HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

NGUYỄN XUÂN NGA – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

An sinh xã hội là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính sách xã hội và hoạt động xã hội, nét nổi bật phổ biến mang tính quy luật của hệ thống An sinh xã hội là Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, người dân cùng chia sẽ trách nhiệm xã hội đối với mọi thành viên trong xã hội khi họ gặp rủi ro trong cuộc sống và bảo vệ an toàn cho họ. Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong chi phối và quyết định sự phát triển của cả hệ thống An sinh xã hội. Nhà nước tạo môi trường hành chính và pháp luật, đồng thời cùng các tổ chức chính trị – xã hội và các doanh nghiệp tham gia thực hiện các chương trình các chính sách, các chương trình An sinh xã hội đặc biệt trợ giúp xã hội và người nghèo.

Quan niệm về an sinh xã hội

Theo ILO “An sinh xã hội” là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội là mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động, tuổi già hoặc tử vong. An sinh xã hội còn cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em.

Như vậy, mục tiêu của An sinh xã hội là hướng tới tất cả các thành viên trong xã hội được bảo vệ an toàn trước rủi ro, không để tình trạng họ rơi vào cảnh bần cùng hóa; tạo nên một xã hội hài hòa, công bằng, phát triển ổn định và bền vững.
Để đạt mục tiêu chung hệ thống An sinh xã hội cần tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản sau:
– Hướng tới mọi thành viên xã hội được bảo vệ an toàn cho cuộc sống của họ khi suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp hoặc bị các rủi ro khác mà rơi vào cảnh nghèo khó, bần cùng.
– Nguồn thu tài chính chủ yếu từ ngân sách nhà nước, từ doanh nghiệp, từ người lao động, từ các nhà hảo tâm và thực hiện cơ chế chia sẻ trách nhiệm xã hội, lấy số đông bù số ít; lấy thu bù chi và đảm bảo tính bền vững tài chính.
– Nhà nước phải là người bảo trợ cho hệ thống An sinh xã hội khi hệ thống An sinh xã hội gặp rủi ro về tài chính; đồng thời thực hiện vai trò quản lý Nhà nước để hệ thống An sinh xã hội hoạt động có hiệu quả và tuân thủ đúng pháp luật.
– Hệ thống An sinh xã hội hoạt động liên tục, cấu trúc tổ chức thực hiện mang tính chuyên nghiệp và hợp lý.

Nhận thức về hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta

Mục tiêu của định hướng XHCN trên lĩnh vực xã hội là tạo ra những điều kiện phục vụ con người ngày càng tốt hơn, phát triển toàn diện hơn, và đảm bảo sự bình đẳng, công bằng xã hội tiến tới sự đồng thuận về xã hội, với những nội dung cơ bản ở nước ta hiện nay là: Đảm bảo cho mọi người đến tuổi lao động có việc làm và làm phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình. Không ngừng nâng cao đời sống tinh thần vật chất; cải thiện điều kiện sống và sinh hoạt cho nhân dân. Xây dựng và phát triển các quan hệ xã hội tốt đẹp. Đảm bảo trật tự, an toàn, an ninh xã hội. Khắc phục dần sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động chân tay và lao động trí óc. Hạn chế sự phân hóa giàu nghèo trong các tầng lớp dân cư do lợi thế hoặc do làm ăn bất chính. Khắc phục tác động của mặt trái cơ chế thị trường. Chăm lo đời sống cho những người có công, thương binh, gia đình liệt sĩ, các nạn nhân chiến tranh, những vùng dân nghèo, những người gặp rủi ro bất hạnh trong cuộc sống.
ở nước ta hiện nay còn có quan niệm cho rằng, muốn tăng trưởng kinh tế nhanh phải chấp nhận phân hóa giàu nghèo. Có tăng trưởng kinh tế mới thực hiện được chính sách xã hội. Mặt khác, lại có quan niệm rằng chế độ ta là chế độ XHCN, chính sách xã hội cần đi trước chính sách kinh tế. Trong điều kiện kinh tế thấp mà giải quyết vấn đề xã hội tốt thì mới thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ XHCN so với CNTB.
Từng quan niệm nêu trên đều có nhân tố hợp lý nhất định nhưng còn phiến diện. Chính sách xã hội và chính sách kinh tế có mối quan hệ biện chứng, vừa là điều kiện vừa là mục tiêu. Tư tưởng cơ bản của chính sách xã hội hiện nay là gắn việc phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế với từng bước xóa bỏ bất công, thực hiện tiến bộ, công bằng, bình đẳng, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội làm cho mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: “Qua thực tiễn mười năm đổi mới, chúng ta nhận thức rõ là không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước đi và suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn với tiến bộ và công bằng xã hội”.
An sinh xã hội là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính sách xã hội và hoạt động xã hội, nét nổi bật phổ biến mang tính quy luật của hệ thống An sinh xã hội là Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, người dân cùng chia sẽ trách nhiệm xã hội đối với mọi thành viên trong xã hội khi họ gặp rủi ro trong cuộc sống và bảo vệ an toàn cho họ. Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong chi phối và quyết định sự phát triển của cả hệ thống An sinh xã hội. Nhà nước tạo môi trường hành chính và pháp luật, đồng thời cùng các tổ chức chính trị – xã hội và các doanh nghiệp tham gia thực hiện các chương trình các chính sách, các chương trình An sinh xã hội đặc biệt trợ giúp xã hội và người nghèo.
Từ sự hình thành và phát triển hệ thống An sinh xã hội ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử, có thể rút ra khái niệm chung nhất, bao quát nhất, đầy đủ nhất về khái niệm An sinh xã hội là “An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế – xã hội làm họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan mà rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thông qua các hệ thống mạng lưới y tế về BHXH, BHYT, trợ giúp đặc biệt, trợ giúp xã hội và người nghèo”.

Phương hướng và giải pháp cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về An sinh xã hội ở nước ta

Hệ thống An sinh xã hội hiện đại phải gắn chặt với quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong từng bước đi, từng giai đoạn cụ thể. Nền kinh tế thị trường bản thân hàng ngày tạo ra những động lực cho sự phát triển kinh tế, song cũng bộc lộ những mặt hạn chế gây nên các vấn đề xã hội bức xúc. Việc nghiên cứu, tìm hiểu, thiết lập hệ thống An sinh xã hội phù hợp để đối phó với những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường.

Phương hướng
Nghiên cứu ban hành hệ thống pháp luật về An sinh xã hội, bao gồm: Luật Trợ giúp đặc biệt (người có công); Luật Bảo trợ xã hội; Luật BHYT nhằm đảm bảo việc tổ chức thực hiện chính sách An sinh xã hội trong phạm vi cả nước và bảo đảm cho mọi người dân có cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ của hệ thống An sinh xã hội một cách thuận tiện, công bằng và có chất lượng.
Về trợ giúp đặc biệt (người có công): Hiện tại, nước ta có trên 8 triệu người được hưởng chế độ ưu đãi trong đó trợ cấp ưu đãi hàng tháng với xấp xỉ 1,5 triệu người. Hệ thống chính sách trợ giúp đặc biệt còn thiết kế phức tạp, nhiều tầng, nhiều nấc, quá nhiều chế độ rất khó trong khâu quản lý, giám sát, xét duyệt đến việc chi trả trợ cấp.
Việc xây dựng Luật Trợ giúp đặc biệt hướng tới đảm bảo cho các gia đình chính sách có mức sống bằng mức sống trung bình so với người dân trên địa bàn cư trú. Điều chỉnh kịp thời chế độ trợ cấp khi tiền lương tối thiểu thay đổi (hoặc thay đổi mức chuẩn trợ cấp khi chỉ số giá tiêu dùng tăng, tốc độ GDP tăng). Đặc biệt quan tâm và có chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của đời sống xã hội. Quan tâm đến một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam; chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến. Pháp luật trợ giúp xã hội đặc biệt cũng thể hiện được trách nhiệm của mọi người dân, cộng đồng xã hội đối với người có công. Tạo được phong trào xã hội hóa giúp đỡ người có công.
Về bảo trợ xã hội: Trong điều kiện môi trường sinh thái ngày càng bị hủy hoại, thiên tai ngày một nhiều, nhất là hạn hán, lụt bão, động đất dẫn đến đối tượng bảo trợ xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng. Thực tế hiện nay cho thấy, mức trợ cấp còn thấp so với mức sống và những thiệt hại về tài sản và mất nguồn thu nhập của người dân gánh chịu. Mặt khác, các đối tượng bảo trợ xã hội tiếp cận trực tiếp với các trợ cấp chưa được nhiều, còn phải qua nhiều khâu trung gian gián tiếp. Chất lượng thống kê, báo cáo từ các ngành, các địa phương chưa kịp thời và chưa chính xác.
Luật Bảo trợ xã hội không chỉ tập trung cho việc trợ cấp bằng tiền mặt và hiện vật mà điều quan trọng là quan tâm hơn về chính sách, chế độ trợ giúp khác về y tế, giáo dục, dạy nghề tạo việc làm phải đảm bảo cứu trợ kịp thời, sớm ổn định đời sống và vật chất của nhân dân vùng bị thiệt hại do thiên tai, huy động được sức mạnh của toàn dân. Nâng cao vai trò và trách nhiệm của các ngành, địa phương trong việc thống kê, báo cáo số liệu, kiểm tra, giám sát việc thực hiện ở cơ sở.
Nghiên cứu xác định đối tượng bảo trợ xã hội phù hợp với yêu cầu thực tiễn như: Người có thu nhập thấp, người mất việc làm, phụ nữ đơn thân nuôi con… Tiêu chí xác định cần mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn nhằm thực sự bao phủ hết đối tượng có hoàn cảnh khó khăn tạo sự an toàn xã hội thông qua xây dựng những tiền đề tốt để phát triển nhân cách cá nhân phù hợp với thị trường lao động. Nhà nước chỉ nên quy định mức tối thiểu không được phép trợ cấp thấp hơn và cho phép địa phương có quyền chủ động xác định mức cụ thể và khuyến khích các địa phương nâng cao mức trợ cấp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội.
Về BHYT: Phương thức hoạt động BHYT là sự điều tiết theo chiều dọc và chiều ngang, công cụ để thực hiện phương thức này là sự đoàn kết tương trợ cộng đồng cùng chia sẽ rủi ro. Sự điều tiết xã hội phải được gắn liền với nguyên tắc BHYT bắt buộc bằng pháp luật.
Việc xây dựng Luật BHYT phải tập trung xây dựng khung chế độ BHYT cơ bản nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi cho mọi người bệnh phù hợp với khả năng đóng góp của toàn dân. Mọi người dân khi mắc bệnh đều được KCB bằng các phương pháp và các phương tiện y tế cần thiết giúp người bệnh sớm trở lại trạng thái ban đầu. Nâng cao trách nhiệm của người bệnh, cơ quan y tế và trách nhiệm Nhà nước trong việc khám chữa bệnh.
Hoạt động BHYT chịu sự tác động của mối quan hệ cung – cầu thị trường sức khỏe. Do vậy, trong những năm tới và được thể hiện trong Luật BHYT là Nhà nước tác động trực tiếp vào thị trường y tế theo hướng đa dạng các nguồn vốn và các hình thức đầu tư. Khuyến khích phát triển các cơ sở y tế tư nhân, trong đó Nhà nước có trách nhiệm giám sát điều kiện vật chất, kỹ thuật và trình độ chuyên môn cần thiết. Thuốc men là hàng hóa đặc biệt trên thị trường sức khỏe, do vậy Luật BHYT phải thể hiện được vai trò Nhà nước trong việc kiểm soát bình ổn giá cả, chống độc quyền nhưng lại tăng cường năng lực cạnh tranh trong việc cung ứng thuốc.

Đổi mới cơ chế, chính sách giảm nghèo
Trước mắt từ nay đến năm 2010 vẫn cần thiết duy trì chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo để huy động nguồn lực tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc của người nghèo, vùng nghèo tạo cho họ những điều kiện cơ bản để hòa nhập cộng đồng và phát triển toàn diện. Về lâu dài không nên duy trì quá lâu chương trình mục tiêu tạo ra tâm lý ỷ lại. Cách tiếp cận khoa học hơn là thay thế hỗ trợ này bằng phát triển An sinh xã hội hiện đại theo hướng luật hóa và việc quản lý bằng hệ thống văn bản pháp luật. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 11% vào năm 2010. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất tinh thần nhóm hộ nghèo nhằm hạn chế mức độ chênh lệch giàu nghèo về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn. Để thực hiện định hướng trên cần phải: Đẩy mạnh các hoạt động trợ giúp người nghèo phát triển sản xuất, tạo và tăng nhanh thu nhập vượt nghèo vươn lên khá giả. Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ công bằng và chất lượng hơn, đặc biệt về y tế, giáo dục, nước sạch và nhà ở. Nâng cao năng lực tham gia của người dân và xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá hiệu quả. Huy động sự tham gia, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị.

Một số giải pháp
Tiếp tục nghiên cứu làm rõ những vấn đề về mặt lý luận, có hệ thống làm cơ sở cho việc đổi mới hệ thống An sinh xã hội ở Việt Nam, làm căn cứ cho việc xây dựng Luật An sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Làm rõ mối liên hệ giữa trợ cấp xã hội, trợ cấp đặc biệt với tiền lương tổi thiểu, mức sống trung bình của dân cư.
Cải cách chế độ lương hưu, trợ cấp cho phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và mức sống dân cư: Lương hưu và trợ cấp xã hội chỉ điều chỉnh khi chỉ số giá sinh hoạt tăng làm cho tiền lương hưu thực tế giảm sút hoặc do mức tăng trưởng kinh tế GDP có điều kiện để cải thiện mức sống chứ không liên quan đến việc điều chỉnh mức lương tối thiểu hoặc thay đổi hệ thống tiền lương (thang lương, bảng lương, hệ số mức lương) của người đương chức.
Khung pháp luật của hệ thống An sinh xã hội cần tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản là: Nguyên tắc đoàn kết mang tính đạo lý, nhấn mạnh ý nghĩa của sự trách nhiệm lẫn nhau, đồng cảm, đồng thuận về lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và người dân.
Đổi mới tổ chức và cán bộ làm công tác An sinh xã hội: Phải xem công tác An sinh xã hội là một nghề mang tính chuyên nghiệp. Cần có chức danh nghề nghiệp và được thừa nhận cho cán bộ làm công tác này. Có hệ thống thang, bảng lương riêng, có chế độ phụ cấp hoặc cơ chế khuyến khích cho những người làm ở những nơi khó khăn và ở những môi trường công tác phức tạp. Có chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Thành lập hội làm công tác xã hội(chú trọng An sinh xã hội) ở cấp quốc gia, cấp khu vực ASEAN và nhiều khu vực khác trên thế giới.
Tăng cường công tác thông tin, ấn phẩm về An sinh xã hội sâu rộng khắp các vùng nhất là ở nông thôn, miền núi. Giới thiệu các kinh nghiệm hay, các mô hình hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực này để nhân rộng địa hình, biểu dương khen thưởng, học tập.
Khuyến khích nhiều đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, BHYT tự nguyện. Giải pháp để mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, BHYT tự nguyện là cần tuyên truyền để người dân thấy rõ lợi ích tự nguyện tham gia. Mặt khác, Nhà nước cần thể hiện vai trò “ bà đỡ” về chính sách, có hướng dẫn, có cơ chế thoáng hơn, ưu ái hơn. Mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, BHYT tự nguyện chính là góp phần vào việc “bao phủ” hệ thống An sinh xã hội cho tất cả thành viên xã hội.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 08 (104) NĂM 2007

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: