TRANH CHẤP VỀ BẢO ĐẢM HỢP ĐỒNG VÔ ĐIỀU KIỆN

NGUYỄN THU TRANG

Các bên:

Các vấn đề được đề cập

Hậu quả đề xuất

Nguyên đơn: Người cung ứng Mỹ

Bị đơn: Người mua Mỹ

– Thẩm quyền: Tranh chấp có thể được giải quyết bằng Trọng tài không?
– Bảo đảm thực hiện vô điều kiện ;
– Vi phạm nghiêm trọng hợp đồng
Tiếp tục thực hiện hợp đồng dù đang có tranh chấp

Tóm tắt vụ việc:

Bằng Hợp đồng mua bán ngày 12/7/1982, nguyên đơn cam kết cung ứng cho bị đơn một số tủ văn phòng và tủ đựng quần áo. Sau đó, Bị đơn sẽ cung ứng số hàng hoá này cho một Cty Arập Xê-út (khách hàng). Hợp đồng quy định tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết bằng trọng tài ICC tại Washington.

Theo hợp đồng, trong vòng 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng nguyên đơn phải cung ứng:

“Một bảo đảm thực hiện hợp đồng vô điều kiện và không hủy ngang có thể được [bị đơn] chấp nhận, do một Ngân hàng Mỹ phát hành và xác nhận cho [bị đơn] hưởng lợi với trị giá là 10% giá bán … như là một bảo đảm cho thoả thuận này” (sau đây gọi tắt là “L/C bảo đảm thực hiện”).

Một mẫu giấy bảo đảm được đính kèm với hợp đồng.

Theo hợp đồng, bị đơn phải thanh toán bằng:

“Một thư tín dụng không huỷ ngang, có thể chuyển nhượng và tuần hoàn với trị giá tăng 25% tổng giá bán, thanh toán trong vòng 67 ngày kể từ ngày giao các chứng từ xác nhận việc nhận hàng. Thư tín dụng phải được mở cho nguyên đơn hưởng lợi trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được chấp thuận của khách hàng” (sau đây gọi là “L/C thanh toán”).

Do một số khó khăn từ phía nguyên đơn nên cho đến ngày 20 /9/1982 L/C Bảo đảm thực hiện cho bị đơn hưởng lợi mới được mở và bảo đảm này có quy định rằng thư chỉ có hiệu lực khi bị đơn mở L/C thanh toán. Ngày 27/9/1982, bị đơn gửi telex cho nguyên đơn thông báo L/C bảo đảm thực hiện không thể chấp nhận được vì không đáp ứng quy định “vô điều kiện”. Telex này nêu rằng nguyên đơn đã vi phạm hợp đồng và rằng “nếu nguyên đơn cung ứng một bảo đảm có thể chấp nhận được thì hai bên sẽ bàn bạc về khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng”. Nguyên đơn trả lời bằng văn thư ngày 29/9/ 1982 rằng “vì điều kiện duy nhất của chúng tôi hoàn toàn thuộc quyết định của quý Cty, tức quyết định mở L/C thanh toán, nên thực tế L/C bảo đảm thực hiện này là vô điều kiện đối với quý Cty”. Bị đơn trả lời bằng telex ngày 4/10/1982 rằng điều kiện mà nguyên đơn nêu ra khiến cho L/C bảo đảm này trở thành có điều kiện. bị đơn kết luận rằng “mặc dù chúng tôi đã cho quý Cty hơn 60 ngày để cấp một bảo đảm có thể chấp nhận được nhưng quý Cty đã không làm được việc này. Trong trường hợp này chúng tôi không còn lựa chọn nào khác là huỷ hợp đồng với quý Cty do lỗi của quý Cty. Chúng tôi sẽ mua hàng từ một bên thứ ba.”

Nguyên đơn đã khởi kiện ra Trọng tài ngày 22/11/1982 khẳng định rằng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, thể hiện qua việc từ chối mở L/C thanh toán cho nguyên đơn hưởng lợi và không thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng trong khi chờ đợi kết quả trọng tài, đồng thời đòi bồi thường các thiệt hại phát sinh từ các vi phạm này.

Trọng tài phải giải quyết những vấn đề sau đây: (1) Tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài hay không, (2) Bị đơn có vi phạm hợp đồng không khi đơn phương chấm dứt hợp đồng, và (3) Nếu có thì nguyên đơn có thiệt hại gì. Trọng tài quyết định rằng tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài và việc bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng không phải là một vi phạm hợp đồng, do đó nguyên đơn không được bồi thường cho các thiệt hại là hệ quả của việc chấm dứt này.

Phán quyết của Trọng tài:

1. Về khả năng có thể giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài:

Điều khoản trọng tài trong hợp đồng quy định áp dụng cho “tất cả các tranh chấp phát sinh theo hay có liên quan đến, hoặc về bất kỳ vi phạm nào đối với hợp đồng này…”. Đây chính là một tranh chấp như vậy.

Bị đơn lập luận rằng điều khoản này không thể được áp dụng bởi hợp đồng quy định rằng “Thoả thuận này có hiệu lực phụ thuộc vào văn bản chấp thuận của khách hàng”. Thực tế đã không có một chấp thuận như vậy, và do đó điều khoản trọng tài chưa từng bao giờ có hiệu lực.

Uỷ ban Trọng tài cho rằng lập luận này không thuyết phục bởi cũng giống như một số quy định khác trong hợp đồng (ví dụ, quiyđịnh nguyên đơn phải hợp tác hỗ trợ với bị đơn trong việc đạt được chấp thuận từ phía khách hàng, hay nguyên đơn phải thông báo chi tiết về giảm giá hàng trong vòng 30 ngày kể từ khi ký hợp đồng, và nghĩa vụ mở L/C bảo đảm thực hiện của nguyên đơn), điều khoản trọng tài được ký kết với ý định là sẽ có hiệu lực từ thời điểm hợp đồng được ký kết và trước khi có văn bản chấp thuận của khách hàng, dù nhiều quy định khác trong hợp đồng chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm có văn bản chấp thuận.

Không hề có cơ sở nào để kết luận rằng các bên có ý định đưa ra giải quyết tại Toà án các tranh chấp phát sinh trước khi có chấp thuận của khách hàng và chỉ đưa ra Trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh sau thời điểm đó. Thực tế, bị đơn đã đúng khi lập luận rằng các nghĩa vụ hợp đồng của các bên chưa bao giờ có hiệu lực, nhưng bị đơn cũng không thể bác bỏ vụ việc này bởi nếu thế nghĩa vụ mở L/C bảo đảm thực hiện của nguyên đơn cũng không thể phát sinh và như vậy bị đơn chẳng có căn cứ nào để chấm dứt hợp đồng.

2. Bảo đảm thực hiện vô điều kiện (unconditional performance guarantee):

Uỷ ban Trọng tài cho rằng nguyên đơn đã không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, tức không mở L/C bảo đảm thực hiện vô điều kiện, không huỷ ngang và có thể được bị đơn chấp nhận. Điều này được lý giải như sau:

Thứ nhất, thuật ngữ “vô điều kiện” được định nghĩa một cách thông thường là “không bị hạn chế hay ảnh hưởng bởi bất kỳ điều kiện nào” (Từ điển Black’s Law tr. 1367 – xuất bản lần thứ 5, năm 1979). Theo định nghĩa này, L/C bảo đảm thực hiện của nguyên đơn không thể được coi là “vô điều kiện”, vì nó bị hạn chế bởi điều kiện là bảo đảm sẽ không có hiệu lực cho đến khi bị đơn mở L/C thanh toán.

Cách hiểu của nguyên đơn cũng có thể được chấp nhận nếu nguyên đơn dẫn được ra các chứng cứ có sức thuyết phục về thông lệ thương mại quốc tế hoặc về ý định thực của các bên. Nhưng nguyên đơn đã không đưa ra được chứng cứ nào như vậy.

Trong khi các chứng cứ hiện có cho thấy nguyên đơn tin rằng điều khoản mà mình đưa vào thư bảo đảm là được phép, Uỷ ban Trọng tài lại cho rằng thực tế hai bên chưa hề có thoả thuận nào về việc này. Khả năng về điều khoản này đã được các đại diện của nguyên đơn và bị đơn bàn bạc trước khi ký kết hợp đồng nhưng chưa đạt được một sự thống nhất nào, và, ngay cả khi được coi như là đã được các bên nhất trí, khả năng này cũng bị vô hiệu hoá bởi điều khoản thống nhất cuối cùng (điều khoản về “vô điều kiện”) được đưa vào hợp đồng ký sau đó. Hợp đồng, có đính kèm một bản thư bảo đảm thực hiện, không ủng hộ lập luận của nguyên đơn.

Sau khi ký kết hợp đồng, nguyên đơn và bị đơn cũng đã có gặp gỡ để thảo luận về việc sửa đổi hợp đồng nhưng không đi đến một thoả thuận nào. Vì thế không hề có một sửa đổi nào đối với hợp đồng cho phép một bảo đảm có điều kiện.

Từ các lập luận nêu trên, Uỷ ban Trọng tài đồng ý với lập luận của bị đơn rằng nguyên đơn đã thực hiện không đúng hợp đồng và thoả thuận giữa họ với nhau chưa hề được sửa đổi.

Thứ hai, hợp đồng nêu rõ ràng rằng nguyên đơn phải mở một thư bảo đảm thực hiện vô điều kiện “có thể được bị đơn chấp nhận”. Khi L/C bảo đảm thực hiện được phát hành, bị đơn đã thông báo cho nguyên đơn rằng L/C bảo đảm này không thể chấp nhận được. Quan điểm này của bị đơn không phải là không có căn cứ. bị đơn đã cho nguyên đơn cơ hội để sửa lại khiếm khuyết này và lập một thư bảo đảm khác có thể chấp nhận được nhưng nguyên đơn đã không làm được việc này. Do đó có thể kết luận rằng nguyên đơn đã không cung cấp được một thư bảo đảm thực hiện đáp ứng được yêu cầu của hợp đồng.

3. Về vi phạm nghiêm trọng hợp đồng và việc tiếp tục thực hiện hợp đồng:

Uỷ ban Trọng tài cho rằng với vi phạm này của nguyên đơn, bị đơn có quyền chấm dứt hợp đồng. Nguyên đơn cho rằng việc chấm dứt này là không được phép, bởi (a) vi phạm này không nghiêm trọng, và (b) điều khoản trọng tài quy định bị đơn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng dù đang có tranh chấp. Uỷ ban Trọng tài bác lập luận này của nguyên đơn vì những lý do sau đây:

Một là, Uỷ ban Trọng tài cho rằng đây là một vi phạm nghiêm trọng đối với hợp đồng trên cơ sở chứng cứ do bị đơn trình liên quan đến tầm quan trọng của việc có một thư bảo đảm thực hiện có giá trị, Điều 241(a) Luật Hợp đồng năm 1981.

Hai là, điều khoản trọng tài quy định giải quyết bằng trọng tài “tất cả các tranh chấp phát sinh theo hay có liên quan đến, hoặc về bất kỳ vi phạm nào đối với hợp đồng này…” nhưng chỉ quy định nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện hợp đồng khi tố tụng trọng tài đang được tiến hành trong trường hợp các tranh chấp “phát sinh theo” hợp đồng. Vì đây là tranh chấp liên quan đến vi phạm hợp đồng, một dạng tranh chấp mà khi được loại trừ khỏi yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng nên bị đơn không có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng. Vì nguyên đơn hoàn toàn không có ý định cung cấp một thư bảo đảm thực hiện mà bị đơn có thể chấp nhận được, và với tính chất nghiêm trọng của vi phạm nên bị đơn hoàn toàn có lý khi tìm một người cung cấp khác thay thế để bị đơn có thể thực hiện được các nghĩa vụ của bị đơn đối với các khách hàng của mình.

SOURCE: Civillawinfor tổng hợp (Theo Nguyễn Thu Trang – Báo Diễn đàn doanh nghiệp online)

Trích dẫn từ: http://dddn.com.vn/home/104/17803/Phap-luat-kinh-doanh/Tranh-chap-ve-Bao-dam-thuc-hien-hop-dong-vo-dieu-kien.htm

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: