MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 79/2007/NĐ-CP NGÀY 18/5/2007 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CẤP BẢN SAO TỪ SỔ GỐC, CHỨNG THỰC BẢN SAO TỪ BẢN CHÍNH, CHỨNG THỰC CHỮ KÝ

image 1. Chứng thực: Đau đầu chuyện “quả trứng – con gà”

Cùng có hiệu lực thi hành vào tháng 7/2007 với Luật Công chứng, sau một năm thực hiện, Nghị định 79 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đang gặp phải không ít khó khăn từ thực tế. Nhà nước muốn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nhưng những người trực tiếp thực hiện lại cố tình gây phiền hà.

1.1. Nơi quá tải, nơi “ngồi chơi, xơi nước”

Từ tháng 7/2007, theo quy định của Luật, các Phòng công chứng thôi không chứng nhận các bản sao nữa khiến cho số lượng công việc tại các Phòng công chứng giảm hẳn. Nếu như các Phòng công chứng ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn luôn quá tải, thì ngược lại, nhiều Phòng công chứng ở các tỉnh, nhất là các tỉnh nhỏ, các tỉnh miền núi lại rơi vào tình trạng thiếu việc làm. Thêm vào đó, theo Luật Đất đai và Luật Nhà ở, ngoài Phòng công chứng ra thì UBND cấp xã và cấp huyện có thẩm quyền chứng thực các hợp đồng giao dịch, trong đó có hợp đồng giao dịch về bất động sản, càng khiến cho nhiều Phòng Công chứng trở nên vắng vẻ.

Theo tinh thần của Luật Công chứng, vì tách bạch giữa hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực nên về mặt lâu dài, tất cả các hợp đồng giao dịch, đặc biệt là các hợp đồng giao dịch về bất động sản, đều phải do các công chứng viên chứng nhận do đây là những hợp đồng giao dịch có giá trị cao, phức tạp, tiến tới chấm dứt việc giao cho UBND cấp huyện, cấp xã chứng thực các hợp đồng giao dịch về bất động sản nói riêng và các hợp đồng giao dịch nói chung. Nếu làm được điều này, các UBND chỉ làm việc chứng thực, chủ yếu là chứng thực bản sao. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là lấy đâu ra người để đảm nhiệm khối lượng công việc này? Muốn sửa Luật Đất đai, Luật Nhà ở để giao các hợp đồng giao dịch bất động sản về cho công chứng viên làm thì phải có một đội ngũ công chứng viên đông đảo. “Tôi lấy ví dụ như ở Pháp có đến 8.000 công chứng viên, trong khi ở ta mới có hơn 450 công chứng viên, thì chưa thể sửa luật theo hướng giao toàn bộ các hợp đồng giao dịch về đất đai và nhà ở cho công chứng viên được. Nếu làm thế sẽ lại gây ách tắc” – Ông Trần Thất, Vụ trưởng Vụ Hành chính – Tư pháp, Bộ Tư pháp cho biết.  Như vậy, có một thực tế đặt ra là muốn chuyển toàn bộ các hợp đồng giao dịch về đất đai, nhà ở sang cho công chứng viên thì phải có một đội ngũ công chứng viên hàng nghìn người để đảm bảo cho công việc được trôi chảy, ngược lại, muốn có đội  ngũ công chứng viên đông hàng nghìn người thì lại phải có đủ việc cho họ làm. “Chúng ta đang đứng trước vấn đề nan giải: muốn có cái nọ thì phải có cái kia, hay nói cách khác là muốn có quả trứng thì phải có con gà, muốn có con gà lại phải có quả trứng. Đây là câu chuyện giữa công chứng viên và vấn đề sửa luật theo hướng giao các hợp đồng giao dịch về bất động sản cho công chứng viên thực hiện” – Ông Trần Thất chia sẻ.

1.2. Thực tế không phải lúc nào cũng rạch ròi

Một trong các quy định “vướng nhất” trong Nghị định 79 là việc giao cho UBND cấp huyện chứng thực bản sao bằng tiếng nước ngoài và UBND cấp xã chứng thực bản sao bằng tiếng Việt, trong khi nhưng thực tế không phải lúc nào cũng rạch ròi giữa bản tiếng Việt và bản tiếng nước ngoài. Có những trường hợp trong cùng một tài liệu, vừa có tiếng Việt, vừa có tiếng nước ngoài như quyển hộ chiếu, hoặc trong Giấy chứng nhận kết hôn giữa một công dân Việt Nam và một công dân nước ngoài, tên người nước ngoài không thể viết bằng tiếng Việt. Cơ quan nào có trách nhiệm chứng thực các bản sao này: không rõ. Thành ra, khi người dân đến xã thì xã đẩy lên huyện, lên huyện thì huyện lại đùn về xã, hai bên cứ đùn đẩy cho nhau. Để tháo gỡ vướng mắc này, Bộ Tư pháp đang chuẩn bị một thông tư, trong đó hướng dẫn cụ thể các giải quyết những trường hợp bản sao không phân định rạch ròi tiếng Việt và tiếng nước  ngoài.

1.3. Người thực hiện cố tình gây phiền hà

Trước thời điểm tháng 7/2007, việc chứng thực được thực hiện tại hơn 200 Phòng công chứng. Từ ngày Luật Công chứng có hiệu lực, hoạt động chứng thực được chuyển về hơn 700 huyện và hơn 1 vạn xã. Nhìn về mặt số lượng thì chứng thực đã gần dân hơn và chắc chắn sẽ giải toả được những ách tắc tồn tại bấy lâu trong hoạt động này. Tuy nhiên, thực tế lại không phải như vậy. Vì có hơn 1,7 vạn điểm có thể thực hiện nhiệm vụ chứng thực nên Nghị định 79 quy định rõ về vấn đề thời hạn, yêu cầu việc chứng thực phải được thực hiện ngay trong ngày, trừ những trường hợp đặc biệt, phức tạp, nhưng khi triển khai đến các địa phương, nhất là cấp huyện, cấp quận thì vấn đề trở nên ách tắc vô cùng. “Ngay như Hà Nội đây, các ông đẻ ra cái bộ phận hành chính một cửa, chuyên ngồi tiếp nhận các yêu cầu về chứng thực bản sao của người dân, sau đó mới chuyển đến cho anh Trưởng phòng Tư pháp. Như vậy, đáng nhẽ trước đây người dân trực tiếp mang bản sao đến Phòng Tư pháp chứng thực là xong, thì bây giờ lại phải đi vòng, vào một cửa tiếp nhận rồi mới đến cửa Phòng Tư pháp. Đấy gọi là “một cửa” mà thành “hai cửa”, nghịch lý là như vậy” – Ông Trần Thất bức xúc. Cũng theo những thông tin mà ông Trần Thất có được thì nhiều cán bộ tại Bộ phận một cửa là những người không nắm gì về nghiệp vụ chứng thực, nhiều người không được đào tạo, không có bằng cấp gì cả. Có những việc đương sự mang đến hỏi Trưởng Phòng tư pháp xem có chứng thực được không, Trưởng phòng tư pháp bảo chứng được, nhưng Trưởng Phòng tư pháp không được nhận trực tiếp hồ sơ, lại phải chuyển qua bộ phận một cửa. Tại bộ phận một cửa thì anh cán bộ tiếp nhận hồ sơ không có nghiệp vụ gì cương quyết bảo rằng không chứng  thực được nên không nhận.

Như vậy, theo quy định của Nghị định 79 thì bản thân việc “chứng thực” đã là “một cửa” và mục đích của việc tách bạch giữa công chứng và chứng thực là nhằm giảm bớt phiền hà, ách tắc cho người dân, nhưng khi triển khai xuống các địa phương thì không ít người thực hiện cố tình làm cho hoạt động này trở nên mất thời gian. “Đằng sau cái này là gì thì tôi cũng chưa biết, nhưng nhiều người dân phàn nàn rằng đằng sau đó là chuyện “lệ phí”. Đây là một vấn đề mà tới đây cần lưu ý, giải toả” – Ông Trần Thất khẳng định.

2. Chứng thực bản dịch trên địa bàn Hà Nội: Chưa thực sự ổn định

Mặc dù các đợt ra quân kiểm tra và hướng dẫn Nghị định 79/CP về chứng thực được tổ chức một cách thường xuyên, nhưng Hà Nội vẫn liên tục có những phát sinh mới từ việc thực hiện Nghị định này. Các cuộc “vi hành” do liên ngành tổ chức vừa qua đã nói lên điều đó.

2.1. Cán bộ chứng thực vừa ký, vừa run

* Không biết nội dung thì không chứng thực?

Có một câu chuyện được truyền miệng khắp các Phòng Tư pháp trên địa bàn TP là việc một công dân gốc Việt, từng định cư lâu đời ở Ba Lan. Gần 70 tuổi bà mới về nước và gần đây theo yêu cầu của Đại sứ quán, bà đến Phòng Tư pháp quận T. xin chứng thực chữ ký để lĩnh lương. Nhùng nhằng giữa bộ phận “một cửa” của Văn phòng và Phòng Tư pháp, cuối cùng bà không giải quyết được việc. “Chạy” đến Phòng Tư pháp quận H., Trưởng phòng cũng không dám ký xác nhận với lý do không rõ nội dung bằng tiếng Ba Lan trong tờ khai, trong khi bà đã xuất trình đủ mọi loại giấy tờ chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp như chứng minh thư, hộ chiếu, thẻ bảo hiểm…tất cả đều bằng tiếng Ba Lan. Bản thân bà đã có hàng chục năm ở nước này nên bà rành tiếng Ba Lan thậm chí hơn tiếng mẹ đẻ. Trước đây, khi thẩm quyền chứng thực chữ ký người dịch do các Phòng công chứng làm, công việc của bà được giải quyết một cách suôn sẻ mà không có bất cứ một trở ngại nào. Từ khi thẩm quyền này trao về cho Phòng Tư pháp các quận huyện thì bà mới phải chạy vạy khắp nơi. Quá bức xúc công dân này đã đến thẳng Sở Tư pháp yêu cầu giải quyết. Cán bộ Phòng bổ trợ tư pháp đã phải đích thân đưa bà xuống Phòng Tư pháp quận Đ. Và tại đây bà mới được thoả mãn sau gần nửa năm đi lại.

Trường hợp nói trên, không phải Nghị định 79/CP chưa có quy định mà vin vào lý do công việc mới, chưa có tiền lệ và để đảm bảo sự an toàn cho bản thân nên một số Phòng Tư pháp chọn giải pháp tốt nhất là…từ chối. Người lĩnh hậu quả không ai khác là dân thường thấp cổ bé họng.

Về nguyên tắc chứng thực bản dịch, Phòng Tư pháp chỉ chứng thực chữ ký của người dịch, và họ không chịu trách nhiệm về nội dung. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Nhàn, Phó phòng Tư pháp quận Đống Đa thì nếu như người dịch không trung thực mà thêm vào đó một vài câu, một vài từ hoặc dịch không chính xác làm thay đổi nội dung so với bản gốc thì cán bộ chứng thực cũng không có cách gì biết được. Đơn giản vì họ không biết ngoại ngữ. Bà Nhàn than: được việc cho dân nhưng nhiều khi cũng vừa ký vừa run!

Được sử dụng đội ngũ dịch thuật viên, nhưng lúng túng cho các Phòng tư pháp là quy định như thế nào là “thông thạo ngoại ngữ” thì chưa có hướng dẫn. Về nguyên tắc, thì phải có bằng cấp về thứ tiếng mà họ dịch, nhưng rất nhiều người đã từng sống, từng học tập, lao động hàng chục năm ở nước ngoài, họ rất giỏi tiếng nước đó nhưng lại không có một thứ bằng cấp gì để chứng minh. Cách gỡ là cán bộ chứng thực sẽ kiểm tra trình độ ngoại ngữ của họ. Nhưng kiểm tra bằng cách nào? Ông Hoàng Thanh Hải – cán bộ bộ phận một cửa của UBND quận Tây Hồ cũng thừa nhận: kể cả kiểm tra trực tiếp hay bằng văn bản thì cả cán bộ tiếp nhận hồ sơ cũng như lãnh đạo Phòng Tư pháp đều bó tay vì họ không có trình độ ngoại ngữ.

Văn bản nào là hợp pháp: chỉ nhận biết bằng kinh nghiệm!

Bà Nguyễn Thị ánh Hồng – Phó phòng Tư pháp quận Ba Đình thừa nhận như vậy khi chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài. Bà Hồng dẫn chứng: nhiều văn bản nước ngoài không có dấu mầu đỏ (mà là dấu mầu đen, xanh, tím) gần giống dấu photo hoặc scan. Bên cạnh đó một số văn bản chỉ có chữ ký mà không có con dấu của cơ quan có thẩm quyền (chưa được hợp pháp hoá lãnh sự) nên không nhận biết được văn bản đó có hợp pháp hay không. Với những trường hợp này trước đây Ba Đình vẫn giải quyết nhưng gần đây, Phòng Tư pháp yêu cầu phải hợp thức hoá lãnh sự. Nếu không thì không giải quyết.

Phân biệt bằng linh cảm và kinh nghiệm, đó là những gì cán bộ chứng thực vẫn làm để chấp nhận hay từ chối yêu cầu của công dân. Do đó, mới dẫn đến tình trạng cùng một yêu cầu nhưng có nơi giải quyết, có nơi lại không. Theo tâm sự của một cán bộ tư pháp thì có nhiều trường hợp mà bằng kinh nghiệm cán bộ chứng thực không thể giải quyết nhưng cũng không có cơ sở nào để giải thích cho công dân hiểu như bảng điểm một số quốc gia (như Pháp) cấp cho học sinh mới tốt nghiệp mà không phải mà bằng tốt nghiệp (không có dấu và chữ ký), hoặc giấy khai sinh UBND cấp xã cấp từ sổ gốc của những năm 1960..

Những mắc mớ của các cán bộ tư pháp do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân do chưa có hướng dẫn, nhưng cũng không loại trừ những nguyên nhân cán bộ tư pháp vô cảm, cứng nhắc, cố tình gây khó khăn cho công dân. Do đó, hiện khiếu nại trong lĩnh vực này ở một số Phòng Tư pháp đang có chiều hướng tăng.

2.2. Qui trình: mỗi nơi một kiểu

Đến nay trên toàn phạm vi TP. Hà Nội đã áp dụng quy trình “một cửa” để giải quyết các yêu cầu của công dân trên  một số  lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, đối với các công việc của tư pháp (một số nơi chiếm đến 70 tổng số việc của bộ phân “một cửa”) thì mô hình này tỏ ra không phù hợp.

* Một hay nhiều cửa?

Mỗi ngày bộ phận “một cửa” của UBND quận Ba Đình tiếp nhận khoảng 20-40 trường hợp chứng thực bản dịch, ngày cao điểm có thể đến 50, 60 hồ sơ. Đây cũng là một trong những đơn vị có số lượng bản dịch cao trên toàn TP. May mắn là cán bộ tiếp nhận các việc về tư pháp ở bộ phận “một cửa” là cán bộ của Phòng Tư pháp. Cán bộ này nhận hồ sơ và chuyển lên lãnh đạo Phòng Tư pháp ký. Mô hình này giống như mô hình của UBND quận Tây Hồ, chỉ khác là cán bộ tiếp nhận chứng thực ở đây thuộc biên chế của Văn phòng UBND, nhưng cũng đã có thời làm chuyên viên Phòng Tư pháp.

Tuy nhiên, ở UBND quận Đống Đa (cũng là một nơi nhiều việc về chứng thực bản dịch) thì lại có cách bố trí khác: cùng nằm trong bộ phận “một cửa” của UBND, nhưng các việc về Tư pháp được chia thành 2 bàn tiếp nhận riêng (một hộ tich, một chứng thực). Lãnh đạo Phòng Tư pháp ngồi kế cận để sau khi nhận hồ sơ có thể chuyển sang để ký luôn. Tuy nhiên, với cách tổ chức như vậy, Phòng Tư pháp phải cắt cử đến 3 cán bộ (trong đó có một lãnh đạo Phòng) để dành riêng giải quyết các việc về chứng thực, hộ tịch, trong khi nhiệm vụ của Tư pháp có đến trên 10 loại việc khác nhau. Do Đống Đa dồi dào về nhân sự và có đến 3 lãnh đạo Phòng mới làm được điều này còn nếu chỉ có một Trưởng hoặc Phó Phòng thì chắc chắn không làm nổi. Còn tại Thanh Trì, cán bộ tiếp nhận hồ sơ rồi …gọi cho lãnh đạo Phòng Tư pháp xuống ký ngay tại bộ phận “một cửa”. Tức là, cứ khi dân có nhu cầu, lãnh đạo Phòng Tư pháp lại phải di chuyển đến bộ phận “ một cửa” để ký. May là một ngày bộ phận “một cửa” của Thanh Trì chỉ tiếp nhận một vài hồ sơ, nếu không riêng chuyện đi lại của lãnh đạo Phòng Tư pháp đã …hết ngày.

Cũng liên quan đến bản dịch, mô hình của một số quận như Hai Bà Trưng, Long Biên lại được bố trí theo cách, “một cửa” được tổ chức ngay tại Phòng Tư pháp. Nghĩa là, công dân không phải qua bộ phận “một cửa” của  Văn phòng UB, mà cứ đến thẳng Phòng Tư pháp. Phòng sẽ tiếp nhận và giải quyết đồng thời.

Theo ông Phạm Thanh Cao, Trưởng phòng Bổ trợ Tư pháp – Sở Tư pháp Hà Nội thì theo quy định của Nghị định 79/CP về chứng thực, người có yêu cầu cầu chứng thực chữ ký phải ký trước mặt cán bộ tư pháp, nguyên tắc này chỉ được thực hiện khi “một cửa” được tổ chức ngay tại Phòng Tư pháp. Còn nếu ký ở bộ phận một cửa của UBND thì sẽ không đúng quy định. Đồng ý với quan điểm này của ông Cao, bà Nguyễn Thị Nhàn, Phó Phòng Tư pháp quận Đống Đa đề nghị: nên cho tư pháp tác nghiệp độc lập không phụ thuộc vào “một cửa” UB.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Anh Tuấn – Phó Văn phòng phụ trách bộ phận “một cửa” của UBND huyện Thanh Trì lại cho rằng: ở một nơi ít việc như Thanh Trì mà bố trí một lãnh đạo Phòng Tư pháp xuống ngồi tại bộ phận một cửa thì rất lãng phí vì Thanh Trì quá ít việc (từ khi thực hiện Nghị định 79/CP Thanh Trì chỉ tiếp nhận và giải quyết hơn 100 hồ sơ chứng thực bản dịch, bằng hơn 1 ngày của các quận nhiều việc – PV). Còn nếu tổ chức “một cửa” ngay tại Phòng Tư pháp thì cũng không ổn, vì quy trình này giống như vừa đá bóng vừa thổi còi, dễ gây ra tiêu cực, sách nhiễu. Ông Tuấn đề nghị, vẫn tổ chức theo mô hình “một cửa” của UB, nhưng chia theo loại việc, những việc đơn giản thì Phòng Tư pháp giải quyết ngay, còn không thì hẹn thời gian trả kết quả.

* Nên để cán bộ tư pháp tiếp nhận hồ sơ.

Quy trình khác, việc bố trí cán bộ tiếp nhận hồ sơ mỗi nơi cũng không giống nhau. Có nơi là biên chế của Văn phòng UBND, có nơi lại là của Phòng Tư pháp. Về trình độ, một số cán bộ có trình độ ĐH Luật, hoặc đã từng làm tư pháp, một số khác thì hoàn toàn là người “ngoại đạo” và vấn đề này thực sự nguy hiểm vì tư pháp là lĩnh vực phải có chuyên môn, ngay từ khâu tiếp nhận hồ sơ. Không có trình độ về lĩnh vực này thì không thể thẩm định và hướng dẫn công dân thiết lập hồ sơ đúng quy định. Do đó, dân lại phải “chạy ngược” lên Phòng Tư pháp để hỏi. (ở Hà Nội đã từng có trường hợp cán bộ Văn phòng UB tiếp nhận hồ sơ, Trưởng Phòng Tư pháp ký và sau đó bị kỷ luật – PV).

Về vấn đề này, đại đa số các Phòng Tư pháp đề nghị, Văn phòng UB cần bố trí người của Tư pháp tại bộ phận “một cửa” để vừa đảm bảo thuận lợi cho công dân và thuận lợi cho cả Tư pháp (vì hồ sơ đã được thẩm định bước đầu). Nếu bố trí một lãnh đạo Phòng Tư pháp trực cùng bộ phận một cửa thì nên để cho lãnh đạo đó được điều hành luôn nhân sự của mình để đảm bảo sự liên thông.

Quy trình giải quyết các việc về chứng thực nói chung và chứng thực bản dịch nói riêng trên địa bàn Hà Nội hiện nay đang mỗi nơi một kiểu.  Những người có thẩm quyền giải thích để phù hợp với tình hình thực tế. Tuy nhiên, cũng từ thực tế này đã thấy xuất hiện nhiều bất cập. Nếu đặt mục tiêu phục vụ dân lên hàng đầu thì cần phải nghiên cứu lại các mô hình này cho dù khó khăn có được đẩy về phía cơ quan nhà nước.

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP (THEO HỒNG THÚY – MOJ.GOV.VN VÀ THU HẰNG – BÁO PHÁP LUẬT VIỆT NAM)

Trích dẫn từ:

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n406.uP

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n406.uP

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: