NHỮNG GIẢI PHÁP GIÚP CÁC DOANH NGHIỆP VN ĐỐI PHÓ VỚI RÀO CẢN “CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ” Ở NƯỚC NHẬP KHẨU

GS.TS. VÕ THANH THU & GS.TS. ĐOÀN THỊ THANH XUÂN

Nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam (VN) đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện và bảo vệ thành công đề tài: “Đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp VN – trường hợp TP.HCM”.

Trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng cơ chế quản lý chống bán phá giá quốc tế được áp dụng trên những thị trường xuất khẩu chủ yếu của VN, như: EU, Mỹ…, rút ra những bước và thủ tục có liên quan đến quá trình điều tra chống bán phá giá; Nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, rút ra các bài học cho VN; Nghiên cứu thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của VN, đặc biệt phân tích kỹ các vụ kiện lớn, như: cá basa, tôm sú, giày mũ da, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét, kết luận mang tính khách quan và khoa học, nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn để đề xuất hệ thống các giải pháp hướng dẫn cho các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào hàng xuất khẩu của VN, đồng thời đưa ra các kiến nghị giải pháp đối với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, VCCI cùng Hiệp hội các ngành hàng xuất khẩu, để bảo vệ hàng hoá xuất khẩu của VN tránh khỏi các vụ kiện và chiến thắng khi bị kiện bán phá giá. Bài báo dưới đây xin giới thiệu những nội dung chính yếu của công trình nghiên cứu nêu trên.

Đặt vấn đề

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, kinh tế đất nước đã hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, với độ mở cửa rất lớn – tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương 160% GDP, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng với tốc độ trung bình trên 20%/năm, đưa VN trở thành quốc gia đứng thứ 30 trong danh sách các nước có hoạt động thương mại quốc tế lớn trên thế giới. Tuy nhiên, thời gian gần đây do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, kinh tế VN gặp nhiều khó khăn, bộc lộ nhiều yếu kém: lạm phát ở mức báo động đỏ, nhập siêu quá lớn,… Theo số liệu của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất khẩu (XK) quý I ước đạt 13 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2007, tổng kim ngạch nhập khẩu (NK) ước đạt 20,39 tỷ USD, tăng 62,5%. Như vậy, mức nhập siêu đã đạt 7,4 tỷ USD. Theo ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại thì mức nhập siêu của quý I là một con số nguy hiểm, báo động phá vỡ ổn định kinh tế vĩ mô! Nhằm giúp đất nước vượt qua giai đoạn sóng gió này, Chính phủ đã đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó có giải pháp: bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hóa, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu. Để đẩy mạnh XK bên cạnh việc cải tiến cơ cấu hàng XK, cơ chế và chính sách XK, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại,… phải đặc biệt quan tâm đến việc đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu. Bởi bị kiện bán phá giá ở nước nhập khẩusẽ gây khó khăn, tốn kém cho nhà XK và nếu bị thua kiện thì bị áp thuế NK rất cao, khiến sức cạnh tranh của hàng XK VN đã yếu lại càng thêm yếu, làm cản trở hoạt động XK, thậm chí có thể làm mất thị trường. Thời gian gần đây, các vụ kiện bán phá giá đối với hàng XK của VN ngày càng gia tăng, nếu cách đây 10 năm chỉ có 1-2 vụ kiện, thì nay đã có trên 25 vụ kiện; nếu trước đây những mặt hàng bị kiện là những mặt hàng thứ yếu, kim ngạch xuất khẩu không lớn, như: quẹt ga, bóng đèn, xe đạp… thì nay bị kiện ở những mặt hàng xuất khẩu chủ lực: tôm sú, cá basa, giày dép… trên những thị trường chủ lực. Các doanh nghiệp VN rất lo ngại, lúng túng trong việc đối phó với những vụ kiện này và mong đợi có những đề tài nghiên cứu, những cẩm nang hướng dẫn giúp vượt qua rào cản “Chống bán phá giá”.

Luật chống bán phá giá đầu tiên trên thế giới đã ra đời cách đây hơn 100 năm, cho đến nay, có rất nhiều tài liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về bán phá giá và chống bán phá giá (Anti-Dumping – AD), có thể kể ra một số tác phẩm điển hình: Nước ngoài:Hiệp định Chống bán phá giá của WTO; Thủ tục pháp lý khi áp dụng thuế chống bán phá giá: hướng dẫn các nhà xuất khẩu, nhập khẩu UNCTAD/WTO, 1997; Cẩm nang thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp-Hội đồng Thương mại Quốc tế Mỹ 11/1999; Những vấn đề liên quan đến chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với các nước đang phát triển trong vòng đàm phán thiên niên kỷ: những yếu tố chủ yếu cần cải cách. Thuộc Chương trình nghị sự và đàm phán thương mại trong tương lai, UNCTAD 2000, Edwin Vermulst;Viet Nam and the Non-Market Economy issue Dr. Adam Mc. Carty;,… Trong nước: Luật pháp về Chống bán phá giá – Những điều cần biết, của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN, 2004; Chống bán phá giá, mặt trái của tự do hoá thương mại. Tạp chí Thương mại số 38/2004 và một số bài viết đăng trên các báo tạp chí, các luận văn Thạc sỹ, công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh,…. Các tác phẩm này đã khắc họa rõ nét về bản chất bán phá giá và bị kiện bán phá giá; vai trò và mặt trái của bán phá giá; áp dụng biện pháp chống bán phá giá; những thủ tục pháp lý mang tính nguyên tắc khi bị áp dụng thuế bán phá giá, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống các vụ kiện bán phá giá của mặt hàng xuất khẩu VN, chưa đề xuất được hệ thống giải pháp đồng bộ giúp các doanh nghiệp VN đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu. Chính vì vậy, cần phải tiếp tục tập trung nghiên cứu về vấn đề này, nhằm giải quyết yêu cầu bức thiết của thực tế.

Trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa, phát huy và phát triển những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước đó, nhóm nghiên cứu đã đạt được một số điểm mới sau:

– Tổng luận các khái niệm bán phá giá, phương pháp xác định bán phá giá dưới các giác độ khác nhau (của WTO, của Mỹ, Canada, Úc… Riêng Mỹ có 3 phương pháp xác định một sản phẩm nhập khẩu có hiện tượng bán phá giá).

– Nghiên cứu kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá của Trung Quốc, Ấn Độ… để rút ra các bài học cho VN.

– Nghiên cứu sâu về các doanh nghiệp trong các ngành: giày dép, thủy sản… bị kiện bán phá giá; đánh giá khả năng bị kiện đối với mặt hàng dệt may; nghiên cứu tiến trình bị kiện; thực trạng đối phó của các doanh nghiệp; sự hỗ trợ của Nhà nước, của hiệp hội ngành hàng… đối với các doanh nghiệp bị kiện để rút ra: những thành tựu ban đầu, những hạn chế; các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến các vụ kiện bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của VN.

– Đề xuất hệ thống các giải pháp: áp dụng cho các cơ quan quản lý nhà nước; các hiệp hội doanh nghiệp và hiệp hội các ngành hàng; các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu ra thị trường thế giới và khu vực.

Để hoàn thành đề tài nhóm nghiên cứu đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, cụ thể: phương pháp phân tích thống kê kinh tế, phương pháp nghiên cứu khám phá, tổng hợp, mô tả, logic hình thức, duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; Đặc biệt nhóm đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình – nghiên cứu 10 tình huống (6 ở nước ngoài và 4 trong nước) và phương pháp chuyên gia, nhằm rút ra những kết luận có giá trị của công trình nghiên cứu.

Giải quyết vấn đề

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng luận các tài liệu về bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế, nhóm nghiên cứu nhất trí rằng: “Một sản phẩm được coi là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm này xuất khẩu sang nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường.” (Định nghĩa của GATT nêu trong điều 2.1-VI).Nghiên cứu cơ sở kinh tế để xây dựng cơ chế pháp lý xác định hiện tượng bán phá giá và điều kiện để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Đặc biệt, trên cơ sở nghiên cứu các Hiệp định AD của WTO, luật chống bán phá giá của EU, Mỹ… nhóm đề tài đã tóm tắt quá trình điều tra và xét xử các vụ kiện AD trong hoạt động thương mại quốc tế trải qua 11 bước, nêu rõ những công việc thực hiện ở từng bước cần thực hiện theo thời hạn nào? Và các doanh nghiệp xuất khẩu VN khi nền kinh tế của ta chưa được thừa nhận có nền kinh tế thị trường sẽ gặp khó khăn ở 2 bước: bước 5 và bước 6. (Xem bảng 1). Kết quả nghiên cứu giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu VN khi bị khởi kiện hình dung được các công việc cần làm trong khoảng thời gian là bao nhiêu? Để tổ chức kháng kiện thành công.

Các bước

Công việc tiến hành trong bước

Thời gian thực hiện

Bước 1

Ngành công nghiệp hoặc nhóm các doanh nghiệp ở nước nhập khẩu nộp đơn đề nghị điều tra bán phá giá hàng nhập khẩu bằng văn bản Ngày 0

Bước 2

− Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu xem xét đơn− Cơ quan điều tra thông báo cho Chính phủ của nước xuất khẩu

Bước 3

− Cơ quan điều tra từ chối điều tra nếu không nhận đủ bằng chứng, thông báo chính thức tới các bên có liên quan− Hoặc tổ chức điều tra và công bố công khai Mỹ khởi sự điều tra 20 ngày sau bước 1

Bước 4

Quyết định điều tra phải gửi đến các nơi:− Nhà xuất khẩu bị điều tra− Cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu

− Các bên quan tâm

Cơ quan điều tra ở nước nhập khẩu gửi bản câu hỏi điều tra:

− Tới ngành công nghiệp ở nước xuất khẩu

− Gửi đến các doanh nghiệp xuất khẩu

Thời gian gửi: ngay sau khi bắt đầu điều tra

Bước 5

Nhà xuất khẩu gửi lại bản câu hỏi đã trả lời− Các bên cung cấp thêm thông tin và các tài liệu− Các bên cung cấp bản tóm tắt bằng văn bản ý kiến của mình − Mỹ: trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận (thường cộng thêm 7 ngày kể từ ngày gửi)− EU: cho phép doanh nghiệp xuất khẩu trả lời bản câu hỏi chỉ 15 ngày

Bước 6

Cơ quan điều tra ở nước nhập khẩu:− Phân tích các dữ liệu thu thập− Xác định biên độ bán phá giá tạm thời − 140 ngày sau bước 3 (khởi sự điều tra)− Tối đa 190 ngày với các vụ kiện phức tạp

Bước 7

Cơ quan điều tra thông báo áp dụng biện pháp tạm thời chống bán phá giá (nếu có kết luận trong thời gian 6 tháng) Không sớm hơn 60 ngày và không muộn hơn 9 tháng kể từ ngày đầu tiên

Bước 8

Các bên đưa ra quan điểm, tổ chức các cuộc tiếp xúc để bảo vệ quyền lợi

Bước 9

Cơ quan điều tra đưa ra phán quyết cuối cùng Mỹ: 215 ngày sau khi bắt đầu điều tra (bước 3), tối đa là 275 ngày

Bước 10

− Cơ quan điều tra thông báo đến các bên liên quan phán quyết− Các bên vẫn tiếp tục được đưa ra quan điểm và bảo vệ quyền lợi của mình

Bước 11

Cơ quan thẩm quyền ở nước nhập khẩu thông qua và thông báo áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính thức. tối đa biện pháp có hiệu lực trong 5 năm − Công bố không muộn hơn 12 tháng kể từ bước 1− Hoặc 4 tháng sau khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời (bước 7)− Trường hợp ngoại lệ công bố sau 18 tháng kể từ bước 1 hoặc 6 tháng sau bước 7

(Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu)

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện AD của Trung Quốc và Ấn Độ, nhóm nghiên cứu đã rút ra 8 bài học quan trọng giúp các doanh nghiệp VN đối phó với các vụ kiện bán phá giá:

– Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong điều tiết xuất khẩu thông qua các công cụ thuế xuất khẩu; hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu… để tạo cơ cấu xuất khẩu hợp lý, giảm thiểu các vụ kiện chống bán phá giá ở nước nhập khẩu.

– Nhà nước xuất khẩu (nước bị kiện) không can thiệp trực tiếp vào các vụ kiện mà chỉ gián tiếp cung cấp thông tin về thị trường, về nguy cơ bị kiện chống bán phá giá hoặc thông tin qua con đường ngoại giao để gây sức ép với nước nhập khẩu.

– Nâng cao vai trò của hiệp hội ngành hàng xuất khẩu trong điều tiết xuất khẩu ngành hàng, trong tập hợp các doanh nghiệp đoàn kết tham gia tích cực vào các vụ kiện, phổ biến kinh nghiệm và tổ chức huấn luyện đào tạo các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá.

– Cần khởi kiện (đóng vai trò là nguyên đơn) khi có hiện tượng bán phá giá vừa để bảo hộ thị trường nội địa, vừa trả đũa, tự vệ, đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế.

– Khi bị khởi kiện, doanh nghiệp phải tích cực ngay từ đầu tham gia “hầu kiện” để bảo vệ quyền lợi của mình.

– Minh bạch hồ sơ, thu thập đầy đủ các chứng từ hạch toán chi phí kinh doanh của mình phù hợp với chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế.

– Kích thích phát triển các công ty luật có khả năng bảo vệ các doanh nghiệp trước các vụ kiện bán phá giá; khuyến khích sử dụng dịch vụ tư vấn luật.

– Nâng cao trình độ của các luật sư, của những nhà quản trị xuất khẩu về kiến thức đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá (cả khi doanh nghiệp là bị đơn, lẫn khi là nguyên đơn). Để phân tích sâu hơn về thực trạng các vụ kiện bán phá giá đối với hàng xuất khẩu VN trên thị trường quốc tế và những hệ lụy của chúng, nhóm đề tài tích đi sâu phân tích 3 vụ kiện AD của VN, đó là vụ kiện cá da trơn (cá basa), vụ kiện tôm sú trên thị trường Mỹ và vụ kiện giày mũ da tại thị trường EU. Ở mỗi vụ kiện các tác giả đều phân tích lịch sử vụ kiện, quá trình dẫn tiến, kết quả và rút ra những nhận xét có giá trị. Không dừng lại ở đó, nhóm nghiên cứu còn đánh giá khả năng bị kiện bán phá giá đối với hàng dệt may VN trên thị trường Mỹ và đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc hàng VN bị kiện bán phá giá.

Trên cơ sở phân tích một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc thực trạng các vụ kiện bán phá giá đối với hàng XK VN, nhóm nghiên cứu rút ra những kết luận sau:

Những điều đã làm được:

* Các cấp quản lý kinh tế: Chính phủ, Bộ, ngành, doanh nghiệp đều đã tăng cường nhận thức: phải đối phó với các vụ kiện bán phá giá hàng XK để bảo vệ thị trường, bảo vệ sự phát triển XK của các doanh nghiệp.

* Vai trò của Hiệp hội ngành hàng (VASEP, VITAS…) ngày càng được nâng cao trong đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá.

* Những doanh nghiệp tích cực tham gia “hầu kiện”: trả lời đầy đủ các câu hỏi, nộp đúng thời hạn, hợp tác với các nhóm nhân viên điều tra đến từ nước nhập khẩu; sổ sách chứng từ kế toán đầy đủ, minh bạch… đều chịu mức thuế chống bán phá giá thấp hoặc được đình chỉ điều tra. Nhiều doanh nghiệp sau vụ kiện chẳng những kim ngạch XK không giảm sút mà còn gia tăng.

* Chính phủ phối hợp với các hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp đã tổ chức các cuộc vận động hành lang ở các vụ kiện lớn, như: tôm sú, giày mũ da. Sự ảnh hưởng từ các cuộc vận động hành lang đến kết quả các vụ kiện bán phá giá rất tích cực và rõ nét.

* Một vài doanh nghiệp khi bị kiện đã có nhiều nỗ lực để chứng minh mình hoạt động theo cơ chế thị trường nên các doanh nghiệp này tăng khả năng bảo vệ khi phải đối phó với các vụ kiện bán phá giá (trên thị trường Canada).

* Ở một số vụ kiện, các doanh nghiệp, dưới sự hỗ trợ của các hiệp hội ngành hàng, đã khá thành công trong lôi kéo các nhà NK, nhà phân phối hàng NK… tham gia cùng “trận tuyến” với mình để đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá.

* Vai trò của các cơ quan truyền thông đại chúng rất quan trọng trong việc đăng tải nguy cơ vụ kiện, hậu quả dự kiến của vụ kiện… đã tạo dư luận thuận lợi, gây sức ép nhất định đến các cơ quan “xử kiện” ở nước nguyên đơn, và tạo sự chú ý của Chính phủ, của các cấp có thẩm quyền tăng cường sự hỗ trợ các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện.

Những tồn tại cần khắc phục:

Theo nhóm nghiên cứu, một số vụ kiện đáng lý sẽ không diễn ra hoặc tỷ lệ vụ kiện bị đình chỉ sẽ nhiều hơn nếu không có các tồn tại sau đây:

– Cơ chế chính sách có liên quan đến bán phá giá hàng nhập khẩu ban hành muộn và không đầy đủ.

– Bộ máy quản lý nhà nước về chống bán phá giá chưa được kiện toàn.

– Quản lý nhà nước đối với hoạt động XK, NK của VN còn yếu

– Hoạt động đối ngoại chưa mang tính chiến lược và bài bản trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào hàng XK của VN

– Cơ chế, luật pháp để vận hành nền kinh tế thị trường chưa đạt chuẩn mực quốc tế

– Nguồn nhân lực được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm về chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế còn ít và yếu

– Hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng đa số còn mang tính nghiệp dư

– Đa số các doanh nghiệp XK chưa có chiến lược và phương pháp kinh doanh XK đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Các giải pháp và kiến nghị

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, khoa học thực trạng các vụ kiện bán phá giá đối với hàng XK VN, nhóm tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giúp các doanh nghiệp đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước NK, gồm 2 nhóm giải pháp: Giải pháp chung cho các doanh nghiệp xuất khẩu; Giải pháp cụ thể cho các ngành hàng xuất khẩu chủ lực.

* Về nhóm giải pháp chung, gồm 3 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp phòng ngừa bị kiện; Nhóm giải pháp đối phó khi bị kiện và nhóm giải pháp hạn chế thiệt hại khi bị thua kiện.

– Nhóm giải pháp phòng ngừa bị kiện gồm 4 giải pháp: Xây dựng chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh XK; Tích cực tham gia xây dựng và củng cố hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng; Xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài (áp dụng với các doanh nghiệp lớn); Xây dựng chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, các chuỗi cung ứng nội địa và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tham gia vào các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. ợp tác đầy đủ, kịp thời và thiện chí với các cơ quan điều tra AD ở nước nhập khẩu; Hoàn thiện chế độ hạch toán kế toán và sổ sách, hồ sơ ở các công ty XK; Các doanh nghiệp XK chủ động đề nghị được điều tra chống bán phá giá(áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu không nằm trong nhóm bị đơn bắt buộc); Cam kết tăng giá xuất khẩu.

– Nhóm giải pháp hạn chế thiệt hại khi bị thua kiện gồm 2 giải pháp: Tiếp tục giữ thị trường ở nước nguyên đơn,bằng các cách: Chuyển sang sản xuất ở những mặt hàng không bị áp thuế chống bán phá giá, Tiếp tục kháng kiện đề nghị xem xét lại mức thuế chống bán phá giá;

– Nhóm giải pháp đối phó khi bị kiện gồm 7 giải pháp: Các doanh nghiệp XK cần có thái độ quan điểm đúng khi bị kiện bán phá giá – Phải coi hiện tượng bị kiện bán phá giá ở nước nhập khẩu là bình thường, phải chủ động, tích cực đối phó với các vụ kiện; Hợp tác chặt chẽ với đối tác nhập khẩu để đối phó chống lại vụ kiện; Sử dụng tư vấn pháp lý ở tất cả các khâu của quá trình tham gia kháng kiện; Hợp tác đầy đủ, kịp thời và thiện chí với các cơ quan điều tra AD ở nước nhập khẩu; Hoàn thiện chế độ hạch toán kế toán và sổ sách, hồ sơ ở các công ty XK; Các doanh nghiệp XK chủ động đề nghị được điều tra chống bán phá giá(áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu không nằm trong nhóm bị đơn bắt buộc); Cam kết tăng giá xuất khẩu.

* Về nhóm giải pháp chung, gồm 3 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp phòng ngừa bị kiện; Nhóm giải pháp đối phó khi bị kiện và nhóm giải pháp hạn chế thiệt hại khi bị thua kiện.

– Nhóm giải pháp phòng ngừa bị kiện gồm 4 giải pháp: Xây dựng chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh XK; Tích cực tham gia xây dựng và củng cố hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng; Xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài (áp dụng với các doanh nghiệp lớn); Xây dựng chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, các chuỗi cung ứng nội địa và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tham gia vào các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. ợp tác đầy đủ, kịp thời và thiện chí với các cơ quan điều tra AD ở nước nhập khẩu; Hoàn thiện chế độ hạch toán kế toán và sổ sách, hồ sơ ở các công ty XK; Các doanh nghiệp XK chủ động đề nghị được điều tra chống bán phá giá(áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu không nằm trong nhóm bị đơn bắt buộc); Cam kết tăng giá xuất khẩu.

– Nhóm giải pháp hạn chế thiệt hại khi bị thua kiện gồm 2 giải pháp: Tiếp tục giữ thị trường ở nước nguyên đơn,bằng các cách: Chuyển sang sản xuất ở những mặt hàng không bị áp thuế chống bán phá giá, Tiếp tục kháng kiện đề nghị xem xét lại mức thuế chống bán phá giá;

– Nhóm giải pháp đối phó khi bị kiện gồm 7 giải pháp: Các doanh nghiệp XK cần có thái độ quan điểm đúng khi bị kiện bán phá giá – Phải coi hiện tượng bị kiện bán phá giá ở nước nhập khẩu là bình thường, phải chủ động, tích cực đối phó với các vụ kiện; Hợp tác chặt chẽ với đối tác nhập khẩu để đối phó chống lại vụ kiện; Sử dụng tư vấn pháp lý ở tất cả các khâu của quá trình tham gia kháng kiện; Hợp tác đầy đủ, kịp thời và thiện chí với các cơ quan điều tra AD ở nước nhập khẩu; Hoàn thiện chế độ hạch toán kế toán và sổ sách, hồ sơ ở các công ty XK; Các doanh nghiệp XK chủ động đề nghị được điều tra chống bán phá giá(áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu không nằm trong nhóm bị đơn bắt buộc); Cam kết tăng giá xuất khẩu.

* Về nhóm giải pháp cụ thể cho các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, gồm 2 nhóm giải pháp: Giải pháp cho các doanh nghiệp XK thủy sản và giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may, da giày.

– Nhóm giải pháp cho các doanh nghiệp XK thủy sản gồm 4 giải pháp: Khuyến khích các doanh nghiệp nuôi trồng chế biến thủy sản ở hai mặt hàng tôm sú và cá basa, cá tra đầu tư sang Campuchia hoặc mượn sông, hồ để nuôi; Đầu tư công nghệ để tạo ra sản phẩm thủy sản có giá trị tăng cao, có hương vị độc đáo, tạo ra các sản phẩm khác biệt; Hoàn thiện quy hoạch nuôi trồng thủy sản trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên của từng vùng; đánh giá cung cầu của thị trường trong và ngoài nước; Phát triển thương mại nội địa ở mặt hàng thủy sản;

– Nhóm giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may, da giày cũng gồm 4 giải pháp: Bộ Công thương phối hợp với các Hiệp hội ngành hàng giám sát chặt mức độ gia tăng xuất khẩu ở những Categorise – Cat (loại hàng) nhạy cảm, để tránh gia tăng xuất khẩu quá mức; Chuyển dần từ phương thức gia công xuất khẩu sang phương thức tự doanh; Cổ phần hóa doanh nghiệp và bán cổ phiếu cho các đối tác chiến lược nước ngoài là những tập đoàn thương mại hoặc dệt, may; giày dép lớn trên thế giới; Đẩy mạnh liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành (áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ) nhằm gia tăng quy mô để có thể nhận được các hợp đồng sản xuất lớn.

* Về kiến nghị: Để hệ thống giải pháp nêu trên được thực hiện một cách hiệu quả, nhóm nghiên cứu đề xuất tập hợp kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước (Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan) và kiến nghị với Phòng Thương mại và Công nghiệp VN, các hiệp hội ngành hàng XK. Cụ thể:

Đối với Thủ tướng Chính phủ: Cần đẩy nhanh tiến trình cải cách kinh tế để VN sớm được WTO thừa nhận là nước có nền kinh tế thị trường; Quan tâm hơn nữa đến công tác dự báo kinh tế đối ngoại; Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan đối ngoại của Nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; Hoàn thiện bộ máy cơ quan chống bán phá giá của quốc gia.

Đối với Bộ Công thương: Cần hoàn thiện bộ máy tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh; xây dựng cơ chế giám sát khối lượng và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở những ngành hàng xuất khẩu chủ lực: dệt may; giày dép; … (những mặt hàng xuất khẩu trên một tỷ USD) trên những thị trường xuất khẩu chủ lực: Mỹ, EU, Úc,… Làm đầu mối tổ chức phòng ngừa các vụ kiện AD từ ngoài lãnh thổ VN; Xây dựng chiến lược phát triển hoạt động thương mại VN một cách khoa học, tiến tiến, phù hợp với điều kiện hội nhập.

Đối với Bộ Tài chính:

– Phối hợp với Bộ Công thương hoàn thiện cơ chế quản lý thuế XK, NK VN theo hướng đa dạng hóa cách tính thuế: thuế hạn ngạch; thuế theo mùa; thuế theo giá trị (cùng một áo sơmi: giá rẻ hơn mức nào đó đánh thuế cao; cao hơn đánh thuế mức thấp…); hoặc thuế (hoặc phụ thu) đánh vào sản phẩm khi xuất khẩu sang các thị trường khác nhau (có thị trường xuất khẩu thuế =0; có những thị trường xuất khẩu cũng sản phẩm ấy bị phụ thu phí…).

– Đầu tư mạnh cho công tác hải quan: hiện đại hóa thủ tục hải quan; tăng cường nối kết mạng giữa các cơ quan Chính phủ nhằm giám sát chặt chẽ kịp thời tốc độ tăng (giảm) XK, NK trên các thị trường, để đề xuất các giải pháp điều tiết nhằm giữ thị trường.

– Giúp Chính phủ xây dựng đề án “Hoàn thiện công tác kế toán kiểm tóan VN đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” và đưa vào áp dụng trong thực tế để giúp các doanh nghiệp đối phó có hiệu quả các vụ kiện AD.

Đối với Tổng cục Hải quan

– Cập nhật và kịp thời thông báo thông tin về tình hình XK các mặt hàng XK chủ lực trên các thị trường trọng yếu về: khối lượng; giá trị; giá cả hàng XK.

– Giám sát chặt chẽ khối lượng, giá trị hàng NK và gửi báo cáo về tình hình XK, NK đến Bộ Công Thương, đến Tổng cục Quản lý Cạnh tranh.

– Tăng cường quản lý và chống hiện tượng chuyển tải bất hợp pháp khác; giả mạo xuất xứ VN để đưa hàng giá rẻ vào các nước khác.

– Xây dựng mối liên kết với Hải quan của các nước NK hàng VN để hợp tác trên các lĩnh vực: chống buôn lậu; giả mạo hàng hoá VN; kiểm soát tốc độ tăng giảm hàng VN trên thị trường nước NK(chú trọng ở mặt hàng XK chiến lược) để từ đó cung cấp thông tin cho Bộ Công Thương; Hiệp hội ngành hàng, để những nơi này có những giải pháp điều chỉnh phù hợp. Ngoài ra sự hợp tác chặt chẽ hoạt động hải quan giữa các nước sẽ góp phần giảm thủ tục và thời gian thông quan góp phần đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu mà không bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc tự vệ ở nước NK.

Các giải pháp, kiến nghị nêu trên đều được trình bày rất chi tiết, với đối tượng thực hiện, lộ trình thực hiện và điều kiện thực hiện cụ thể, các tác giả mong muốn trên cơ sở đó sẽ xây dựng một cẩm nang nhằm giúp các doanh nghiệp VN đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu một cách hiệu quả, góp phần đẩy mạnh XK, xây dựng đất nước mạnh giàu.

Tài liệu tham khảo

1.Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994)

2. Hiệp định chống bán phá giá của WTO

3. Nghiên cứu so sánh về hệ thống chống bán phá giá của Mỹ, EU, Australia, Canada – Edwin Vermulst

4. Hướng dẫn doanh nghiệp về các biện pháp đền bù thương mại của Mỹ – Trung tâm Thương mại Quốc tế, UNCTAD/WTO, 2001

5. Hướng dẫn doanh nghiệp về các biện pháp đền bù thương mại của EU – Trung tâm Thương mại Quốc tế, UNCTAD/WTO, 2001

6. Thủ tục pháp lý khi áp dụng thuế chống bán phá giá: hướng dẫn các nhà xuất khẩu, nhập khẩu – Trung tâm Thương mại Quốc tế, UNCTAD/WTO, 1997

7. Cẩm nang thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp – Hội đồng Thương mại Quốc tế Mỹ, 11/1999

8. Pháp lệnh chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào VN, 29/4/2004

9. Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào VN”

10. Luật Thuế chống bán phá giá của Mỹ

11. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Điều XVI của GATT 1994)

12. Luật chống bán phá giá của EU (quy định của Hội đồng EC số 2238/2000 ban hành ngày 9/10/2000)

13. Australia’s Anti-Dumping and Countervailing Administration

14. Bộ Thương mại VN – “Tài liệu về vụ kiện” Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994)

15. Đoàn Thị Hồng Vân, Võ Thanh Thu và nhóm nghiên cứu, đề tài khoa học cấp Thành phố “Đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản ‘Chống bán phá giá’ ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp VN – trường hợp TP.HCM”, bảo vệ tháng 1/2008.

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 211 – THÁNG 5.2008

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: