Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÀN VỀ “XÁC ĐỊNH” GIÁ TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

TRẦN ĐẠI BẰNG – Ngân hàng Công thương Việt Nam

Theo kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Chính phủ sẽ cổ phần hoá toàn bộ 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN). NHTMNN là NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Như vậy, cổ phần hoá NHTMNN là chuyển các NHTM có 1 chủ sở hữu là Nhà nước thành các NHTM đa chủ sở hữu.
Cổ phần hoá NHTMNN được tiến hành cổ phần hoá theo 2 bước:
Bước 1:
Nâng cao năng lực tài chính NHTMNN theo hướng đạt các chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn quốc tế.
Bước 2: Thực hiện cổ phần hoá NHTMNN.
Theo Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính, các NHTMNN phải xây dựng các quy trình cổ phần hoá như sau:
+ Xây dựng phương án cổ phần hoá (được phê duyệt)
+ Tổ chức bán cổ phần
+ Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần
Bài viết này bàn về xác định giá trị NHTMNN trong giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá NHTMNN. Tác giả mong nhận được những ý kiến trao đổi của các bạn đồng nghiệp quan tâm tới vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp trong cổ phần hoá NHTMNN.

I. Phương thức xác định giá trị NHTMNN
Thực tế trong thời gian qua đã cho thấy, vấn đề định giá doanh nghiệp trong quá trình chuẩn bị cổ phần hoá là vấn đề phức tạp và tốn kém. Bởi lẽ, xác định giá trị doanh nghiệp là quá trình xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm định giá. Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ quy định: “Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hoá là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được”. Như vậy, những căn cứ để xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp gồm: Số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá, số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê phân loại thực tế, giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm cổ phần hoá bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, lợi thế kinh doanh, uy tín, tính chất độc quyền của sản phẩm dịch vụ, thương hiệu, khả năng sinh lời…
Theo Thông tư số 126/2004/TT – BTC ngày 24/12 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần có quy định phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, gồm 2 phương pháp: Phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiền chiết khấu.
– Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
– Phương pháp dòng tiền chiết khấu là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.
Có thể nhận thấy phương pháp tài sản là phương pháp trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản của NHTMNN và việc đánh giá các tài sản đó dựa trên các thông tin quá khứ của doanh nghiệp. Còn phương pháp dòng tiền chiết khấu là phương pháp đánh giá giá trị gián tiếp của NHTMNN thông qua việc lượng hoá các khoản thu nhập kinh doanh mà NHTM có thể mang lại cho các nhà đầu tư trong suốt thời gian còn lại của NHTM, điều này có nghĩa việc xác định giá trị đó dựa trên các dự đoán về tương lai của doanh nghiệp. Vì vậy, 2 phương pháp trên đều cho ra các kết quả tương đối. Phương pháp dựa trên thông tin quá khứ có thể không phản ánh được hiện tại và tương lai doanh nghiệp. Còn phương pháp dựa trên suy đoán về tương lai thì lại phụ thuộc vào mức độ chính xác của suy đoán.
Theo nội dung quy định tại Thông tư số 126/2004/TT-BTC, khi định giá các NHTMNN sẽ áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu. Khi đó có thể không định lượng hết giá trị thương hiệu và những lợi thế kinh doanh của NHTMNN. Như vậy, giá trị của NHTMNN sẽ bao gồm 4 nhóm sau:
+ Giá trị còn lại của vốn chủ sở hữu tính đến thời điểm định giá: Giá trị còn lại của tài sản cố định hữu hình, vô hình, giá trị quyền sử dụng đất, các thiết bị không thuộc nhóm tài sản cố định, vốn đầu tư liên doanh vào NHTM khác, doanh nghiệp khác hay là các tài sản tài chính và vốn bằng tiền khác…
+ Chênh lệch ròng của các khoản phải thu so với tổng các khoản phải trả (bao gồm các các rủi ro liên quan).
+ Các quỹ chưa chia, chưa chi (nếu có).
+ Giá trị lợi thế kinh doanh: gồm vị trí địa lý, giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển.
II. Xác định giá trị NHTMNN
1. Phương thức tổ chức định giá:
Vấn đề cần quan tâm khi xác định giá trị NHTMNN là phải lựa chọn được phương pháp định giá phù hợp, thực hiện hiệu quả phương thức tổ chức định giá và chọn thời điểm định giá hợp lý (thời điểm 31/12/2006 đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam).
Vấn đề cốt lõi khi xác định giá trị NHTMNN chính là phải lựa chọn một phương pháp phù hợp, phương pháp đó phải bảo đảm nguyên tắc xác định giá trị một cách chính xác các yếu tố hữu hình và lượng hoá được giá trị của các yếu tố vô hình. Do đó, khi xác định giá trị NHTM cần phải xem xét các yếu tố tác động toàn diện đến giá trị NHTM như: Khả năng sinh lời, sự lành mạnh của tình hình tài chính, xu thế biến động của lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, khả năng thanh khoản, thực trạng tài sản hữu hình, tài sản vô hình, sự tăng trưởng, mở rộng hoạt động và phát triển, trình độ và sự nhạy bén của cán bộ lãnh đạo và nhân viên, mục tiêu dài hạn cũng như chiến lược kinh doanh của NHTM đó…
Trong quá trình xác định giá trị NHTMNN, nếu vẫn còn các khoản nợ xấu và tài sản kém gá trị thì phải được xử lý theo nguyên tắc thị trường. Còn đối với khoản nợ không có khả năng thu hồi thì cần được xử lý theo các quy định hiện hành của NHNNVN.
2. Một số nội dung cần xem xét khi xác định giá trị NHTMNN là:
– Một số vấn đề quan tâm là khía cạnh: uy tín về thương hiệu. Theo quy định hiện hành, giá trị lợi thế kinh doanh về uy tín được xác định trên cơ sở tỷ suất lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp trên vốn nhà nước tại doanh nghiệp bình quân trong vòng 3 năm liền kề trước khi cổ phần hoá so với lãi suất của trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm định giá. Quy định này không phù hợp NHTM. Xác định giá trị lợi thế về uy tín theo quy định trên đối với NHTM sẽ làm cho giá trị thực tế của NHTM quá thấp so với tín nhiệm trước cộng đồng dân cư sẽ không chuẩn. Bởi vì trong thực tế, giá trị vô hình của NHTM có thể lớn xấp xỉ bằng vốn tự có của NHTM. Để xác định đúng giá trị thực tế đặc biệt là tài sản vô hình của NHTM, hạn chế thiệt hại cho nhà nước nên bỏ cơ chế định giá qua hội đồng mà thực hiện định giá thông qua các tổ chức định giá như Công ty kiểm toán quốc tế.
– Đối với trái phiếu đặc biệt: Vốn điều lệ của các NHTMNN bằng giá trị của các trái phiếu đặc biệt này khá lớn (khoảng 10.000 tỷ đồng trên tổng số 18.000 tỷ đồng vốn điều lệ) giá trị các trái phiếu đặc biệt này trên thực tế mới là giá trị danh nghĩa, chưa phải là vốn thực, tức chưa phải là vốn bằng tiền. Vì thế khi xác định giá trị NHTM thì theo chúng tôi giá trị của trái phiếu đặc biệt này không tính vào giá trị NHTM. Còn nếu tính giá trị của các trái phiếu đặc biệt này vào giá trị NHTM thì các trái phiếu đặc biệt đó phải được tiền tệ hoá hoặc là tiến hành xử lý trước khi định giá.
– Đối với các quỹ được phản ánh trong bảng cân đối kế toán của NHTMNN mà quỹ đó cấu thành nên giá trị NHTM như quỹ dự trữ bổ sung, quỹ đầu tư phát triển thì mới được xác định giá trị còn lại và tính vào giá trị NHTM. Còn các quỹ khác mặc dù được coi là vốn chủ sở hữu nhưng được sử dụng cho mục đích khác, không góp phần duy trì và tăng thêm giá trị bền vững cho MHTM như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng rủi ro tín dụng… thì không được tính vào giá trị NHTM.
– Khi xác định giá trị NHTM, có một số tài sản của NHTM phải tiến hành đánh giá lại như nhà đất, máy móc thiết bị, vật tư phương tiện… Còn một số tài sản tồn tại dưới hình thái tiền tệ thì chỉ cần xác định căn cứ và sổ sách kế toán, qua kiểm kê. Đối với vốn góp vào liên doanh cũng tồn tại dưới hình thái tiền tệ nhưng khi xác định giá trị NHTM thì phải xác định lại giá trị vì thực tế các NHTM hoặc liên doanh đa phần là hoạt động có hiệu quả nên giá trị thực tế của các khoản đầu tư này chắc chắn cao hơn nhiều so với giá trị trên sổ sách.
– Trong tổng nguồn vốn của NHTMNN còn có nguồn vốn huy động và vốn vay. Các nguồn vốn này không nằm trong cơ cấu giá trị NHTM nhưng nó lại có vai trò quan trọng, quyết định nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTMNN. Quy mô của vốn huy động phản ánh vị thế, uy tín của NHTM đó trên thương trường. Quy mô của vốn huy động càng lớn, chứng tỏ vị thế uy tín của NHTM đó càng cao. Đây là một trong những yếu tố góp phần xác định giá trị lợi thế kinh doanh, giá trị thương hiệu của một NHTMNN.
III. Hình thức cổ phần hoá (CPH)
Giữ nguyên phần vốn Nhà nước hiện có tại NHTMNN, phát hành cổ phiếu nhằm thu hút thêm nguồn vốn từ bên ngoài, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc sau:
– Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối trong NHTMNN sau CPH.
– Việc bán cổ phần có thể qua nhiều lần với tỷ lệ vốn Nhà nước giảm dần nhưng cho đến năm 2008 sẽ không thấp hơn 51% vốn điều lệ của NHTMNN. Sau năm 2010, tỷ lệ này có thể thấp hơn 50%.
– NHTMNN sẽ nắm giữ tối thiểu 51% vốn điều lệ các công ty con của NHTMNN sau khi các công ty này được CPH.
– Bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn của NHTM NN đạt mức tối thiểu theo thông lệ quốc tế là 8%.
Qua 5 năm thực hiện chương trình tái cơ cấu, tình hình hoạt động của các NHTM NN đã có những chuyển biến tích cực, năng lực tài chính được cải thiện, chất lượng tín dụng được nâng cao, hạn chế trong quản lý điều hành từng bước được khắc phục. Tuy nhiên, theo báo cáo của NHNN thì đến thời điểm 31/12/2005 các NHTM NN có tình hình sau:

NHTMNN
Vốn điều lệ (Tỷ đồng) CAR ROE ROA

Ngân hàng NN&PTNT

6095 6,17 11,86 0,44

Ngân hàng Công thương

3265 4,43 12,84 0,49

Ngân hàng ĐT&Phát triển

3818 5,25 7,90 0,41

Ngân hàng Ngoại thương

4030 5,97 14,90 1,00

Ngân hàng ĐBSCL

823 5,74 7,85 0,56

Điều đó chứng tỏ, tuy Chính phủ đã cấp bổ sung vốn điều lệ cho 5 NHTM NN với tổng số tiền là 9.940 tỷ đồng trong đó cấp bằng trái phiếu đặc biệt 8.740 tỷ đồng, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng và tài sản trong những năm qua là cao, trung bình là 20%/năm nên tốc độ tăng quy mô vốn vẫn chưa tương xứng làm cho tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMNN luôn luôn ở mưc thấp như trên.
IV. Những khó khăn trong việc xác định giá trị NHTMNN khi CPH.
Các NHTMNN có đặc điểm hoạt động kinh doanh khác biệt so với doanh nghiệp Nhà nước nên việc xác định giá trị NHTMNN theo Nghị định số 187/2004/NĐ-Chính phủ ngày 16/11/2004 của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính về xác định giá trị là phức tạp và khó khăn.
1. Vấn đề vốn ghi sổ của Nhà nước:

Vốn của Nhà nước tại ngân hàng trước khi CPH phải là vốn thực. Nhưng thực tế qua những đợt bổ sung vốn vừa qua, Nhà nước chỉ cấp một loại “Trái phiếu đặc biệt” cho NHTMNN. Thực chất, đây chỉ là phần vốn ghi sổ (danh nghĩa) nên chúng không thể tạo nên giá trị ngân hàng. Do đó, khi định giá trị NHTMNN thì Nhà nước có chấp nhận loại trừ vốn này ra khỏi giá trị ngân hàng hay không?
2. Khó khăn do NHTMNN có số lượng tài sản lớn dàn trải:

Các NHTMNN ở Việt Nam đều có mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước với hệ thống văn phòng, trụ sở, tài sản ở hầu hết các tỉnh thành phố. Như vậy, việc kiểm kê tính toán, tập hợp giá trị của tất cả các tài sản này là rất khó khăn, phức tạp. Hơn nữa, không thể chỉ căn cứ vào giá trị sổ sách của các tài sản này để định giá mà phải xác định tài sản này theo giá thị trường. Trong những tài sản thuộc quyền sở hữu của NHTMNN còn có các loại tài sản hình thành do khai thác xiết nợ từ các vụ án mà định giá các loại tài sản này cũng khó thực hiện vì hồ sơ pháp lý cũng như giá trị danh nghĩa của các tài sản này đã lỗi thời so với thực tế.
3. Khó khăn trong việc xác định giá trị quyền sử dụng đất:

Theo quy định của Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-Chính phủ thì khi CPH, doanh nghiệp có thể chọn hình thức giao đất hoặc thuê đất đối với những diện tích đất doanh nghiệp đang sử dụng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Trong trường hợp doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao đất thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi CPH, Trong những năm hoạt động của doanh nghiệp đã hình thành nên một hệ thống trụ sở gắn liền với quyền sử dụng đất được Nhà nước giao sử dụng lâu dài. Bên cạnh đó, các NHTMNN còn đang có quyền sử dụng hợp pháp những khu đất thuộc diện cầm cố, xiết nợ từ các vụ án. Khi thực hiện CPH, chắc chắn các NHTMNN phải tính giá trị quyền sử dụng đất này theo giá thị trường vào giá trị ngân hàng.
4. Khó khăn trong việc định giá lợi thế kinh doanh:

Lợi thế kinh doanh của một doanh nghiệp là vị trí địa lý, giá trị thương hiệu và tiềm năng phát triển. Theo quy định hiện hành tại Thông tư số 126/2004/TT-BTC thì nếu cách xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản, giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp chỉ phù hợp với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường mà chưa thực sự phù hợp với NHTMNN vì ngoài vị trí địa lý và tiềm năng phát triển cao, NHTMNN có giá trị thương hiệu rất lớn. Việc xác định giá trị thương hiêu có giá trị là bao nhiêu tiền quả thực là vô cùng khó khăn. Phương pháp dòng tiền chiết khấu khi tính giá trị NHTMNN thì không đề cập về cách tính giá trị lợi thế kinh doanh.
Quá trình CPH NHTMNN đã và đang thực hiện theo yêu cầu của Chính phủ – Vấn đề xác định giá trị NHTMNN là vấn đề quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị CPH – Giá trị thực của NHTMNN sẽ là cơ sở để lôi cuốn các nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư chiến lược khi chấp nhận giá cổ phiếu của ngân hàng./.

SOURCE: NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG

Trích dẫn từ: http://www.icb.com.vn/?id=0741117&page=4&sheet=1&c=94&m=94

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: