” (Đoạn 253 Báo cáo của Ban công tác). Nói cách khác cam kết nhóm (i) thực chất dẫn chiếu về các nghĩa vụ nhóm (ii) và (iii)

Với các quy định này về cơ bản không có sự khác nhau giữa (i) và (ii), (iii). Do đó, việc rà soát sẽ được thực hiện với tiêu chí duy nhất là các quy định tại hai Hiệp định liên quan của WTO (tổng thể các quy định, kể cả các quy định ưu tiên cho nước đang phát triển, ngoài ra không có bất kỳ ngoại lệ hay miễn trừ nào).

Lưu ý là Việt Nam không có bất kỳ thoả thuận nào với các nước thành viên WTO và các nước khác về vấn đề kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt nam với hàng hoá nhập khẩu (dưới dạng Hiệp định, Điều ước quốc tế hay bất kỳ dạng thoả thuận song phương hay đa phương nào khác). Vì vậy việc nghĩa vụ của Việt Nam trong lĩnh vực này thuần tuý là việc ban hành các quy định (nếu muốn) và triển khai các vụ điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp trên thực tiễn theo đúng các quy định tại Hiệp định chống bán phá giá và Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (phần về biện pháp đối kháng) mà thôi.

Mặc dù vậy, việc triển khai nghĩa vụ tưởng chừng như thuần nhất này trên thực tế không phải là hoàn toàn đơn giản. Điều này xuất phát từ ít nhất các lý do sau:

(i) Các quy định của WTO về chống bán phá giá, chống trợ cấp mặc dù khá dài và được đánh giá là chi tiết hơn nhiều so với những vấn đề khác (ví dụ biện pháp tự vệ) nhưng về cơ bản vẫn là những quy định mang tính “khung” – chưa thể đi quá sâu vào các chi tiết kỹ thuật vốn rất nhiều và phức tạp của các vụ việc này. Một mặt, các quy định khung này được xem là “tạo điều kiện” cho những “sáng tạo” hay “quyền tự quyết định” của từng nước thành viên khi triển khai, mặt khác, chúng lại là những điểm “xám” gây tranh cãi về cách giải thích và vận dụng. Với một nước mới gia nhập như Việt Nam, với kinh nghiệm pháp lý còn hạn chế, việc vận dụng sao cho linh hoạt các quy định này để vừa đảm bảo tốt nhất quyền lợi của Việt Nam, vừa tránh việc bị các nước thành viên khác kiện ra WTO không phải là dễ dàng. Kinh nghiệm kiểu “thử – sai” như những nước có hoàn cảnh tương tự[1] rất khó áp dụng lại hiện nay khi mà nhiều nước đã sử dụng tương đối nhuần nhuyễn công cụ giải quyết tranh chấp trong WTO để kiện về các vụ việc điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp sai nguyên tắc[2].

(ii) Bản thân các quy định của WTO về chống bán phá giá đang được đề xuất đàm phán sửa đổi trong khuôn khổ Vòng Doha. Đây là một cơ hội tốt cho phép Việt Nam tham gia vào quá trình hình thành các nguyên tắc mà sau đó Việt Nam sẽ phải tuân thủ. Tuy nhiên, năng lực để tham gia tích cực vào quá trình này cũng như kinh nghiệm cần thiết để có tiếng nói hợp lý hiệu quả cho trường hợp của Việt Nam không phải là đơn giản. Trong khi đó, đứng từ góc độ nội luật hoá, việc xây dựng pháp luật nội địa về vấn đề này sẽ trở nên khó khăn hơn khi bản thân các quy định “chuẩn” của WTO có khả năng biến thiên và yêu cầu về việc tuân thủ đầy đủ lại không thay đổi;

(iii) Chống bán phá giá và chống trợ cấp là hai công cụ cần thiết đối với Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các ngành sản xuất trong nước trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc bán phá giá hàng hoá hoặc bán hàng hoá được trợ cấp vào Việt Nam gây thiệt hại, đặc biệt khi Việt Nam mở cửa thị trường trong nước theo các cam kết thuế quan trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, Việt Nam chưa từng triển khai sử dụng các công cụ này, chưa có bất kỳ kinh nghiệm thực tế về chế định pháp lý rất kỹ thuật và phức tạp này do đó việc triển khai sao cho đúng với các nguyên tắc WTO mà là một thách thức không nhỏ. Điều này đúng không chỉ với các cơ quan thực thi mà còn đúng cả với các ngành sản xuất trong nước vốn là đối tượng khởi xướng việc sử dụng và hưởng lợi chủ yếu của các công cụ này.

Một điểm cần lưu ý là Đoạn 255 Báo cáo của Ban công tác (về cam kết của Việt Nam trong việc chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp cho đến hết ngày 31/12/2018) đề cập tới quyền của các nước thành viên WTO khác trong việc sử dụng biện pháp tính toán đặc biệt (“không dựa trên sự so sánh chặt chẽ với giá cả và chi phí ở Việt Nam” – thực chất là được phép sử dụng các trị giá thay thế lấy từ số liệu của một nước thứ ba để tính toán thay vì lấy số liệu của Việt Nam). Các quyền này của các nước được sử dụng không phụ thuộc vào việc Việt Nam có những quy định pháp luật gì bác bỏ hay từ chối cam kết này. Vì vậy, việc rà soát pháp luật Việt Nam để đối chiếu với cam kết này là không có ý nghĩa. Quy định duy nhất trong Đoạn này thuộc quyền (nhấn mạnh là quyền chứ không phải nghĩa vụ) của Việt Nam là việc “một khi Việt Nam khẳng định được rằng nền kinh tế nước mình là kinh tế thị trường chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là thành viên WTO, các quy định tại tiểu mục a[3] với điều kiện luật quốc gia của nước thành viên đó có quy định các tiêu chí về kinh tế thị trường tại thời điểm gia nhập” (đoạn cuối cũng có quy định tương tự nhưng áp dụng với ngành cụ thể). Cho đến nay, Việt Nam đã đạt được thỏa thuận thừa nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trong các điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp với một số nước (bao gồm các nước ASEAN, Nam Phi, Hàn Quốc, Nga, Ucraine). Chưa có thỏa thuận nào về việc công nhận một ngành cụ thể của Việt Nam tồn tại và hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường.[4]

I.2. Hiện trạng pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá, chống trợ cấp

Trước năm 2004, thời điểm ra đời của Pháp lệnh về việc chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và Pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, hệ thống pháp luật Việt Nam không có quy định về vấn đề này[5].

Cho đến nay, các chế định này bao gồm những văn bản pháp luật sau đây:

– Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005;

– Pháp lệnh 2004 về việc chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam;

– Pháp lệnh 2004 về việc chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam;

– Nghị định 89/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam;

– Nghị định 90/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam;

– Nghị định 149/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005;

– Nghị định 04/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;

– Nghị định 06/2006/NĐ-CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;

– Nghị định 19/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa;

– Thông tư 106/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và các khoản bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp;

Về hình thức, so với các chế định pháp luật khác, các chế định về chống trợ cấp, chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam là tương đối tập trung (về cấu trúc), ít (về số lượng văn bản) và do đó khá minh bạch. Để tìm hiểu các chế định này, nhà nghiên cứu cũng như các chủ thể thực thi không phải tìm kiếm vào nội dung từng văn bản pháp luật chuyên ngành để xem xét các tình huống bảo lưu hay có cách áp dụng đặc biệt mà chỉ cần tiếp cận trực tiếp các văn bản này là đủ. Tuy nhiên, điểm hạn chế sẽ là với số lượng không nhiều các văn bản và dung lượng của các văn bản cũng không quá lớn, trong khi vấn đề cần điều chỉnh lại bao gồm rất nhiều các chi tiết nhỏ, phức tạp, ảnh hưởng lớn đến các lợi ích của các chủ thể liên quan nên việc thực thi trên thực tế có thể khó khăn.

Nhìn từ góc độ nội dung, các nhóm văn bản này chủ yếu điều chỉnh các vấn đề:

– Điều kiện điều tra và áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp;

– Thủ tục, trình tự điều tra, cơ quan có thẩm quyền trong việc điều tra và quyết định áp dụng các biện pháp này;

– Quy trình thực thi các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp tại hải quan.

Về cơ bản, hầu hết các quy định này dừng lại ở các quy định “khung”, điều chỉnh những vấn đề thuộc về nguyên tắc mà chưa đi sâu vào những vấn đề mang tính chất chi tiết, kỹ thuật liên quan[6].

Cách quy định như vậy cho phép cơ quan thực thi có khoảng không gian nhất định để linh hoạt xử lý các trường hợp cụ thể. Ngoài ra, khi chưa có kinh nghiệm thực tế, cách quy định như vậy tránh được tình trạng quy định duy ý chí, không hiện thực, không khả thi. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho rằng đối với một chế định có mối liên hệ mật thiết và tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các bên liên quan, các quy định khung, thiếu cụ thể có thể sẽ gây phản ứng nghịch, bất lợi cho cơ quan thực thi (xuất phát từ sự phản đối của các đối tượng chủ thể áp dụng liên quan).

Cho đến nay chưa có một vụ việc nào được điều tra và áp thuế chống bán phá giá hay thuế chống trợ cấp được tiến hành ở Việt Nam để có thể kiểm chứng đầy đủ các nhận định này. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các vụ kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp ở các nước thành viên WTO khác cũng như những tranh chấp trong khuôn khổ WTO về các vấn đề này, có thể thấy nhận định trên không phải là không có căn cứ.

I.3. Rà soát pháp luật thực định về chống bán phá giá, chống trợ cấp với các quy định của WTO

I.3.1. Kết quả rà soát

Pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp là những chế định mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trước đó không có bất kỳ một tiền lệ hay một quy định nào điều chỉnh cụ thể và chuyên biệt về vấn đề này.

Được thành hình trong giai đoạn Việt Nam đang thực hiện những nỗ lực nước rút để gia nhập WTO, mục tiêu được đặt ra đối với các chế định này là hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam cho phù hợp với quy định của WTO và sẵn sàng cho thời kỳ hội nhập sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức này.

Vì vậy, về hình thức có thể suy đoán rằng các quy định của pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam có nội dung tương đối bám sát các quy định liên quan (mà cụ thể là Hiệp định về chống bán phá giá và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO).

Trên thực tế, khi soạn thảo các văn bản thuộc các chế định này, các cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, các cơ quan thẩm tra và các nhà tư vấn trong và ngoài nước đều đã dựa trên những quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của WTO và quy định của một số nước thành viên WTO (với hệ thống pháp luật được suy đoán là cũng phải tuân thủ WTO) để soạn thảo và bình luận hoàn thiện các dự thảo liên quan. Vì vậy có thể nói việc “rà soát” các dự thảo so với “chuẩn” WTO đã được thực hiện ngay từ giai đoạn soạn thảo này.

Rà soát câu chữ của các quy định thuộc hai chế định này (sau khi thông qua và có hiệu lực tại Việt Nam) với hai Hiệp định liên quan của WTO cũng cho kết quả như sau:

(i) Tất cả các quy định của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá, chống trợ cấp hiện hành đều tuân thủ đúng các quy định tại Hiệp định về chống bán phá giá và Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO (không có quy định trái hoặc mâu thuẫn).

Điều này phần nào được khẳng định bởi chính ý kiến của đại diện phía Việt Nam trong quá trình đàm phán WTO về vấn đề này, được ghi nhận trong Báo cáo của Ban công tác “Theo quan điểm của Việt Nam, pháp luật mới về các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam tuân thủ hoàn toàn với Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng và Hiệp định về chống bán phá giá của WTO”[7]. Và không có nước nào phản đối hay nghi ngờ lập luận này của phía Việt Nam[8]. Điều này cho thấy các nước đàm phán với Việt Nam về vấn đề này cũng thừa nhận không có quy định mâu thuẫn giữa pháp luật Việt Nam và các Hiệp định của WTO về vấn đề này.

(ii) Một số quy định cụ thể hóa các quy định lựa chọn của WTO (và do đó hoàn toàn phù hợp với WTO), ví dụ:

– Quy định về các thời hạn trong quá trình điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá;

– Quy định về các Cơ quan điều tra, quyết định và thực thi quyết định về các biện pháp chống bán phá giá;

– Quy định về 01 điều kiện bổ sung cho các điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp – điều kiện về lợi ích công cộng (“Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế – xã hội trong nước” – Điều 5.4 Pháp lệnh chống bán phá giá và Điều 5.4 Pháp lệnh chống trợ cấp);

(iii) Một số quy định chưa đạt được độ chi tiết như quy định tương ứng của WTO.

Điều này không có nghĩa là pháp luật Việt Nam không tuân thủ WTO bởi WTO không bắt buộc các nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật chuyên biệt và đầy đủ về chống bán phá giá/chống trợ cấp mà chỉ đòi hỏi các thành viên nếu có quy định trong pháp luật nội địa thì phải đảm bảo rằng các quy định đó tuân thủ quy định của WTO.

Hơn nữa, với hai “biện pháp bảo đảm”, một là nguyên tắc ưu tiên áp dụng các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên[9], và hai là cam kết đảm bảo rằng sẽ không tiến hành các vụ điều tra trên thực tế cho đến khi tất cả các quy định liên quan tuân thủ WTO[10], các quy định thiếu chi tiết này về nguyên tắc sẽ không tự động dẫn tới khả năng vi phạm quy định của WTO[11].

Một số ví dụ về các quy định không chi tiết bằng quy định tương ứng của WTO:

– Quy định về nội dung cụ thể của các phương pháp tính giá thông thường trong điều tra chống bán phá giá (thiếu các quy định về việc xác định điều kiện và cách thức tính giá thông thường theo từng phương pháp…theo Điều 2 Hiệp định về chống bán phá giá);

– Quy định về nội dung cụ thể của phương pháp xác định thiệt hại do việc nhập khẩu hàng hóa bán phá giá/được trợ cấp gây ra cho ngành sản xuất nội địa (thiếu quy định về việc xác định thiệt hại của ngành sản xuất vùng, về nghĩa vụ bắt buộc[12] phải xem xét các yếu tố khác cùng gây ra thiệt hại ngoài việc hàng nhập khẩu bán phá giá/được trợ cấp…theo Điều 3 Hiệp định chống trợ cấp và Điều 15 Hiệp định chống trợ cấp);

– Quy định về biện pháp cam kết (thiếu quy định về điều kiện khách quan[13] để áp dụng biện pháp này theo Điều 8.2 Hiệp định chống bán phá giá và Điều 18.2 Hiệp định chống trợ cấp)…

I.3.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Như kết quả rà soát nêu trên, không có quy định nào của pháp luật thực định của Việt Nam trái hay mâu thuẫn với quy định của WTO về cùng vấn đề. Vì vậy, về mặt nguyên tắc, Việt Nam không có bất kỳ nghĩa vụ nào trong việc điều chỉnh, sửa đổi các văn bản hiện hành về chống bán phá giá và chống trợ cấp để tuân thủ cam kết WTO.

Tuy nhiên, do các chế định hiện tại còn khá sơ sài nên có thể sẽ có vấn đề nảy sinh trong quá trình thực thi trên thực tế (trong khuôn khổ một vụ việc cụ thể) có thể dẫn tới việc vi phạm các nguyên tắc liên quan của WTO. Vấn đề đó có thể là:

– Thiếu các quy chuẩn cụ thể khiến các chủ thể (đặc biệt là cơ quan điều tra) có hành động tùy nghi và kết quả là gây ra tác động hoặc làm phương hại đến việc thực hiện các quy định có liên quan của WTO.

Ví dụ: Nếu không có quy định cụ thể về bảng câu hỏi, về quy trình phân tích đánh giá các yếu tố liên quan, việc điều tra có thể bị kéo dài và do đó vi phạm quy định về thời hạn của WTO.

– Thiếu các quy định cụ thể đảm bảo tính khả đoán và ổn định của quá trình điều tra có thể là một nguy cơ dẫn tới thiếu minh bạch, từ đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan, và do đó vi phạm nguyên tắc liên quan của WTO.

Ví dụ: Nếu không có quy định về cách thức tiếp cận thông tin thì quyền lợi của các bên liên quan sẽ bị ảnh hưởng (do tiếp cận thông tin chậm, không đầy đủ nên khó chuẩn bị lập luận và chứng cứ để tự bảo vệ mình chẳng hạn).

Vì vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam cần thực hiện các công việc sau:

(i) Tiếp tục soạn thảo và thông qua các văn bản pháp lý để hướng dẫn chi tiết (cả về thủ tục và nội dung) việc thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ các vụ điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam.

Việc soạn thảo cần đi theo hướng:

– Ghi nhận và nội luật hóa các quy định chi tiết có liên quan trong 02 Hiệp định liên quan của WTO;

– Nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan của các nước thành viên WTO và chuyển hóa một cách hợp lý vào điều kiện của Việt Nam

(ii) Xây dựng các Bảng câu hỏi điều tra mẫu, các Bản hướng dẫn về thủ tục hành chính cụ thể áp dụng cho cơ quan có thẩm quyền điều tra và các chủ thể liên quan.

Các Bảng câu hỏi hay Bản hướng dẫn như thế này có thể không ở dưới dạng một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể mà chỉ là hướng dẫn thực tiễn nhưng sẽ có ý nghĩa với việc triển khai các vụ điều tra trên thực tế. Việc xây dựng các văn bản hướng dẫn này có thể được thực hiện trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh và thực tiễn phong phú về vấn đề này. Những kinh nghiệm thực tế của các vụ việc ở Việt Nam có thể sẽ là nguồn rất tốt để điều chỉnh các văn bản này (vấn đề là trong một tương lai gần, khả năng có một vụ kiện như vậy không lớn).

Tóm lại, về cơ bản pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá và chống trợ cấp không có điểm mâu thuẫn hay trái với các quy định liên quan của WTO. Tuy nhiên để việc triển khai trên thực tế được khả thi và tuân thủ đúng các nguyên tắc của WTO, rõ ràng hệ thống này còn cần được hoàn thiện nhiều hơn nữa, chủ yếu theo hướng bổ sung quy định chi tiết cho các quy định “khung” hiện tại.

II. RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP

II.1.Cam kết WTO của Việt Nam về trợ cấp

Các cam kết và nghĩa vụ của Việt Nam trong khuôn khổ WTO liên quan đến trợ cấp được quy định chủ yếu tại hai nguồn sau:

(i) Các cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam có liên quan đến trợ cấp bị cấm (Các Đoạn từ 270 đến 288 Báo cáo của Ban công tác); và

(ii) Quy định của WTO (Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng – Phần nội dung về trợ cấp bị cấm).

Hai nhóm quy định này được áp dụng đồng thời cho Việt Nam và về nguyên tắc, trong trường hợp có quy định mâu thuẫn thì ưu tiên áp dụng tiêu chí tại nhóm (i).

Cụ thể, có thể diễn giải các “cam kết WTO” của Việt Nam liên quan đến trợ cấp bị cấm như sau:

Trợ cấp bị cấm đối với hàng công nghiệp

Việt Nam cam kết bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu vào thời điểm gia nhập (kể cả đối với hàng dệt may).

Quy định trên không áp dụng cho các trợ cấp dưới hình thức ưu đãi thuế dựa trên tiêu chí xuất khẩu cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang được hưởng vào thời điểm Việt Nam gia nhập WTO trong thời hạn 5 năm kể từ ngày này (tức là đến hết 11/1/2012).

Trợ cấp bị cấm đối với hàng nông nghiệp:

Việt Nam cam kết không áp dụng tất cả các hình thức trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản kể từ thời điểm gia nhập. Cam kết này được phép tính đến các kết quả đàm phán về vấn đề này trong tương lai, nếu có.

Ngoài các cam kết nói trên trong khuôn khổ WTO, Việt Nam không tham gia thoả thuận quốc tế song phương hay đa phương nào về chính sách, điều kiện hay mức độ trợ cấp.

Trên thực tế, vào thời điểm đàm phán, một số loại hỗ trợ của Việt Nam áp dụng cho hàng công nghiệp thuộc diện trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO (ví dụ thưởng xuất khẩu, các hình thức hỗ trợ khác dựa trên kết quả xuất khẩu, hỗ trợ tín dụng và ưu đãi thuế dựa trên tiêu chí tỷ lệ nội địa hoá của sản phẩm…). Tuy nhiên, phần lớn các hỗ trợ này đã được bãi bỏ trước thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập. Trong quá trình thực thi các nội dung liên quan đến trợ cấp bị cấm này, do đây là các nghĩa vụ “không hành động”, nên việc thực hiện về nguyên tắc là không khó khăn. Đối với trợ cấp nông nghiệp, về cơ bản sẽ không có vướng mắc lớn bởi trị giá hỗ trợ hiện tại của Việt Nam còn rất thấp so với trị giá tổng hỗ trợ được phép trong nông nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình thực thi các nghĩa vụ này, Việt Nam cần rất thận trọng với những hình thức trợ cấp hay hỗ trợ đang và/hoặc sẽ áp dụng để tránh bị “ghép” vào diện “trợ cấp bị cấm” một cách gián tiếp.

II.2. Hiện trạng pháp luật Việt Nam về trợ cấp đối với hàng hóa

Một đặc điểm nổi bật của chế định về chính sách trợ cấp nói chung và trợ cấp đối với hàng hoá nói riêng là tính phi tập trung trong các quy định. Nói cách khác, các quy định về trợ cấp không được đề cập một cách đầy đủ, khái quát trong một (hay một số) văn bản chuyên biệt về vấn đề này. Thay vào đó, các chính sách trợ cấp thường được quy định rải rác trong nhiều văn bản điều chỉnh những sản phẩm, loại hàng hoá hay một ngành cụ thể. Các chính sách này cũng thường mang tính giai đoạn/vụ việc (ad hoc), áp dụng trong từng thời kỳ và theo những điều kiện cụ thể, kết thúc khi thời kỳ hay các điều kiện đó không còn.

Ngoài ra, trợ cấp không phải là chế định bị cấm hoàn toàn trong WTO, chỉ những trợ cấp diện đèn đỏ mới bị cấm toàn bộ, còn các hình thức trợ cấp hay hỗ trợ khác đều có thể được thực hiện trong những hoàn cảnh, mức độ và với những điều kiện nhất định.

Vì vậy, trong phạm vi rà soát này, việc xem xét hiện trạng pháp luật về trợ cấp giới hạn ở việc phân tích những chính sách trợ cấp đang có hiệu lực (tính đến 15/11/2007) và thuộc diện bị cấm theo quy định của WTO và các cam kết liên quan của Việt Nam khi gia nhập. Những chính sách khác không thuộc phạm vi này sẽ không được xem xét trong rà soát này.

Với giới hạn này, hiện tại hệ thống pháp luật Việt Nam không còn văn bản pháp luật nào chứa các quy định hay chính sách bị cấm theo WTO và cam kết liên quan của Việt Nam. Liệt kê các văn bản pháp luật dưới đây không phải là hiện trạng những hình thức trợ cấp bị cấm đang tồn tại mà chỉ là thông tin về hiện trạng của các quy định pháp luật sửa đổi các quy định trợ cấp thuộc diện bị cấm theo quy định của WTO đã từng tồn tại trước đây:

– Luật Đầu tư 2005;

– Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất;

– Nghị định 142/2005/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

– Nghị định 149/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế xuất nhập khẩu;

– Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư 2005;

– Nghị định 151/2006/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước;

– Nghị định 24/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

– Quyết định 279/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình xúc tiến thương mại;

– Quyết định 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ngân hàng phát triển Việt Nam;

– Thông tư 69/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định 151/2006/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước;

– Quyết định 43/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Xóa bỏ Chương trình ưu đãi thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm và phụ tùng thuộc ngành cơ khí, điện, điện tử.

II.3. Rà soát pháp luật Việt Nam về các biện pháp trợ cấp đối với hàng hoá với các quy định liên quan của WTO

II.3.1. Kết quả rà soát

Để thúc đẩy quá trình gia nhập WTO, hầu hết các chính sách pháp luật của Việt Nam đã được điều chỉnh cho phù hợp với các quy định của WTO trước thời điểm Việt Nam gia nhập tổ chức này. Các quy định về trợ cấp bị WTO cấm không phải là một ngoại lệ.

Thực hiện yêu cầu này, trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2007, Việt Nam đã lần lượt bãi bỏ tất cả các chính sách, quy định pháp luật về các hình thức trợ cấp bị cấm. Việc bãi bỏ được thực hiện chủ yếu dưới 02 hình thức:

– Bãi bỏ hoàn toàn các hình thức trợ cấp liên quan; hoặc

– Điều chỉnh lại các hình thức trợ cấp liên quan để chúng phù hợp với quy định của WTO (không còn các tiêu chí của trợ cấp bị WTO cấm).

Rà soát các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam cho đến ngày 15/11/2007 cho thấy không còn bất kỳ chính sách hay quy định pháp luật nào cho phép các hình thức trợ cấp đèn đỏ tồn tại.

Các biện pháp trợ cấp đèn đỏ được áp dụng trước đây nay đã được bãi bỏ hoặc điều chỉnh cho phù hợp với cam kết liên quan của Việt Nam, cụ thể như sau:

Ø Đối với các hình thức trợ cấp xuất khẩu

– Các chương trình hỗ trợ xuất khẩu và thưởng xuất khẩu từ Quỹ hỗ trợ xuất khẩu đã không còn được áp dụng từ năm 2007; Hiện tại Dự thảo Quỹ xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch đang được soạn thảo để thay thế Quỹ hỗ trợ xuất khẩu trong đó bãi bỏ các quy định về trợ cấp bị cấm của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu này và điều chỉnh lại các mục tiêu của Quỹ cho phù hợp với WTO;

– Các hình thức ưu đãi đầu tư (miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập, thuế sử dụng đất, tiền thuê đất/sử dụng đất) gắn với các điều kiện xuất khẩu theo pháp luật về đầu tư nước ngoài đã được bãi bỏ theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư 2005

– Các ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển (cho vay, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng) dựa trên tiêu chí xuất khẩu trong khuôn khổ Quỹ hỗ trợ phát triển (thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg) đã được bãi bỏ theo Quyết định 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

– Nghị định 151/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 69/2007/TT-BTC quy định các mức lãi suất tín dụng xuất khẩu phải được xác định trên cơ sở các mức lãi suất theo thị trường;

– Nghị định 24/2007/NĐ-CP quy định về việc cho phép duy trì các ưu đãi đầu tư đối với các ưu đãi thuế dựa trên thành tích xuất khẩu đối với các dự án đã được cấp phép và đi vào hoạt động trước ngày Việt Nam gia nhập WTO đến hết 5 năm kể từ ngày này;

Ø Đối với các hình thức trợ cấp nhằm khuyến khích sử dụng hàng hoá sản xuất trong nước (tiêu chí nội địa hoá)

– Chính sách ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa hóa cho tất cả các lĩnh vực sản xuất đã bị bãi bỏ kể từ ngày 1/10/2006 bởi Nghị định 43/2006/NĐ-CP (trước đó từ năm 2003, ưu đãi dựa trên tỷ lệ nội địa hóa trong các lĩnh vực cơ khí, điện, điện tử đã được bãi bỏ);

– Các hình thức ưu đãi đầu tư (miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập, thuế sử dụng đất, tiền thuê đất/sử dụng đất) gắn với tỷ lệ nội địa hoá theo pháp luật về đầu tư nước ngoài đã được bãi bỏ theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư 2005;

– Các ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển (cho vay, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng) dựa trên tiêu chí sử dụng hàng sản xuất trong nước trong khuôn khổ Quỹ hỗ trợ phát triển (thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg) đã được bãi bỏ theo Quyết định 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;.

– Nghị định 24/2007/NĐ-CP quy định về việc cho phép duy trì các ưu đãi đầu tư đối với các ưu đãi thuế dựa trên tỷ lệ nội địa hoá đối với các dự án đã được cấp phép và đi vào hoạt động trước ngày Việt Nam gia nhập WTO đến hết 5 năm kể từ ngày này.

Ø Đối với trợ cấp cho ngành dệt may

– Các hình thức trợ cấp cho dệt may theo Quyết định 55/2001/QĐ-TTg (vay tín dụng đầu tư ưu đãi của Nhà nước, ưu đãi thuế suất thuế giá trị gia tăng, ưu đãi theo Luật đầu tư trong nước…) đã được bãi bỏ kể từ ngày 30/5/2006;

Ø Các quy định đảm bảo những hình thức trợ cấp chung được duy trì không thuộc diện bị cấm

– Nghị định 24/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Nghị định 149/2005 hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu nhập khẩu; Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất và Nghị định 142/2005/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước liên quan đến các ưu đãi đầu tư đều quy định gắn ưu đãi miễn giảm thuế với danh mục các địa bàn và lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư (không có tiêu chí tỷ lệ xuất khẩu hay nội địa hoá) theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật này;

– Quyết định 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chuyển Quỹ hỗ trợ phát triển (thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg) thành Ngân hàng phát triển đảm bảo tất cả các tiêu chí hỗ trợ của Quỹ này không thuộc diện trợ cấp xuất khẩu hay khuyến khích sử dụng hàng trong nước;

– Quyết định 279/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình xúc tiến thương mại trong đó quy định việc loại bỏ tự động các hình thức trợ cấp không phù hợp với quy định của WTO;

– Bộ Kế hoạch đầu tư đang xây dựng Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành một số cam kết WTO trong lĩnh vực đầu tư với nội dung hướng dẫn triển khai các điều chỉnh đối với giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư để đảm bảo chấm dứt hoàn toàn các ưu đãi đầu tư dựa trên thành tích xuất khẩu và/hoặc sử dụng nguyên liệu trong nước.

– Bộ Tài chính đang xây dựng Dự thảo Quỹ xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch năm 2007 (theo hướng điều chỉnh các quy định cũ của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu để đảm bảo loại bỏ các hình thức trợ cấp bị cấm ra khỏi pham vi Quỹ này).

Tóm lại, có thể kết luận rằng Việt Nam không còn duy trì bất kỳ chính sách hay quy định pháp luật nào về trợ cấp bị cấm trái với cam kết của Việt Nam và quy định tương ứng của WTO. Thực tế này có thể được giải thích như sau:

(i) Với yêu cầu hoàn thiện pháp luật triệt để trước thời điểm gia nhập WTO (không cho phép “nợ” thực hiện sau như trường hợp của gia nhập WTO của Trung Quốc), Việt Nam đã thực hiện việc điều chỉnh hoặc chấm dứt tất cả các hình thức trợ cấp bị cấm trước thời điểm ngày 7/11/2006;

(ii) Kể từ sau khi Việt Nam gia nhập, không có bất kỳ quy định hay chính sách nào cho phép các hình thức trợ cấp “đèn đỏ” được ban hành mới;

(iii) Các văn bản được ban hành gần đây liên quan đến các hình thức trợ cấp (chủ yếu là ưu đãi thuế cho doanh nghiệp) đều tuyên bố có tuyên bố chung về việc loại bỏ tất cả các loại trợ cấp bị cấm và điều chỉnh tiêu chí trợ cấp phù hợp với quy định của WTO.

II.3.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Do tất cả các hình thức trợ cấp bị cấm đã được loại bỏ khỏi hệ thống pháp luật Việt Nam, nghĩa vụ trước mắt của Việt Nam liên quan đến vấn đề này sẽ là nghĩa vụ thuộc diện “không hành động”. Nói cách khác, Việt Nam được xem như không vi phạm nghĩa vụ này cho đến khi Việt Nam ban hành quy định mới cho phép thực hiện một hoặc các hình thức trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO.

Vì lý do này, rà soát không đưa ra bất kỳ đề xuất nào về việc ban hành mới văn bản về các hình thức trợ cấp bị cấm. Các đề xuất, do đó, chỉ tập trung vào việc ban hành chính sách, quy định hay cơ chế đảm bảo duy trì nguyên trạng pháp luật hiện nay về trợ cấp bị cấm và/hoặc xử lý những hệ quả phát sinh từ việc bãi bỏ các biện pháp trợ cấp bị cấm trước đây.

Cụ thể, các đề xuất tập trung vào 03 nhóm giải pháp sau đây:

– Ban hành quy định có hiệu lực pháp lý cao (ví dụ Luật) ghi nhận và đưa ra đảm bảo đối với nguyên tắc bãi bỏ, không duy trì, không ban hành mới không thực thi và không tổ chức thực hiện các chính sách hay quy định pháp luật về trợ cấp diện bị WTO cấm (nếu cần[14]);

– Ban hành quy định về cơ chế kiểm soát các văn bản pháp luật ban hành mới để đảm bảo các văn bản này không chứa các quy định về trợ cấp bị WTO cấm (có thể dưới hình thức một tiêu chí về nội dung để thẩm tra các văn bản pháp luật trong quá trình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật chung);

– Ban hành các quy định để xử lý các hệ quả của việc bãi bỏ các hình thức trợ cấp bị cấm trước đây (nếu có).

Cần lưu ý là, trong khi các giải pháp này có thể rất có ích cho việc đảm bảo thực thi các nghĩa vụ liên quan trong WTO một cách triệt để, đây không phải là các giải pháp cấp thiết và bắt buộc đối với Việt Nam (theo cơ chế về nghĩa vụ “không hành động” nói trên). Vì vậy việc thực hiện các giải pháp nên được khuyến nghị là nên kết hợp với các hoạt động điều chỉnh khác, nếu có, để đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ của Việt Nam theo đúng các cam kết khi gia nhập tổ chức này mà không tạo ra trách nhiệm hay chi phí lớn cho phí Việt Nam.

III. RÀ SOÁT CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH

III.1. Cam kết WTO của Việt Nam về chính sách cạnh tranh

Về cơ bản WTO không có quy định cụ thể (trong các Hiệp định) về hành vi cạnh tranh hay hạn chế cạnh tranh, cũng không có ràng buộc nào cụ thể đối với các thành viên về vấn đề này. Tuy nhiên, một số nguyên tắc của WTO có liên quan mật thiết đến vấn đề cạnh tranh (từ góc độ chung, cơ bản) và các cam kết của Việt Nam cũng xoay quanh các vấn đề này.

Cụ thể, các cam kết và nghĩa vụ của Việt Nam về chính sách cạnh tranh chủ yếu là các nhóm quy định sau:

(i) Cam kết cụ thể của Việt Nam về chính sách cạnh tranh trong Báo cáo của Ban công tác (Đoạn 72, 78, 103-109) và

(ii) Các nguyên tắc cơ bản của WTO có liên quan đến chính sách cạnh tranh.

Nội dung của các cam kết liên quan có thể tóm tắt như sau:

– Việt Nam phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp Nhà nước vận hành theo tiêu chí thương mại, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân và không tham gia hoạch định chính sách của ngành liên quan (Đoạn 72, 78 Báo cáo của Ban Công tác);

– Việt Nam đảm bảo thiết lập và duy trì một chính sách cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể, không có sự can thiệp của Nhà nước và không phân biệt doanh nghiệp Nhà nước với doanh nghiệp tư nhân (các Đoạn từ 103 đến 109 Báo cáo của Ban Công tác)

– Trong quá trình xây dựng và duy trì các biện pháp có liên quan đến thương mại, Việt Nam phải tuân thủ đầy đủ nguyên tắc không phân biệt đối xử (bao gồm nguyên tắc đối xử tối huệ quốc – Điều I GATT 1994, Điều II GATS, Điều IV TRIPS; và nguyên tắc đối xử quốc gia – Điều III GATT 1994, Điều XVII GATS và Điều III TRIPS) và nguyên tắc đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân khác (Điều XVII GATT 1994).

– Chú ý là các nguyên tắc bình đẳng nói trên không áp dụng với các trường hợp doanh nghiệp Nhà nước độc quyền thương mại và các doanh nghiệp dịch vụ (tiếp cận thị trường theo lộ trình mở cửa của Việt Nam trong các cam kết về dịch vụ).

Bên cạnh các nghĩa vụ trong khuôn khổ WTO, Việt Nam cũng phải thực hiện nghĩa vụ đảm bảo chính sách cạnh tranh bình đẳng thông qua trách nhiệm đảm bảo áp dụng chế độ tối huệ quốc (MFN), thực hiện trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại song phương với các quốc gia khác[15].

Vào thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cùng với các quy định liên quan đến hoạt động thương mại của doanh nghiệp Nhà nước đã đảm bảo về cơ bản chính sách cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các chủ thể thương mại. Vì vậy về nguyên tắc, việc thực hiện các nghĩa vụ WTO này không phải quá khó khăn. Tuy nhiên, trên thực tế cần đặc biệt chú ý đến những quy trình thực thi (vốn chuyển dịch chậm hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật) để đảm bảo các nguyên tắc này.

III.2. Hiện trạng pháp luật Việt Nam về chính sách cạnh tranh

Cạnh tranh là một vấn đề đã được điều chỉnh rải rác từ khá lâu trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, với sự ra đời của Luật Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, lần đầu tiên chế định này được pháp điển hoá một cách tập trung, theo hướng đảm bảo các nguyên tắc cạnh tranh thương mại bình đẳng trên nguyên tắc kinh tế thị trường.

Khác với nhiều chế định pháp luật khác được sửa đổi tổng thể trong cùng thời kỳ, Quá trình này được thực hiện chủ yếu nhằm đảm bảo một khung khổ pháp luật cho sự phát triển của các hoạt động kinh tế thương mại của Việt Nam (tức là xuất phát từ yêu cầu nội tại) chứ không phải là một áp lực sửa đổi pháp luât để phù hợp với WTO. Trên thực tế, ngoài những nguyên tắc cơ bản về không phân biệt đối xử và minh bạch trong hoạt động thương mại và một số quan tâm về vị trí và hoạt động thương mại của các doanh nghiệp nhà nước, WTO không có yêu cầu cụ thể về lĩnh vực cạnh tranh này. Cam kết của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực này cũng không nêu những nghĩa vụ cụ thể.

Pháp luật về cạnh tranh Việt Nam bao gồm các văn bản pháp luật điều chỉnh chung về cạnh tranh và những quy định có liên quan đến cạnh tranh trong các văn bản pháp luật chuyên ngành (với suy đoán là một số lĩnh vực thương mại có những đặc điểm riêng cần có quy định đặc thù về cạnh tranh cho các hoạt động trong lĩnh vực đó. Rà soát này chỉ thực hiện đối với nhóm văn bản pháp luật điều chỉnh chung về cạnh tranh.

Cụ thể, các văn bản pháp luật điều chỉnh riêng về cạnh tranh hiện hành của Việt Nam bao gồm:

– Luật Cạnh tranh 2004;

– Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành chi tiết một số Điều của Luật Cạnh tranh;

– Nghị định 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh;

– Nghị định 05/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh;

– Nghị định 06/2006/NĐ- CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;

– Quyết định 17/QĐ-QLCT của Cục quản lý Cạnh tranh (Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương) về việc ban hành một số mẫu giấy tờ theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004;

– Quyết định 20/2006/QĐ-BTM của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) về việc ban hành các mẫu quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

Về nội dung, các quy định về cạnh tranh nêu tại các văn bản này điều chỉnh hành vi cạnh tranh nói chung trong hoạt động thương mại sau:

(i) Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (quy định những điều cấm đối với các hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp[16] khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính…);

(ii) Các hành vi hạn chế cạnh tranh (quy định điều kiện và phương pháp xử lý đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, bao gồm thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế);

(iii) Điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh (quy định về trình tự, thủ tục điều tra xử lý, cơ quan có thẩm quyền xử lý, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vụ việc cạnh tranh).

Ngoài ra, một số văn bản khác có liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ không phân biệt đối xử trong thương mại của WTO cũng đã được ban hành với các quy định ghi nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử này:

– Pháp lệnh 2002 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế;

– Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn;

– Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 và các văn bản hướng dẫn.

So với hệ thống pháp luật và kinh nghiệm của các nước, pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam hiện nay còn khá đơn giản. Nhiều ý kiến cho rằng các quy định hiện tại (kể cả các quy định nội dung và thủ tục) đều mới dừng lại ở việc định khung mà chưa có quy định thật chi tiết hướng dẫn thực hiện. Trên thực tế đây là lĩnh vực rất phức tạp, đòi hỏi những giải thích pháp lý khá chi tiết cho những trường hợp thực tế rất đa dạng. Với hiện trạng như vậy, chắc chắn pháp luật về cạnh tranh còn cần thêm những hướng dẫn cụ thể hơn để việc triển khai trên thực tế (đặc biệt là đối với các vụ việc cạnh tranh phức tạp) được khả thi.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng WTO không có các quy định cụ thể về cạnh tranh. Pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam hiện tại về cơ bản đã thoả mãn những quy định mang tính nguyên tắc về cạnh tranh của WTO. Vì vậy, việc xây dựng các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện pháp luật cạnh tranh, nếu có, không phải dưới áp lực của việc thực thi các nghĩa vụ WTO mà chủ yếu là để đảm bảo tính khả thi của các văn bản pháp luật đã có trong chế định này.

III.3. Rà soát pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam với các quy định liên quan của WTO

III.3.1. Kết quả rà soát

Các Đoạn từ 103 đến 109 Báo cáo của Ban Công tác đã nêu rất cụ thể các nội dung của Luật Cạnh tranh như là trả lời của phía Việt Nam về việc các văn bản pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam đã đủ để đáp ứng các yêu cầu có liên quan đến cạnh tranh thương mại của WTO (bao gồm cả các nguyên tắc không phân biệt đối xử và nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân). Không có đối tác đàm phán nào phản ứng về các trình bày này. Có thể suy đoán rằng với các quy định này, pháp luật Việt Nam về cơ bản không trái với các quy định liên quan của WTO.

Ngoài ra, cũng trong Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam đã khẳng định Luật Cạnh tranh được áp dụng không phân biệt chủ thể là doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân[17] – điều này đồng nghĩa với việc các nguyên tắc về cạnh tranh tự do và bảo vệ cạnh tranh công bằng áp dụng đồng thời cho các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân (không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Hơn nữa, với các nguyên tắc quản trị và hoạt động của doanh nghiệp được nêu trong Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân đều hoạt động độc lập, không chịu sự can thiệp hành chính nào từ Nhà nước đến các quyết định kinh doanh.

Sau cam kết đã được pháp điển hoá trong pháp luật nội địa từ trước này, Việt Nam chỉ ban hành các quy định khác hướng dẫn Luật Cạnh tranh, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật này. Vì vậy, hiện tại không có sự chênh lệch hay khác biệt trong pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.

III.3.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Như đã trình bày, hệ thống pháp luật về chính sách cạnh tranh của Việt Nam (với văn bản gốc là Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này) về cơ bản đã bảo đảm tuân thủ các quy định liên quan của WTO cũng như cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO về vấn đề này. Vì vậy, sẽ không có đề xuất điều chỉnh hay sửa đổi trực tiếp các văn bản hiện hành để thực hiện nghĩa vụ liên quan của Việt Nam trong WTO.

Tuy nhiên, để các quy định hiện hành được triển khai có hiệu quả trên thực tế, có thể một số văn bản hướng dẫn cụ thể hơn (đặc biệt về một số vấn đề phức tạp về nội dung) cần được xem xét soạn thảo và ban hành trên cơ sở các kinh nghiệm thực tiễn của các nước khác cũng như những vấn đề thực tế phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Cạnh tranh từ 1/7/2005.

Phụ lục 1 – Danh mục các văn bản được rà soát

Lĩnh vực

Tên văn bản được rà soát

Chống bán phá giá, chống trợ cấp

– Pháp lệnh 2004 về việc chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam.

– Pháp lệnh 2004 về việc chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam.

– Nghị định 89/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam.

– Nghị định 90/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam.

– Nghị định 04/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;

– Nghị định 06/2006/NĐ-CP về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;

– Thông tư 106/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và các khoản bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp

Trợ cấp

– Luật Đầu tư 2005;

– Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003;

– Luật thuế xuất khẩu nhập khẩu 2005

– Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất;

– Nghị định 149/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế xuất nhập khẩu;

– Nghị định 142/2005/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

– Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư 2005;

– Nghị định 151/2006/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước;

– Nghị định 24/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

– Quyết định 279/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình xúc tiến thương mại;

– Quyết định 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ngân hàng phát triển Việt Nam;

– Thông tư 69/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định 151/2006/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước;

– Quyết định 43/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Xóa bỏ Chương trình ưu đãi thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm và phụ tùng thuộc ngành cơ khí, điện, điện tử.

Chính sách cạnh tranh

– Luật Cạnh tranh 2004;

– Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành chi tiết một số Điều của Luật Cạnh tranh;

– Nghị định 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh;

– Nghị định 05/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh;

– Nghị định 06/2006/NĐ- CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;

– Quyết định 17/QĐ-QLCT của Cục quản lý Cạnh tranh (Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương) về việc ban hành một số mẫu giấy tờ theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004;

– Quyết định 20/2006/QĐ-BTM của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) về việc ban hành các mẫu quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

Phụ lục 2 – Danh mục văn bản đề nghị sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ

Lĩnh vực

Văn bản đề nghị sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ

Chống bán phá giá, chống trợ cấp

Không

Trợ cấp

Không

Chính sách cạnh tranh

Không

Phụ lục 3 – Danh mục văn bản kiến nghị ban hành mới

Lĩnh vực

Văn bản kiến nghị ban hành mới

Chống bán phá giá, chống trợ cấp

– Các văn bản hướng dẫn chi tiết thực hiện các quy định về nội dung (phương thức tính toán chuẩn) và hình thức (trình tự thủ tục chi tiết thực hiện) trong điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp (không bắt buộc);

– Các biểu mẫu – Bảng câu hỏi liên quan (không bắt buộc)

Trợ cấp

– Quy định về việc kiểm soát nội dung trợ cấp của các văn bản quy phạm pháp luật ban hành mới (không bắt buộc)

– Các văn bản về việc xử lý những hệ quả có thể có của việc bãi bỏ các hình thức trợ cấp bị cấm (không bắt buộc)

Chính sách cạnh tranh

– Các văn bản hướng dẫn chi tiết thực hiện các quy định về nội dung (phương thức tính toán chuẩn) và hình thức (trình tự thủ tục chi tiết thực hiện) trong vụ việc cạnh tranh (không bắt buộc);

– Các biểu mẫu liên quan (không bắt buộc)

Phụ lục 4 – Điều ước quốc tế liên quan

Lĩnh vực Điều ước quốc tế liên quan
Chống bán phá giá, chống trợ cấp Không

Trợ cấp Không

Chính sách cạnh tranh Không

Danh mục 5 – Bảng đối chiếu so sánh

Stt

Cam kết WTO của Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện hành

Đánh giá, nhận xét

Kiến nghị

Cơ quan và thời gian thực hiện kiến nghị

1 Đảm bảo tuân thủ các quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của WTO

Toàn bộ nội dung

– Pháp lệnh về chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam ngày 29/4/2004;

– Pháp lệnh về chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam ngày 20/8/2004;

– Các văn bản hướng dẫn 02 văn bản nói trên

Phù hợp

– Áp dụng trực tiếp các quy định có tính bắt buộc trong Hiệp định về chống bán phá giá và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Phần về các biện pháp đối kháng);

– Ban hành mới văn bản hướng dẫn chi tiết về các điều kiện và trình tự thủ tục điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp (không bắt buộc).

Cục quản lý Cạnh tranh – Bộ Công thương

Đến hết năm 2008

2 Bãi bỏ toàn bộ cac biện pháp trợ cấp bị cấm trừ các ưu đãi đang dành cho doanh nghiệp vào thời điểm gia nhập (lộ trình bãi bỏ là 5 năm sau khi gia nhập)

– Các hình thức ưu đãi đầu tư gắn với các điều kiện xuất khẩu và tỷ lệ nội địa hoá theo pháp luật về đầu tư nước ngoài đã được bãi bỏ theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư 2005

– Các ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển dựa trên tiêu chí xuất khẩu và tỷ lệ nội địa hoá trong khuôn khổ Quỹ hỗ trợ phát triển (thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg) đã được bãi bỏ theo Quyết định 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

– Nghị định 151/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 69/2007/TT-BTC quy định các mức lãi suất tín dụng xuất khẩu phải được xác định trên cơ sở các mức lãi suất theo thị trường;

– Nghị định 24/2007/NĐ-CP quy định về việc cho phép duy trì các ưu đãi đầu tư đối với các ưu đãi thuế dựa trên thành tích xuất khẩu và/hoặc tỷ lệ nội địa hoá đối với các dự án đã được cấp phép và đi vào hoạt động trước ngày Việt Nam gia nhập WTO đến hết 5 năm kể từ ngày này;

– Chính sách ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa hóa cho tất cả các lĩnh vực sản xuất đã bị bãi bỏ kể từ ngày 1/10/2006 bởi Nghị định 43/2006/NĐ-CP (trước đó từ năm 2003, ưu đãi dựa trên tỷ lệ nội địa hóa trong các lĩnh vực cơ khí, điện, điện tử đã được bãi bỏ);

– Các hình thức trợ cấp cho dệt may theo Quyết định 55/2001/QĐ-TTg (vay tín dụng đầu tư ưu đãi của Nhà nước, ưu đãi thuế suất thuế giá trị gia tăng, ưu đãi theo Luật đầu tư trong nước…) đã được bãi bỏ kể từ ngày 30/5/2006;

– Nghị định 24/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Nghị định 149/2005 hướng dẫn Luật thuế xuất khẩu nhập khẩu; Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất và Nghị định 142/2005/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước liên quan đến các ưu đãi đầu tư đều quy định gắn ưu đãi miễn giảm thuế với danh mục các địa bàn và lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư (không có tiêu chí tỷ lệ xuất khẩu hay nội địa hoá) theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật này;

– Quyết định 108/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chuyển Quỹ hỗ trợ phát triển (thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg) thành Ngân hàng phát triển đảm bảo tất cả các tiêu chí hỗ trợ của Quỹ này không thuộc diện trợ cấp xuất khẩu hay khuyến khích sử dụng hàng trong nước;

– Quyết định 279/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình xúc tiến thương mại trong đó quy định việc loại bỏ tự động các hình thức trợ cấp không phù hợp với quy định của WTO;

Phù hợp

– Ban hành mới quy định về việc thẩm tra quy định liên quan đến trợ cấp để đảm bảo không phải hình thức trợ cấp bị cấm trong những văn bản mới (không bắt buộc);

– Ban hành văn bản xử lý các hệ quả của việc bãi bỏ các hình thức trợ cấp vi phạm, nếu có (không bắt buộc).

Bộ Tài chính – Bộ Tư pháp

Đến hết 2008

3

– Đảm bảo rằng các doanh nghiệp Nhà nước vận hành theo tiêu chí thương mại, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân và không tham gia hoạch định chính sách của ngành liên quan;

– Đảm bảo thiết lập và duy trì một chính sách cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể, không có sự can thiệp của Nhà nước và không phân biệt doanh nghiệp Nhà nước với doanh nghiệp tư nhân;

– Không phân biệt đối xử

Toàn bộ nội dung

– Luật Cạnh tranh

– Các văn bản hướng dẫn thi hành

Phù hợp – Các văn bản hướng dẫn chi tiết (không bắt buộc)

Cục quản lý Cạnh tranh – Bộ Công thương

Đến hết 2009


Chú thích:

[1] Ví dụ Mexico đã từng tiến hành khá nhiều vụ kiện chống bán phá giá sai nguyên tắc. Trong giai đoạn đầu, điều này thực hiện khá êm thấm, nhưng trong giai đoạn sau đó nước này bị các thành viên khác liên tiếp khiếu nại, khởi kiện hoặc đe doạ khởi kiện ra WTO về các vi phạm, khi đó Mexico đã thu được một số kinh nghiệm và thực hiện việc điều chỉnh pháp luật và thực tiễn tương ứng.

[2] Số lượng các vụ kiện liên quan đến các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp

[3] Tức là các quy định đề cập tại đoạn này của rà soát.

[4] Lưu ý là việc tiến hành các đàm phán với mục tiêu này với các nước thành viên khác của WTO là một quyền của Việt Nam chứ không phải nghĩa vụ, vì vậy, các thỏa thuận đạt được nêu ở đây chỉ mang tính thông tin, không phải kết quả của việc rà soát pháp luật Việt Nam với quy định của cam kết WTO của Việt Nam về vấn đề này.

[5] Thực tế này không hẳn xuất phát từ lý do nhận thức: cho đến cuối 2004, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với tổng cộng 18 vụ kiện chống bán phá giá ở nhiều thị trường. Ở thời điểm này cũng đã có những nghi ngờ đơn lẻ về việc phá giá hay trợ cấp của một số loại hàng hoá nước ngoài bán với giá rất rẻ gây ra nhiều thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan (ví dụ mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng, năng lực triển khai của các cơ quan liên quan…), vấn đề này đã không được điều chỉnh cụ thể bởi các chế định chuyên biệt mà chủ yếu vẫn sử dụng chung các quy định thuộc các chế định khác (ví dụ chế định về Giá….).

Quá trình xây dựng các chế định này bắt đầu từ những năm 2002-2003, một mặt là trong khuôn khổ những nỗ lực chung để hoàn thiện pháp luật cho phù hợp với WTO nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là nhu cầu nội tại trong nước nhằm tạo ra một công cụ pháp lý hiệu quả để bảo vệ ngành sản xuất nội địa Việt Nam trước sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, một sự thâm nhập được dự báo là mạnh mẽ khi Việt nam gia nhập WTO. Nói một cách khác, việc xây dựng chế định về chống bán phá giá và chống trợ cấp không phải là đòi hỏi bắt buộc của WTO mà chủ yếu là nhu cầu tự thân của Việt Nam (trong việc chuẩn bị một công cụ cần thiết, hợp pháp để phản ứng kịp thời với những tác động không mong muốn của việc mở cửa thị trường, kết quả của việc gia nhập WTO). Cần nhấn mạnh là WTO không đòi hỏi các thành viên phải ban hành quy định về những vấn đề này mà chỉ yêu cầu các quy định này, nếu có, phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc trong các Hiệp định liên quan của WTO.

[6] Một số ví dụ về các quy định khung trong pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp

Ví dụ 1: Quy định về chứng cứ sử dụng trong điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp

Hiện tại các quy định chỉ đơn thuần dừng lại ở định nghĩa “chứng cứ là những gì có thật” được cơ quan điều tra sử dụng để xác định sự tồn tại của các điều kiện cần có để áp dụng các biện pháp liên quan (Điều 3 Nghị định 90/2005/NĐ-CP, Điều 3 Nghị định 89/2005/NĐ-CP). Tuy nhiên, với quy định này thì vẫn chưa rõ khi nào một chứng cứ là “có thật”? Trường hợp có nhiều hơn một nguồn chứng cứ với nội dung không giống nhau về cùng một vấn đề thì nguyên tắc lựa chọn chứng cứ có giá trị ưu tiên như thế nào? khi nào một chứng cứ bị xem là có nghi ngờ cần được xác minh lại?…

Ví dụ 2: Quy định về việc tiếp cận thông tin của các bên liên quan trong quá trình điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp

Theo quy định hiện hành thì các bên có quyền được tiếp cận các thông tin về vụ việc của cơ quan điều tra (Điều 17.3 Nghị định 90/2005/NĐ-CP; Điều 18.3 Nghị định 89/2005/NĐ-CP). Tuy nhiên, chưa có quy định nào để hiện thực hoá quyền này của các bên (địa điểm, cách thức yêu cầu, các điều kiện giới hạn khi tiếp nhận thông tin…).

Ví dụ 3: Quy định về việc xác định giá thông thường, giá xuất khẩu “tự tính toán”

Theo quy định, giá thông thường và giá xuất khẩu có thể được xác định theo một số phương thức. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các phương thức mà chưa nêu cụ thể các nội dung phương pháp tính toán (các thành tố tính toán, các yếu tố điều chỉnh…).

[7] Xin lưu ý là vào thời điểm Việt Nam thực hiện đàm phán về vấn đề này, như nêu tại Báo cáo gia nhập, tất cả các văn bản quan trọng về nội dung của các chế định này (bao 02 Pháp lệnh và 02 Nghị định hướng dẫn thi hành đều đã được ban hành và có hiệu lực tại Việt Nam).

[8] Trên thực tế đàm phán, Hoa Kỳ có ý kiến bổ sung nhưng chỉ dừng lại ở yêu cầu Việt Nam cần cụ thể hóa hơn nữa các quy định liên quan của chế định này.

[9] Theo Điều 6 Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện Điều ước quốc tế 2005.

[10] Cam kết tại Đoạn 253 Báo cáo của Ban Công tác. Cam kết này chưa được nội luật hóa, tuy nhiên, cũng theo quy định về việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế nêu trên, có thể hiểu đây như một tuyên bố có hiệu lực pháp lý ưu tiên đối với Việt Nam.

[11] Tuy nhiên, việc áp dụng trên thực tế các quy định thiếu chi tiết có thể dẫn tới những vi phạm (xem thêm phân tích phần liền sau). Trên thực tế, một phần đáng kể trong số các tranh chấp về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO liên quan đến việc thực thi các quy định nội địa theo cách thức vi phạm WTO của cơ quan điều tra (chứ không phải bản thân pháp luật nội địa có nội dung vi phạm WTO).

[12] Theo quy định hiện tại tại Điều 26.2 Nghị định 90/2005/NĐ-CP hướng dẫn Pháp lệnh chống trợ cấp thì việc xem xét này chỉ được thực hiện “trong trường hợp cần thiết” và không bắt buộc (Cơ quan điều tra “có thể”…). Nhận xét tương tự với Điều 28.2 Nghị định 90/2005/NĐ-CP hướng dẫn Pháp lệnh chống bán phá giá.

[13] Ví dụ điều kiện (i) đã có kết luận sơ bộ khẳng định có việc hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá/được trợ cấp gây thiệt hại; và (ii) chấp thuận của Chính phủ nước xuất khẩu (trong trường hợp cam kết của nhà xuất khẩu nước ngoài đối với vụ việc chống trợ cấp) (Điều 18.2 Hiệp định chống trợ cấp và Điều 8.2 Hiệp định về chống bán phá giá).

[14] Như trên đã trình bày, hiện tại đã có một số văn bản của Thủ tướng nhấn mạnh vấn đề này. Tuy nhiên, vì các văn bản của Quốc hội hay Uỷ ban thường vụ Quốc hội có giá trị pháp lý cao hơn, và do đó về nguyên tắc không bị ràng buộc bởi các quy định của những văn bản của Thủ tướng nên nếu cần thiết có thể đưa những nguyên tắc mang tính tuyên bố tương tự vào các văn bản pháp luật có giá trị cao hơn để đảm bảo việc thực thi được thống nhất và đồng bộ.

Tất nhiên, ngay cả khi không ban hành các quy định như vậy, với quy định ưu tiên áp dụng Điều ước quốc tế, về nguyên tắc vẫn có thể có căn cứ có giá trị pháp lý cao trong việc cấm ban hành quy định trợ cấp bị cấm.

[15] Theo một thống kê không chính thức, đến cuối năm 2005, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại với 86 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Việt Nam dành quy chế đối xử tối huệ quốc với 77 đối tác.

[16] “Doanh nghiệp” trong Luật Cạnh tranh được hiểu là “tổ chức, cá nhân kinh doanh” (Điều 2 Luật Cạnh tranh)

[17] Điều 2 Luật Cạnh tranh quy định Luật này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam.

SOURCE: http://chongbanphagia.vn

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: