Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở NHẬT BẢN

image TỪ NGUYỄN LINH

Nhật Bản được hình thành từ 4 hòn đảo chính tính từ Bắc đến Nam là: Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu. Tổng diện tích: 377.835 km2. Tổng dân số năm 2005: 127.417.244 người. Nhật Bản có 47 đơn vị hành chính địa phương tương đương cấp tỉnh trực thuộc chính quyền Trung ương. Tại mỗi tỉnh được chia ra thành các thành phố và huyện tùy thuộc vào quy mô.

Hệ thống an sinh xã hội

Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bắt đầu hình thành từ việc ban hành Quy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1874, sau đó lần lượt các luật liên quan đến các chính sách an sinh xã hội ra đời như: Luật Hưu trí, Luật BHYT, Luật Phúc lợi xã hội, Luật Vô gia cư… Hiện tại, hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bao gồm các chế độ sau:
– Cứu trợ xã hội: là chế độ mà Chính phủ đảm bảo mức sống tối thiểu cho tất cả những người gặp khó khăn trong cuộc sống và khuyến khích họ sống tự lập. Các hỗ trợ của Nhà nước bao gồm: chăm sóc y tế, kiếm sống, chi phí giáo dục, nhà ở, đào tạo nghề, xây dựng các cơ sở cứu trợ, phục hồi chức năng, chăm sóc y tế, ký túc xá cho người nghèo…

– Phúc lợi xã hội: là chế độ cung cấp cho những người có những thiệt thòi khác nhau trong cuộc sống như người tàn tật, mồ côi cha, vì thế họ không thể vượt qua được những mất mát và sống cuộc sống an toàn. Các phúc lợi xã hội được cung cấp cho người tàn tật, người trí tuệ chậm phát triển, người già, trẻ em…
– BHXH: là một hệ thống các chế độ bảo hiểm bắt buộc cung cấp những phúc lợi nhất định cho người tham gia bảo hiểm khi ốm đau, thương tật, sinh con, chết, tuổi già, tàn tật, thất nghiệp và các sự kiện được bảo hiểm khác mà kết quả làm cho cuộc sống khó khăn, với mục tiêu là duy trì sự ổn định cuộc sống. Các chế độ BHXH bao gồm: bảo hiểm hưu trí, BHYT, bảo hiểm chăm sóc dài ngày, bảo hiểm việc làm, bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động…
– Y tế công: là hệ thống chăm sóc y tế và phòng bệnh vì mục tiêu cuộc sống khỏe mạnh cho người dân Nhật Bản, bao gồm chương trình quản lý bệnh lao, bệnh lây nhiễm, ma túy, nước máy, nước thải, rác thải…
Chính phủ và chính quyền địa phương cùng chia sẻ trách nhiệm đối với việc quản lý về an sinh xã hội. Nhiệm vụ của Chính phủ là đưa ra các chính sách, quy định chung và hỗ trợ một phần tài chính, nhiệm vụ của chính quyền địa phương chủ yếu là tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Năm 2002, chi phí của hệ thống an sinh xã hội là 83,6 nghìn tỷ yên, trong đó chi cứu trợ xã hội và phúc lợi xã hội 8,4%, chi BHXH 91,0%, chi y tế công 0,7%.

Khái quát về các chế độ BHXH

Các chế độ BHXH bao gồm hai phần: A) BHXH (bảo hiểm hưu trí, BHYT); B) Bảo hiểm lao động (bảo hiểm việc làm, bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động). Chế độ bảo hiểm hưu trí và BHYT do cơ quan BHXH quản lý và tổ chức thực hiện, Bảo hiểm việc làm do cơ quan Bảo đảm việc làm của Chính phủ thực hiện, Bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động do cơ quan Thanh tra lao động thực hiện.
Hệ thống cơ quan BHXH bao gồm cơ quan Trung ương, 47 cơ quan BHXH địa phương với 312 văn phòng chi nhánh BHXH, có trách nhiệm quản lý và thực hiện chế độ BHYT (trừ BHYT của hiệp hội và BHYT quốc gia) và các chế độ bảo hiểm hưu trí. Các quỹ BHYT của các hiệp hội do các hiệp hội, BHYT quốc gia do chính quyền địa phương thực hiện theo luật định.

Chế độ hưu trí
Luật Hưu trí cho người lao động ra đời năm 1941, và được đổi tên là Luật Bảo hiểm hưu trí cho người lao động vào năm 1944 áp dụng đối với người lao động làm công hưởng lương. Năm 1959 Luật Bảo hiểm hưu trí quốc gia ra đời thực hiện bảo hiểm cho lao động cá thể, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Do đó, đến năm 1961 về cơ bản một chế độ hưu trí toàn dân đã được hình thành ở Nhật Bản. Năm 1985, Luật Hưu trí đã có sự thay đổi đáng kể bằng việc giới thiệu Chế độ lương hưu cơ bản. Từ đó hình thành hệ thống lương hưu với cấu trúc 2 tầng, tầng 1 là lương hưu cơ bản, tầng 2 là lương hưu được tính căn cứ theo tiền lương đóng bảo hiểm của người tham gia.
Chế độ hưu trí Nhà nước được chia ra làm hai loại hình chính là: 1) Chế độ bảo hiểm hưu trí quốc gia áp dụng đối với công dân Nhật Bản tuổi từ 20 đến dưới 60 và thực hiện tự nguyện cho người dân Nhật Bản ở trong nước từ 60 đến dưới 65 tuổi, ở nước ngoài từ 20 đến dưới 65 tuổi; 2) Chế độ hưu trí cho người lao động thực hiện cho người lao động dưới 65 tuổi làm việc tại các tổ chức, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, tại các công ty, tập đoàn, trường học tư.
Đối tượng: tổng số 69,89 triệu người được chia làm 3 nhóm: 1) Nhóm 1: lao động cá thể, nông dân, người không có việc làm, sinh viên… tham gia chế độ hưu trí quốc gia 22,37 triệu người; 2) Nhóm II: lao động trong khu vực tư nhân và Nhà nước, tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí cho người lao động 36,28 triệu người; 3) Nhóm 3: người ăn theo là vợ/chồng sống dựa vào thu nhập của người lao động thuộc nhóm II, tham gia chế độ hưu trí quốc gia 11,24 triệu người.
Mức đóng và nguồn quỹ: Mức đóng của nhóm I là 13.300 yên/tháng, từ 4/2005 tăng mỗi năm 280 yên để đạt mức 16.900 yên/tháng vào năm 2017; mức đóng của nhóm II là 13,934%, từ 10/2004 tăng mỗi năm 0,354% và sẽ đạt 18,30% vào năm 2017, số tiền đóng góp được chia đều, chủ sử dụng lao động đóng 50%, người lao động đóng 50%; Nhóm III không phải đóng phí, phí bảo hiểm của nhóm này sẽ được quỹ hưu trí cho người lao động chuyển sang quỹ hưu trí quốc gia. Nguồn quỹ hưu trí được hình thành từ đóng góp của người tham gia, người lao động, chủ sử dụng lao động và ngân sách nhà nước. Ngân sách Nhà nước hiện đang tài trợ 1/3 chi phí lương hưu cơ bản và dự kiến sẽ tăng lên 1/2 vào năm 2009.
Phúc lợi: Tổng số người hưởng phúc lợi là 30,76 triệu người, với số tiền là 42,322 nghìn tỷ yên. Người tham gia theo quy định sẽ được nhận lương hưu cơ bản khi 65 tuổi với thời gian tham gia bảo hiểm từ 25 năm trở lên. Người tham gia bảo hiểm có thể nhận lương hưu sớm từ 60 đến 64 tuổi, nhưng mức lương hưu sẽ bị giảm đi bằng 0,5% nhân với số tháng nhận lương hưu sớm, ngược lại nếu nhận lương hưu muộn từ 66 đến 70 tuổi mức lương hưu sẽ tăng lên là 0,7% nhân với số tháng nhận muộn. Các chế độ trợ cấp khi tham gia bảo hiểm hưu trí gồm: lương hưu, trợ cấp thương tật và trợ cấp tuất. Với các đối tượng thuộc nhóm I và III được nhận trợ cấp lương hưu cơ bản, trợ cấp thương tật cơ bản, trợ cấp tuất cơ bản. Trợ cấp thương tật, trợ cấp tuất được tính trên cơ sở lương cơ bản và được chia làm nhiều mức. Người lao động tham gia chế độ bảo hiểm cho người lao động, sẽ được nhận trợ cấp lương hưu cơ bản và lương hưu tính trên cơ sở tiền lương đóng bảo hiểm. Từ tháng 4/2002 lương hưu cơ bản cho người có thời gian tham gia bảo hiểm 40 năm là 66.208 yên/tháng.

Chế độ BHYT
Luật BHYT được ban hành lần đầu tiên vào năm 1922, sau đó lần lượt các Luật BHYT quy định riêng cho từng đối tượng được hình thành như: Luật BHYT quốc gia năm 1938, Luật BHYT cho người lao động, Luật BHYT cho ngư dân năm 1939. Đến năm 1961, Nhật Bản hoàn thành việc thực hiện BHYT toàn dân.
Chế độ BHYT về cơ bản được chia ra làm 2 loại hình chính: 1) BHYT cho người lao động, thực hiện theo nơi làm việc; 2) BHYT Quốc gia (BHYT cộng đồng), thực hiện theo vị trí địa lý.
Đối tượng: tổng số 126,739 triệu người, trong đó: 50,297 triệu người tham gia BHYT quốc gia gồm nông dân, lao động cá thể, thợ mộc…; 76,442 triệu người tham gia BHYT cho người lao động gồm lao động tại các cơ quan, tổ chức Nhà nước, tư nhân.
Mức đóng và nguồn quỹ BHYT: Nguồn quỹ BHYT được hình thành từ đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và tài trợ của Nhà nước. Mức đóng góp chung cho người cho người lao động là 8,2%, ngư dân 9,1%, người lao động tại các hiệp hội từ 3% đến 9,5%, người lao động làm việc theo ngày 1,31 lần mức tiền công trung bình hàng ngày nhân với tỷ lệ đóng góp chung, BHYT cộng đồng là 530.000 yên/năm/hộ gia đình. Trách nhiệm đóng góp phí BHYT được chia đều, người lao động đóng một nửa, chủ sử dụng lao động đóng một nửa, nhưng phần đóng góp của người lao động tham gia các quỹ hiệp hội BHYT không được vượt quá 4,5% tiền công.
Đối với quỹ BHYT cho người lao động do Chính phủ quản lý ngân sách Nhà nước hỗ trợ: chi phí quản lý, 13,0% chi phí của các dịch vụ y tế, trợ cấp thương tật, ốm đau, thai sản, dịch vụ y tế chi phí cao, 16,4% cho các dịch vụ y tế cho người già và bảo hiểm chăm sóc dài ngày. Đối với BHYT cộng đồng, Chính phủ tài trợ 50% chi phí dịch vụ y tế cho quỹ BHYT của chính quyền địa phương, 47% quỹ BHYT của hiệp hội. Số tiền giảm phí đóng góp cho một số đối tượng của quỹ BHYT cộng đồng được hỗ trợ 50% từ ngân sách nhà nước, 25% từ ngân sách địa phương và 25% từ ngân sách của thành phố.
Phúc lợi BHYT: Người tham gia BHYT và người phụ thuộc được nhận phúc lợi BHYT trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, sinh con và chết. Phúc lợi theo luật định gồm có: các dịch vụ y tế được hưởng tại các cơ sở y tế và phúc lợi bằng tiền do quỹ BHYT chi trả. Các dịch vụ y tế được cung cấp bao gồm: khám bệnh, cung cấp thuốc và vật tư y tế, điều trị trong các trường hợp cấp cứu, phẫu thuật và các điều trị y khoa khác, chăm sóc y tế tại nhà, nằm viện và điều dưỡng. Người tham gia BHYT được tự do lựa chọn nơi khám chữa bệnh và phải thực hiện cùng chi trả chi phí cho các dịch vụ y tế nhận được. Mức cùng chi trả hiện nay là 30% và có áp dụng mức thấp hơn cho một số đối tượng như: 20% đối với trẻ em dưới 3 tuổi, với hộ gia đình có mức thu nhập nhất định theo quy định, 10% đối với người già từ 70 tuổi trở lên. Các phúc lợi bằng tiền được quỹ BHYT chi trả cho người tham gia BHYT bao gồm: trợ cấp ốm đau và tai nạn lao động, trợ cấp thai sản, trợ cấp sinh con, chi phí tang lễ, trợ cấp tuất, chi phí vận chuyển bệnh nhân. Mức trợ cấp được xác định theo tỷ lệ % tiền lương, tiền công hoặc mức cố định, và có sự khác nhau giữa các loại hình BHYT. Riêng đối tượng tham gia BHYT cộng đồng chỉ được hưởng các loại phúc lợi bằng tiền là: trợ cấp sinh con, chi phí tang lễ, chi phí vận chuyển bệnh nhân.
Phương thức thanh toán chi phí y tế: với hệ thống nhiều quỹ BHYT, để thuận tiện, việc thanh toán các chi phí khám chữa bệnh BHYT được thực hiện thông qua cơ quan thứ ba là các Tổ chức “Giám định và thanh toán chi phí BHYT”. Các cơ quan này có trách nhiệm tiếp nhận đề nghị thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT từ các cơ sở y tế, kiểm tra và tính toán chi phí, thông báo số tiền phải thanh toán đến các quỹ BHYT, đồng thời chuyển tiền cho các cơ sở y tế. Chi phí y tế được thanh toán cho các cơ sở y tế được kết hợp giữa 2 phương thức “phí dịch vụ” và “khoán trọn gói”.

Bảo hiểm việc làm
Luật Bảo hiểm việc làm có hiệu lực từ 01/04/1975 thay thế cho Luật Thất nghiệp ban hành năm 1947. Bảo hiểm việc làm là một chế độ bảo hiểm bắt buộc do Chính phủ quản lý liên quan đến việc làm một cách toàn diện, cung cấp các phúc lợi bao gồm: 1) Các trợ cấp thất nghiệp: trợ cấp tìm việc; trợ cấp xúc tiến việc làm; trợ cấp đào tạo và dạy nghề; trợ cấp tiếp tục làm việc; 2) Ba loại dịch vụ: a) ổn định việc làm: ngăn ngừa thất nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc, tăng cơ hội việc làm; b) Phát triển nguồn nhân lực: phát triển, trau dồi năng lực cho người lao động bằng việc xây dựng và quản lý các cơ sở đào tạo; c) Phúc lợi xã hội cho người lao động: tư vấn, dịch vụ hỗ trợ tìm việc làm, tuyển dụng.
Tỷ lệ đóng góp chung được tính theo lương là 1,75%, trong đó 1,4% dành chi cho các trợ cấp thất nghiệp (chủ sử dụng đóng 50%, người lao động đóng 50%), 0,35% dành chi cho 3 loại dịch vụ (chủ sử dụng lao động đóng 100%). Một số ngành có tỷ lệ đóng góp cao hơn mức chung như: nông nghiệp, lâm nghiệp là 1,95%, xây dựng 2,05% và lao động theo ngày được tính theo mức cố định. Nguồn quỹ được hình thành từ đóng góp và hỗ trợ của Nhà nước: đối với lao động chung, lao động ngắn hạn theo thời vụ ngân sách hỗ trợ 1/4 chi phí tìm việc làm, và có thể tăng lên 1/3 khi thiếu quỹ; đối với lao động làm việc theo ngày ngân sách tài trợ 1/3 và có thể giảm xuống 1/4 khi quỹ có số dư. Nhà nước tài trợ 1/4 chi phí tiếp tục việc làm.

Bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động (WACI)
Luật Bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động được ban hành vào năm 1947. WACI cung cấp bảo hiểm cho các tai nạn vì các lý do thương tật, ốm đau, tàn tật, chết của người lao động tại nơi làm việc hoặc trên đường đi đến nơi làm việc. Đến 3/2001 đã có khoảng 2,7 triệu đơn vị thực hiện WACI và bảo hiểm cho khoảng 48.550 nghìn lao động.
Phúc lợi của chế độ WACI được chia làm hai phần: 1)Phúc lợi thương tật khi làm việc và trên đường đi đến nơi làm việc gồm: bồi thường chi phí y tế, trợ cấp 1 lần do mất khả năng lao động tạm thời, bồi thường thương tật và ốm đau, bồi thường tàn tật, trợ cấp tuất, mai táng phí, trợ cấp chăm sóc dài ngày; Phúc lợi phòng tránh bệnh tật gồm kiểm tra y tế và hướng dẫn về y tế sau khi kiểm tra; 2) Các dịch vụ phúc lợi lao động: dịch vụ phục hồi chức năng, dịch vụ hỗ trợ cho người bị thương tật, dịch vụ bảo đảm an toàn và điều dưỡng; dịch vụ bảo đảm điều kiện làm việc.
Phí bảo hiểm do chủ sử dụng lao động đóng góp và được thu cùng với phí bảo hiểm việc làm dưới hình thức thống nhất là “Phí bảo hiểm lao động”. Tỷ lệ đóng góp được phân loại theo ngành nghề trên cơ sở tần suất tai nạn lao động và một số yếu tố khác. Hiện tại tỷ lệ thấp nhất là 0,55% (ngành thương mại) và cao nhất 13,3% (xây dựng trạm thủy điện, đường ống). Tỷ lệ đóng góp được chia thành 30 mức cho 52 ngành.

Các chế độ khác
– Trợ cấp nuôi con: Luật Trợ cấp nuôi con được ban hành 1/1972 với mục tiêu giúp ổn định cuộc sống gia đình, đóng góp vào việc phát triển mạnh khỏe cả về trí tuệ và thể chất cho trẻ em là những người tiếp tục thế hệ sau. Trợ cấp nuôi con được cung cấp đến khi trẻ đi học tiểu học (6 tuổi), cho người lao động có 3 người ăn theo với thu nhập là 4.150.000 yên/năm đến mức 5.740.000 yên/năm. Mức trợ cấp cho con thứ nhất và con thứ 2 là 5.000 yên/tháng, từ con thứ 3 là 10.000 yên/tháng. Đồng thời, chế độ cung cấp các trợ giúp và hỗ trợ cho các cơ sở xúc tiến phát triển trí tuệ và thể chất cho trẻ em. Nguồn quỹ được hình thành từ hỗ trợ của chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương và từ đóng góp của chủ sử dụng lao động cho các quỹ bảo hiểm hưu trí.
– Bảo hiểm chăm sóc dài ngày: Chế độ bảo hiểm chăm sóc dài ngày được giới thiệu vào năm 1997 và được thực hiện vào 4/2000, là một chương trình toàn diện với phúc lợi xã hội, chữa bệnh và chăm sóc y tế cho người già. Cơ quan thực hiện bảo hiểm chăm sóc dài ngày là chính quyền các thành phố.
Đối tượng tham gia được phân làm 2 loại: 1) Người già từ 65 tuổi trở lên; 2) Người từ 40 đến 64 tuổi đang tham gia BHYT Nhà nước.
Các phúc lợi được hưởng gồm: chăm sóc hàng ngày tại nhà (thăm khám, tắm, chăm sóc bệnh nhân), chăm sóc tại cơ sở điều dưỡng hàng ngày, chăm sóc ngắn ngày tại viện dưỡng lão, chăm sóc dài ngày tại viện dưỡng lão.
Nguồn tài chính: nhóm 1 được khấu trừ từ lương hưu và trợ cấp dưỡng lão, chính quyền thành phố hỗ trợ đóng góp cho trường hợp mức lương hưu dưới 180.000 yên/năm; nhóm 2 do các quỹ BHYT đóng góp. Trách nhiệm đóng góp vào quỹ được phân chia: 18% từ nhóm 1, 32% từ nhóm 2 và ngân sách Nhà nước 50% (ngân sách Trung ương 25%, ngân sách địa phương 12,5%, thành phố 12,5%).
– Chăm sóc y tế cho người già: Luật Chăm sóc y tế cho người già được thực hiện từ 8/1982 với mục tiêu cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, chăm sóc sức khỏe, chia sẻ chi phí y tế của người già cho số dân còn lại, đồng thời tăng sức khỏe của người dân, xúc tiến phúc lợi xã hội cho người già. Đối tượng là những người tham gia BHYT tuổi trên 75 tuổi hoặc từ 65 đến 75 tuổi nằm liệt giường cần được chăm sóc y tế. Chi phí chăm sóc y tế cho người già được hình thành từ đóng góp của các quỹ BHYT và 1/3 từ ngân sách Trung ương, 1/6 từ ngân sách của tỉnh, thành phố. Đến 9/2002 tỷ lệ đóng góp là 70% từ các quỹ BHYT, 30% từ ngân sách. Từ 10/2002 ngân sách tăng lên đều đặn và đạt 50% vào 10/2006./.

Chú thích:

* Outline of Social Insurance in Japan – Yoshida Finance & Social Security Law Institute.
* Số liệu tính đến 31/3/2003.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 5 NĂM 2007

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: