ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

PHẠM TRỌNG NGHĨA – Thanh tra Bộ lao đông, thương binh và xã hội

Pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam gồm có nhiều bộ phận cấu thành khác nhau với 4 trụ cột chính là: Pháp luật cứu trợ xã hội, pháp luật BHXH, BHYT và pháp luật ưu đãi xã hội. Trong đó có bộ phận ra đời sớm (pháp luật cứu trợ xã hội, pháp luật ưu đãi xã hội) và có bộ phận ra đời muộn (pháp luật BHXH). Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, pháp luật an sinh xã hội đã góp phần đáng kể trong việc đảm bảo quyền được trợ cấp của những thành viên trong xã hội khi gặp rủi ro trong cuộc sống giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, pháp luật an sinh xã hội hiện hành vẫn chứa đựng những hạn chế cả về kỹ thuật lập pháp cả về tổ chức triển khai thực tiễn. Những hạn chế này đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Bài viết này nhằm mục đích nêu ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Xác định mô hình của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam

Pháp luật an sinh xã hội là sự phản ánh có ý thức sự tồn tại, vận động của hệ thống an sinh xã hội trên thực tiễn. Để xây dựng một hệ thống pháp luật an sinh xã hội đồng bộ toàn diện có “sức sống”, có “tầm nhìn” vừa đảm bảo về mặt kỹ thuật lập pháp vừa đảm bảo tính khả thi trên thực tiễn, trước tiên chúng ta phải lựa chọn xây dựng được mô hình lý luận của hệ thống an sinh xã hội.
Trên thế giới vẫn tồn tại nhiều quan điểm và mô hình xây dựng hệ thống an sinh xã hội khác nhau.

Về chủ thuyết, có thể kể đến hai quan điểm lớn đó là:
– Quan niệm của trường phái Bismark (Otto Von BisMark 1815 – 1898): Theo trường phái này, chính sách an sinh xã hội được thực hiện dựa trên trụ cột là BHXH gắn với yếu tố lao động. Chế độ BHXH được áp dụng bắt buộc với một mức lương cụ thể, mức đóng góp và mức trả BHXH được tính căn cứ vào tiền lương và được quản lý bởi các đối tác xã hội.
– Quan niệm của trường phái Lord Beveridge: Theo trường phái này, hệ thống an sinh xã hội hoạt động dựa trên ba nguyên tắc: Bao phủ toàn diện (mọi người lần đầu được hưởng an sinh xã hội); mức chi trả tương đương và quản lý tập trung, thống nhất.
Trong thời gian gần đây, hai tổ chức lớn trên thế giới là Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đưa ra quan điểm của mình về mô hình an sinh xã hội:
– Theo quan điểm của WB: An sinh xã hội được xây dựng dựa trên mô hình quản lý rủi ro xã hội. Triết lý của mô hình này là mỗi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng đồng đều phải chịu những rủi ro nhất định do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế, xã hội gây ra. Chính những rủi ro này là nguyên nhân gây ra nghèo khổ. Người nghèo là những người chịu nhiều rủi ro nhất so với các thành phần xã hội khác và ít có điều kiện tiếp cận các công cụ và phương tiện cho phép họ đối mặt với rủi ro. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế an sinh xã hội dành cho người nghèo để hạn chế tình trạng bấp bênh của họ, tạo cho họ các phương tiện để thoát nghèo. Theo quan điểm mới dựa trên khái niệm quản lý rủi ro, hệ thống an sinh xã hội được hiểu là “toàn bộ các chính sách Nhà nước nhằm giúp đỡ các cá nhân, các gia đình và các nhóm xã hội quản lý các rủi ro của mình và cung cấp hỗ trợ cho những người nghèo khổ nhất( ).
Theo quan điểm của WB, có ba chiến lược quản lý rủi ro, đó là: Phòng ngừa rủi ro; giảm nhẹ rủi ro và khắc phục rủi ro.
Từ quan điểm này, WB cho rằng an sinh xã hội gồm hai vấn đề chính đó là mạng lưới BHXH và vấn đề tư nhân hóa. WB ủng hộ việc xây dựng mô hình bảo đảm xã hội được tư nhân hóa dựa trên vai trò của Quỹ hưu trí. Ưu điểm của mô hình này là mang tính tổng thể và toàn diện, chính sách an sinh xã hội được xây dựng trong mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế, giáo dục, y tế mang tính vĩ mô. Tuy nhiên, do gắn với chức năng chính của WB là xoá đói giảm nghèo, cho nên mô hình này mới chỉ tập trung vào việc giải quyết nạn nghèo đói mà chưa chú trọng đến vai trò thúc đẩy sự thịnh vượng, sự liên hệ của an sinh xã hội với các yếu tố kinh tế – xã hội khác.
– Theo quan điểm truyền thống của ILO thì an sinh xã hội được xây dựng trên trụ cột là BHXH. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây mô hình này cũng đã được sửa đổi mang tính toàn diện hơn dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền công dân. Theo mô hình này, là một thành viên của xã hội, mọi cá nhân đều có quyền được hưởng an sinh xã hội (phù hợp với tuyên ngôn nhân quyền 1948; Công ước 1966 của Liên hiệp quốc). Quyền hưởng an sinh xã hội là một quyền cơ bản của công dân, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển của người lao động, gia đình họ và toàn thể cộng đồng. An sinh xã hội là một quyền cơ bản của con người và là nền tảng cho sự phát triển xã hội ( ).
Theo ILO mô hình an sinh xã hội xây dựng trên nguyên tắc quyền công dân có ba bộ phận cấu thành:
– Chăm sóc y tế
– Trợ cấp gia đình
– Bảo đảm an ninh thu nhập trong trường hợp bị ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động, thai sản hoặc mất nguồn nuôi dưỡng.
Các trường phái trên được triển khai áp dụng trên thực tiễn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mọi quốc gia khác nhau. Thực tế cho ở châu Âu thấy có ba mô hình an sinh xã hội:
– Mô hình tự do của các nước ănglosacxon: Theo mô hình này, mức chi trả được thực hiện kèm theo các điều kiện gắn với thu nhập do vậy thường không cao. Mô hình này có ưu điểm là kích thích người lao động tham gia thị trường lao động và tham gia các loại hình bảo hiểm tư nhân khác (Do mức chi trả thấp nên muốn có nhiều thu nhập khi về hưu thì người lao động phải tham gia lao động hoặc tham gia loại bảo hiểm khác). Tuy nhiên, theo mô hình này do sự vận hành của an sinh xã hội dựa trên vai trò thị trường, cho nên tỷ lệ nghèo đói của các nước này khá cao và mức độ đảm bảo trước các biến động của thị trường lao động thấp.
– Mô hình dân chủ – xã hội của các nước Bắc Âu: Theo mô hình này tất cả mọi người dân đều được hưởng an sinh xã hội nhằm mục tiêu công bằng xã hội, nâng cao mức sống, tránh phân hoá giàu nghèo rõ nét. Mô hình dân chủ – xã hội chủ yếu dựa vào vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp an sinh xã hội với hai hình thức chính là BHXH và trợ cấp gia đình. Mô hình này có ưu điểm là phạm vi rộng, thể hiện được tính chất công bằng của an sinh xã hội. Tuy nhiên, mô hình này không kích thích nhu cầu tham gia quan hệ lao động, mặt khác do quá đề cao vai trò của Nhà nước cho nên nguồn ngân sách của Nhà nước đảm bảo cho an sinh xã hội là rất lớn.
– Mô hình phường hội (CHLB Đức): Theo mô hình này, hệ thống an sinh xã hội được chia theo từng ngành, từng lĩnh vực. Ưu điểm của mô hình này là rất nhạy cảm đối với mọi sự biến động về việc làm của toàn bộ nền kinh tế nói chúng và từng ngành nói riêng. Nhưng mô hình này lại có điểm hạn chế là không tạo ra được sự công bằng giữa những người lao động khác nhau, trong ngành nghề khác nhau( ).
Các quốc gia Mỹ La Tinh có mô hình an sinh xã hội gần giống với mô hình Ănglosacxon.
Phần lớn các quốc gia ở khu vực châu á và đặc biệt là khu vực Đông Nam á, hiện vẫn chưa xác định ró nét mô hình an sinh xã hội cho quốc gia mình. Tất cả các nước trong khu vực này đều dành ưu tiên cho việc phát triển kinh tế, coi nhẹ chính sách xã hội. Chính sách xã hội chỉ được giới hạn ở lĩnh vực giáo dục, y tế, cơ chế an sinh xã hội chỉ dừng lại ở mức độ tối thiểu.
Các mô hình nêu trên đều có chung những ưu điểm và nhược điểm nhất định.Việc lựa chọn áp dụng mô hình nào là hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của mỗi quốc gia.
Xem xét các triết lý, các trường phái cũng như mô hình an sinh xã hội trên thế giới, chúng tôi cho rằng, mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam cần được xây dựng dựa trên quan điểm của ILO là phù hợp hơn cả. Bởi lẽ:
– Thứ nhất, mô hình này ghi nhận an sinh xã hội là một quyền cơ bản của con người điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương, đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta: “Con người là trung tâm của sự phát triển”. Khẳng định quyền được hưởng an sinh xã hội của cá nhân, thể hiện sự trân trọng của Nhà nước đối với công dân của mình, thể hiện tính tiến bộ và tính ưu việt của chế độ.
– Thứ hai, trong xã hội hiện đại việc mở rộng hơn nữa các quyền cơ bản của công dân là điều tất yếu, khách quan. Mô hình an sinh xã hội theo quan điểm của ILO đáp ứng được đòi hỏi này.
– Thứ ba, hệ thống an sinh xã hội hiện nay của Việt Nam với các chế độ: BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, BHYT gần giống với mô hình của ILO, do vậy việc xây dựng hoàn thiện có nhiều điểm thuận lợi.
– Thứ tư, ILO là cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc, với cơ cấu tổ chức gồm đại diện của ba bên: Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động. Tính đa dạng trong tổ chức thể hiện tính toàn diện cho các chính sách, quan điểm của ILO. Hiện nay, phần lớn các quy phạm lao động quốc tế do ILO ban hành ( ).
Như vậy, mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam cần được xây dựng trên quan điểm an sinh xã hội là một phạm trù thuộc quyền con người. Với các bộ phận cấu thành là BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, BHYT.

Vấn đề xây dựng Bộ luật an sinh xã hội chung ở Việt Nam

Xung quanh vấn đề hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam, có hai loại ý kiến khác nhau.
– Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: Cần xây dựng một Bộ luật quy định tổng hợp các nội dụng của an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, BHXH, ưu đãi xã hội. Lấy tên gọi là Bộ luật an sinh xã hội  .
– Loại ý kiến thứ hai cho rằng: Không cần thiết phải xây dựng một bộ luật chung về an sinh xã hội mà giữ nguyên các bộ phận hiện nay: Pháp luật BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, BHYT.
Chúng tôi cho rằng, ở Việt Nam hiện nay không cần thiết phải xây dựng một bộ luật chung về an sinh xã hội bởi những lý do chủ yếu như sau:
– Thứ nhất, an sinh xã hội là một lĩnh vực rất rộng, chiếm phần lớn trong hệ thống các chính sách xã hội của quốc gia do đó pháp luật an sinh xã hội là một lĩnh vực pháp luật riêng (Field of Law), độc lập so với các lĩnh vực pháp luật khác. Pháp luật an sinh xã hội có nhiều bộ phận cấu thành một bộ phận có vai trò đặc thù, do vậy nếu đem gộp vào một bộ luật sẽ không tránh khỏi những bất cập. Pháp luật an sinh xã hội ở nước ta gồm ba trụ cột là pháp luật cứu trợ xã hội, pháp luật BHXH, pháp luật ưu đãi xã hội, mỗi bộ phận này lại có sự khác nhau trong quy định về điều kiện hưởng, mức trợ cấp, nội dung trợ cấp … do đó không thể quy nạp vào trong một văn bản.
– Thứ hai, để đảm bảo tính khả thi trên thực tế, pháp luật an sinh xã hội phải thật chi tiết và cụ thể. Tính chi tiết và cụ thể chỉ có thể được thực hiện khi có những văn bản pháp luật riêng cho từng nhóm đối tượng cụ thể. Do đó, việc xây dựng các đạo luật riêng biệt về từng nhóm đối tượng của an sinh xã hội là phù hợp hơn việc gộp lại thành một Bộ Luật. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy luật phi bộ luật hóa đang được đông đảo các quốc gia đón nhận. (Hiện nay, đang có xu hướng nghiên cứu để tiến hành sửa đổi toàn diện. Bộ Luật Lao động năm 1995 của nước ta theo hướng chi tiết hoá, tức là ban hành các đạo luật về từng lĩnh vực cụ thể chứ không quy định chung trong một bộ luật).
– Thứ ba, pháp luật an sinh xã hội là một bộ phận của pháp luật xã hội, các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật an sinh xã hội thường xuyên biến đổi đòi hỏi các quy phạm pháp luật phải kịp thời được sửa đổi, bổ sung. Điều này rất khó thực hiện trong điều kiện nước ta nếu như các quy phạm an sinh xã hội được gộp trong một bộ luật.
Do vậy, chúng tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay không nên xây dựng một bộ luật chung để điều chỉnh toàn bộ lĩnh vực an sinh xã hội ở Việt Nam.
Quan điểm hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam theo mô hình đã chọn cần được thực hiện trên quan điểm cơ bản như sau:
– Thứ nhất, phù hợp về chính trị; pháp luật an sinh xã hội thể hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước.
– Thứ hai, pháp luật an sinh xã hội được hoàn thiện dựa trên mối quan hệ biện chứng với những điều kiện kinh tế xã hội đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa đối tượng hưởng chính sách nói chung, trong quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện hội nhập, thúc đẩy cải cách về kinh tế xã hội của đất nước.
– Thứ ba, pháp luật an sinh xã hội ghi nhận và đảm bảo trên thực tế quyền được hưởng an sinh xã hội của công dân.
– Thứ tư, hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội góp phần hạn chế tối đa những bất bình đẳng trong xã hội, là tấm lá chắn pháp lý đảm bảo cuộc sống vật chất, tinh thần của các thành viên xã hội khi gặp rủi ro trong cuộc sống, hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.
– Thứ năm, hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển chính sách BHXH hiện hành, vừa thể hiện truyền thống của dân tộc đồng thời tham khảo kinh nghiệp của các nước phát triển trên thế giới.
– Thứ sáu, hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội phải đảm bảo tính đồng bộ giữa các chế độ an sinh xã hội, tránh chồng chéo, mâu thuẫn; đồng thời tránh lỏng lẻo, thiếu quy định. Đảm bảo mọi người dân đều có quyền được hưởng an sinh xã hội.
– Thứ bảy, hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội tạo cơ chế đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh và có hiệu quả trên thực tế.
– Thứ tám, an sinh xã hội là vấn đề thuộc chính sách xã hội, do đó hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội phải phát huy cao độ vai trò của xã hội trong việc thực hiện pháp luật an sinh xã hội.

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

Ghi nhận quyền hưởng an sinh xã hội là một quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp
Hiến pháp hiện nay được Quốc hội thông qua năm 1992 có ba Điều khoản quy định liên quan đến an sinh xã hội đó là: Điều 56, Điều 61, Điều 67.
Các điều khoản trên mới chỉ để cập đến các chế độ khác nhau của an sinh xã hội, chưa thể hiện tính tổng thể, chưa có sự khái quát chung về quyền hưởng an sinh xã hội.
Thực tế ở nước ta hiện nay, an sinh xã hội đã được hình thành với 4 bộ phận cấu thành gồm: BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, BHYT. Tuy nhiên, trong bốn bộ phận trên, ưu đãi xã hội có những đặc thù riêng, có sự vận động và phát triển riêng. Nếu như xã hội càng phát triển, đối tượng, phạm vi của BHXH và BHYT càng phát triển, thì ngược lại số đối tượng hưởng ưu đãi xã hội có xu hướng giảm.
Theo thống kê hiện nay nước ta có 8 triệu người thuộc đối tượng hưởng ưu đãi xã hội( ), nhưng theo dự báo số đối tượng hưởng ưu đãi xã hội về cơ bản sẽ được giải quyết hết vào năm 2020.
Mặt khác, ưu đãi xã hội là sự đền đáp công lao của những thành viên trong xã hội có công trong xây dựng, bảo vệ đất nước. ưu đãi xã hội mang bản chất chính trị sâu sắc, ưu đãi xã hội là “sự đền ơn”, do vậy chỉ những người “có công” mới được hưởng. Nếu quy định ưu đãi xã hội là trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước thì phù hợp hơn.
Do đó, theo chúng tôi cần chỉnh sửa các Điều 56, Điều 61, Điều 67 của Hiến pháp 1992 thành 2 điều như sau:
Điều …: “Công dân có quyền hưởng an sinh xã hội, Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ đảm bảo quyền hưởng an sinh xã hội của công dân thông qua các hình thức: BHXH, cứu trợ xã hội và BHYT”.
Điều ….: “Người có công có quyền được hưởng ưu đãi xã hội. Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ đảm bảo và chăm lo đời sống cho người có công”.

Sửa đổi hoàn thiện các quy phạm pháp luật an sinh xã hội hiện hành
1. Hoàn thiện các quy phạm về cứu trợ xã hội:
– Mở rộng đối tượng hưởng cứu trợ xã hội.
– Nâng mức trợ cấp cứu trợ xã hội.
– Ban hành quy định thành lập quỹ cứu trợ xã hội thống nhất từ Trung ương đến địa phương để điều hoà hoạt động cứu trợ xã hội
– Hoàn thiện các quy định về trung tâm bảo trợ xã hội
– Xây dựng và ban hành Luật Cứu trợ xã hội: Việc xây dựng Luật Cứu trợ xã hội đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn hoạt động cứu trợ xã hội, phát triển hoá hệ thống pháp luật cứu trợ xã hội hiện hành, góp phần vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luật cứu trợ xã hội gồm các nội dung cơ bản sau:
Chương I: Những quy định chung: Quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện cứu trợ xã hội, các hình thức cứu trợ xã hội.
Chương II: Chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên: Chia thành các mục khác nhau theo các hình thức khác nhau.
+ Mục I: Đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên tại gia đình và cộng đồng.
+ Mục II: Đối tượng cứu trợ xã hội thường xuyên tại các cơ sở bảo trợ xã hội.
Chương III: Chế độ cứu trợ xã hội đột xuất: Quy định các trường hợp, mức hưởng cứu trợ xã hội đột xuất.
Chương IV: Quỹ cứu trợ xã hội: Quy định việc thành lập, quản lý và sử dụng quỹ cứu trợ xã hội.
Chương V: Cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về cứu trợ xã hội: Quy định trách nhiệm của Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành hữu quan trong việc quản lý hoạt động cứu trợ xã hội.
Chương VI: Các vấn đề khác gồm:
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo.
+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi. phạm.
+ Hiệu lực của đạo luật.
2. Hoàn thiện pháp luật BHXH:
– Ban hành quy định cụ thể về BHXH tự nguyện
– Sửa đổi chế độ hưu trí đảm bảo công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ, đồng thời đảm bảo sự ổn định của Quỹ hưu trí.
– Sửa đổi mức đóng BHXH cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế.
– Ban hành quy định cụ thể về chế độ bảo hiểm thất nghiệp.
– Xây dựng và ban hành Luật BHXH.
Nội dung chủ yếu của dự thảo luật BHXH: Dự thảo Luật BHXH gồm 76 Điều chia thành 11 Chương sau đây:
Chương I: Những quy định chung gồm 12 Điều quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, quyền và trách nhiệm của các bên trong quá trình tham gia quan hệ BHXH, giải thích một số từ ngữ và những quy định có tính chất nguyên tắc chi phối toàn bộ nội dung Luật BHXH.
Chương II: BHXH bắt buộc gồm 18 Điều, chia thành các Mục, mỗi mục tương ứng với một chế độ của BHXH bắt buộc, như chế độ bảo hiểm ốm đau; chế độ bảo hiểm thai sản; chế độ bảo hiểm cho người lao động khi bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất. Trong chế độ này quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện được hưởng và mức được hưởng của từng chế độ bảo hiểm.
Chương III: BHXH tự nguyện gồm 7 Điều quy định đối tượng của BHXH tự nguyên, các chế độ của BHXH tự nguyện gồm hưu trí hàng tháng, trợ cấp một lần; điều kiện hưởng; mức lương hưu; quyền và trách nhiệm của người tham gia BHXH tự nguyện và trách nhiệm của tổ chức BHXH tự nguyện.
Chương IV: Bảo hiểm thất nghiệm gồm 7 Điều quy định đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp; điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp, mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp; đào tạo nghề và giới thiệu việc làm; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Chương V: Quỹ BHXH gồm 14 Điều chia thành 3 mục, Quỹ BHXH bắt buộc, Quỹ BHXH tự nguyện và Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Trong đó, quỹ BHXH bắt buộc gồm 3 quỹ thành phần: quỹ ốm đau, thai sản, quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; quỹ hưu trí và tử tuất.
Chương VI: Tổ chức BHXH gồm 2 Điều quy định có tính nguyên tắc về tổ chức BHXH và Hội đồng quản lý BHXH.
Chương VII: Thủ tục thực hiện BHXH gồm 3 Điều quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động việc đăng ký tham gia BHXH, lập hồ sơ hưởng BHXH và quy định về thời hạn giải quyết.
Chương VIII: Giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp, khởi kiện về BHXH gồm 6 Điều, quy định quyền khiếu nại tố cáo và tranh chấp trong quan hệ BHXH; thẩm quyền, thủ tục giải quyết; việc thi hành các quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Chương IX: Quản lý Nhà nước và BHXH gồm 2 Điều xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về BHXH; các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý Nhà nước; trách nhiệm của Nhà nước đối với quỹ BHXH.
Chương X: Khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về BHXH gồm 2 Điều quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về BHXH đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân.
Chương XI: Điều khoản thi hành gồm 3 Điều quy định hiệu lực thi hành; các quy định xử lý quá độ, việc áp dụng và thẩm quyền hướng dẫn thi hành Luật BHXH.
3. Hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội:
– Mở rộng đối tượng, phạm vi hưởng ưu đãi xã hội.
– Hoàn thiện các chế độ ưu đãi
– Hoàn thiện các quy định liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về ưu đãi xã hội.
– Quy định rõ hành vi vi phạm pháp luật ưu đãi xã hội và thẩm quyền xử lý vi phạm.
– Xây dựng và ban hành Luật ưu đãi xã hội: Luật ưu đãi xã hội xây dựng và xác định các quy phạm chuẩn trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người có công, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội đối với những người có đóng góp cho công cuộc bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Luật ưu đãi xã hội gồm các nội dung cơ bản sau:
Chương I: Những quy định chung:
Chương này quy định đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc thực hiện ưu đãi xã hội.
Chương II: Các chế độ ưu đãi chia theo các mục khác nhau theo đối tượng, bao gồm các quy định về:
+ Điều kiện, tiêu chuẩn hưởng ưu đãi xã hội.
+ Nội dung của chế độ ưu đãi xã hội.
Chương III: Quỹ ưu đãi xã hội. Quy định việc thành lập, đóng góp, quản lý và sử dụng quỹ trợ cấp ưu đãi xã hội.
Chương IV: Cơ quan quản lý Nhà nước về người có công xác định thẩm quyền, phân định tránh nhiệm của các cơ quan Nhà nước: Bộ, ngành trong công tác quản lý, thực hiện chế độ ưu đãi xã hội.
Chương V: Các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ chế độ ưu đãi xã hội: Quy định các trường hợp bị hoãn, chấm dứt hưởng ưu đãi xã hội.
Chương VI: Các quy định khác như khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm, hiệu lực thi hành.
4. Hoàn thiện pháp luật về BHYT:
Mở rộng đối tượng tham gia BHYT: Hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân.
Mở rộng nội dung của chế độ BHYT: Mọi người có thẻ BHYT đều có quyền khám chữa bệnh ở bất kỳ cơ sở y tế nào, được thanh toán mọi chi phí. BHYT được áp dụng cho mọi loại bệnh.
Xây dựng và ban hành Luật BHYT: Luật BHYT có các nội dung như sau:
Chương I: Những quy định chung:
Chương này quy định đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc thực hiện BHYT.
Chương II: Các hình thức BHYT:
+ BHYT bắt buộc;
+ BHYT tự nguyện.
Chương III: Chế độ BHYT: Quy định trình tự, thủ tục, nội dung hưởng BHYT.
Chương IV: Cơ quan quản lý BHYT.
Chương V: Quỹ BHYT.
Chương VI: Các quy định khác như khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm, hiệu lực thi hành.
5. Đôi điều kết luận:
Một hệ thống an sinh xã hội đầy đủ là ước mơ từ bao đời nay đồng thời là nhu cầu tất yếu của loài người tiến bộ. Hệ thống ấy chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở các quy phạm pháp luật an sinh xã hội hoàn thiện và đồng bộ.
Hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội nhằm ghi nhận quyền được hưởng an sinh xã hội của công dân, đảm bảo tốt hơn nữa đời sống các thành viên gặp rủi ro trong xã hội cũng như các thành viên có đóng góp cho đất nước.
Một hệ thống pháp luật an sinh xã hội đồng bộ ở nước ta là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh, góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 10 NĂM 2005

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: