TRANH CHẤP VỀ SỞ HỮU QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: ĐÓNG THUẾ NHƯNG CHƯA LÀM SỔ ĐỎ, ĐẤT CỦA MÌNH HÓA THÀNH ĐẤT NGƯỜI?

ĐÌNH TOÀN – QUẾ HƯƠNG

Một gia đình bốn người thì ba người bị bệnh nặng. Cuộc sống của họ vốn đã khốn khó lại bi đát hơn khi chính mảnh đất hợp pháp của mình đang ở bỗng dưng rơi vào tay người khác. Ấy là gia cảnh của vợ chồng ông Võ Đại Do (53 tuổi) và bà Hoàng Thị Thu (57 tuổi) ở số 79, tổ 2, Địa Linh, xã Hương Vinh, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Họ đang trú ngụ trong ngôi nhà tranh, tre tạm bợ.

Những người khốn khổ

Bà Thu không chỉ mắc bệnh tiểu đường type I mà còn bị bệnh tim mạch gầy tong teo và nhất là mắc chứng trầm cảm, thấy người lạ là sợ sệt. Không chỉ thế, đứa con gái ông bà mới tốt nghiệp THPT cũng bị tiểu đường type I phải ở nhà gần một năm nay. Ông Do mắc bệnh viêm phổi, một chân bị teo cơ bẩm sinh.

Trong ngôi nhà ấy giờ chỉ trông cậy vào người con trai Võ Đại Hoàng, 23 tuổi, bán hàng cho một siêu thị ở TP Huế, mức lương 600.000 đồng/tháng. Ông Do cầm lọ Insulin lắc đều rồi lấy kim chích cho vợ, giải thích: “Cái chân tật của tui hễ trở trời là đau nhức không chịu nổi. Nhưng tui còn đỡ, nếu thiếu thứ ni thì chắc vợ tui sống chưa tới một ngày. Mỗi lọ như ri 250.000 đồng, xài tiện tặn cho hai mẹ con được khoảng 20 ngày”.

Ông Do từng học bốn năm đại học y khoa tại Huế nhưng do hoàn cảnh phải rời ghế nhà trường khi chưa tốt nghiệp. Những kiến thức y học lúc ấy giờ giúp ông biết tự mua thuốc và cầm kim tiêm cho vợ con, khỏi phải nhờ y tá. Cám cảnh gia đình ông Do éo le, bạn bè, hàng xóm của vợ chồng ông thường giúp đỡ ông ít gạo, ít tiền để sống. Ông Lê Văn Thọ, cán bộ hưu trí ở cùng xóm ông Do, tâm sự: “Hoàn cảnh gia đình anh Do thật tội nghiệp, thi thoảng tui cũng giúp nhà anh ấy ít lon gạo. Nhưng giúp miếng ăn chỉ là tạm thời, cái ông cần là một chỗ ở. Tội nghiệp mấy năm nay lê cái chân chèo như thế đi nhiều nơi đòi lại đất vẫn chưa được”.

Gia đình ông Do không được hưởng chế độ bảo hiểm y tế cho người nghèo. Hỏi chuyện này thì lãnh đạo xã Hương Vinh nói gọn trơn: “Việc bình bầu hộ nghèo là do từ ở thôn đưa lên!”. Ông Do ngậm ngùi: “Hình như xã nhà đã quên sự tồn tại của gia đình tui”.

Đòi quyền lợi hợp pháp bị cho là “không tưởng”

18 năm trước (1990), vợ chồng ông Do mua một căn nhà của bà Nguyễn Thị Sương. Năm 1995, bà Sương kiện đòi lại nhà, TAND huyện Hương Trà tuyên cho bà Sương thắng kiện vì cho rằng hợp đồng mua bán nhà là vô hiệu. Tuy nhiên, sau khi vợ chồng ông Do kháng cáo, TAND tỉnh Thừa Thiên – Huế (bản án số 22, ngày 30-9-1995) đã tuyên bác yêu cầu đòi lại nhà của bà Sương, công nhận ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Do. Tòa cũng tuyên vợ chồng ông Do có trách nhiệm phải hoàn thành các thủ tục mua bán nhà và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) 100m2.

Do nhà nghèo, ăn từng bữa chưa đủ, ốm đau triền miên nên vợ chồng ông Do chưa làm sổ đỏ nhưng vẫn sống liên tục trên mảnh đất ấy, đóng thuế nhà đất từng năm đầy đủ.

Tháng 10-2005, họ có chút tiền trợ giúp định làm nhà vệ sinh trên mảnh đất của mình thì đột nhiên ông Trần Đình Dậu, người đang sử dụng mảnh đất lân cận, ngăn cản, đòi đánh vì cho rằng phần đất 100m2 của ông Do nằm trong phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Dậu. Khi ấy mới ngã ngửa miếng đất 100m2 của vợ chồng ông Do đã bị nhập vào đất ông Dậu và được chính quyền địa phương hợp thức hóa bằng sổ đỏ từ năm 2003!

Bị ngăn cấm xây dựng, gia đình ông Do buộc phải sử dụng nhà vệ sinh “lộ thiên” mất vệ sinh, dù nhà ông ở ngay vị trí trung tâm xã. Cùng đường, nhiều năm nay ông Do gửi đơn nhiều nơi, cấp tỉnh có, cấp huyện có nhưng nơi này chỉ qua, nơi kia chỉ lại. Ngày 17-7-2006, TAND dân huyện Hương Trà trả lời đơn khiếu kiện của ông Do như sau:

“Bản án phúc thẩm số 22/DSPT ngày 30-9-1995, TAND tỉnh Thừa Thiên – Huế đã chấp nhận việc mua bán nhà giữa ông và bà Nguyễn Thị Sương, ông có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xin cấp giấy CNQSDĐ được xác định trong hợp đồng là 100m2. Từ đó đến nay, ông không thực hiện nghĩa vụ như bản án phúc thẩm nêu trên qui định.

Thực tế ông đang sử dụng 100m2 đất, chính quyền địa phương chưa ra quyết định thu hồi với lý do ông chưa làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ. Người đang có giấy CNQSDĐ có diện tích ông đang sử dụng chưa khởi kiện đòi lại diện tích của ông nhưng ông lại khởi kiện đòi lại diện tích mình đang sử dụng là một việc không tưởng và trái pháp luật”.

Cuối năm 2006, UBND huyện  Hương Trà thông báo cho ông Do rằng ủy ban huyện “đã có công văn gửi TAND tỉnh đề nghị xem xét lại hồ sơ, trích lục vụ án, giải thích bản án để ủy ban huyện có cơ sở giải thích theo luật định”.

Thế nhưng từ ấy đến nay, ông Do vẫn chưa nhận được trả lời nào từ phía UBND huyện.

Ý kiến của luật sư:

Theo điều 50 khoản 5 Luật đất đai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2004: “Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của TAND, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy CNQSDĐ sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính theo qui định của pháp luật”.

Như vậy, trường hợp nhà và đất của ông Võ Đại Do và bà Hoàng Thị Thu đã có bản án phúc thẩm số 22/DSPT ngày 30-9-1995 của TAND tỉnh Thừa Thiên – Huế công nhận quyền sử dụng 100m2 đất  là hợp pháp là đủ cơ sở pháp lý để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Về việc TAND huyện Hương Trà trả lời ông Do, bà Thu theo thư trả lời ngày 17-7-2006 với nội dung như trên là không phù hợp với qui định của pháp luật. Bởi vì:

– Diện tích đất ông bà đang sử dụng đến thời điểm hiện tại không thuộc các trường hợp bị thu hồi đất theo qui định tại điều 38 Luật đất đai.

– Bản án phúc thẩm đã công nhận quyền sử dụng 100m2 đất nêu trên của ông bà là hợp pháp. Vì vậy ông bà hoàn toàn có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sử dụng diện tích đất trên của mình, có quyền đòi lại khi bị người khác chiếm giữ, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật theo qui định tại điều 169 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14-6-2005.

LS HỒ MINH HIỆN

SOURCE: BÁO TUỔI TRẺ

Trích dẫn từ: http://thuvienphapluat.com/?CT=NW&NID=12967

Advertisements

One Response

  1. Tranh chấp về quyền SDĐ: Mẹ già 95 tuổi phải hầu tòa, uẩn khúc từ một vụ án
    Tóm tắt vụ việc:
    – Năm 1978, đất của mẹ tôi là bà Chanh được đưa vào tập đoàn 2.900 m2
    – 1986, tập đoàn cho ông Huân canh tác.
    -1990, nhà nước có chủ trương trả lại đất, ba tôi làm đơn xin lại.
    – 1993, UBNN phường ra quyết định ổn định phần đất 1000 m2 thổ cư cho ông quân và ông quân co nghĩa vụ bồi hoàn hoa màu lại cho gia đình hoặc nguợc lại.
    – Năm 1994, gia đình thỏa thuận bồi hoàn cho ông Huân 40 chỉ vàng để ông Huân dời đi, nhưng không có tiền.
    – Năm 1995, ông Quân gấp dời đi nên thỏa thuận chỉ nhận 30 chỉ vàng, và 2 bên đã thỏa thuận thành công có biên nhận đầy đủ, và ông Huân dọn đi. Nhưng ông báo trong thời gian dọn nhà để thất lạc giấy QSD đất ( giấy trắng trước 1993). Và phần đất nầy được mẹ tôi cho tôi quản lý, xây dựng nhà, quản lý.
    – Đến năm 2004, thì ông Quân báo tìm được giấy QSD nên báo với gia đình, em gái tôi là Hằng nhận đi làm thủ tục nhập đất về gia đình. Nhưng thay vì nhập đất vào cho mẹ tôi, thì Hằng bỏ ra thêm 10 chỉ vàng đưa cho ông Huân và kí hợp đồng chuyển nhượng QSD với ông Huân tại UBNN xã ( ông Huân đã dọn đi hơn 10 năm, phần đất này tôi đã canh tác và đóng thuế hằng năm). Gia đình tôi phát hiện và ngăn cản việc này dẫn đến tranh chấp QSD.
    – Cô Hằng mang GCN QSD ( đứng tên ông Huân) và Hợp đồng CNQSD đất giữa Hằng và ông Huân, yêu cầu tòa án công nhận hợp đồng có hiệu lực và buộc gia đình tôi tháo dỡ toàn bộ nhà cửa cũng như tài sản gắn liền với đất để trả lại đất cho Hằng.
    – Đến nay vụ việc đã trải qua 6 phiên tòa: 2 phiên sơ thẩm, 2 phiên phúc thẩm, và 2 phiên Giám đốc thẩm.
    – Nay kính mong được tư vấn giúp: việc ông Huân kí hợp đồng như vậy là đúng hay sai, khi mà ông đã kí biên bản dời nhà và nhận đủ tiền bồi hoàn 10 năm trước ? UBNN phường cũng đã xác nhận có tranh chấp QSD, vậy hợp đồng chuyển nhượng QSD có trái pháp luật ko ? Đất ông Huân phải trả về cho mẹ tôi là bà chanh phải không ?

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: