Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÀN VỀ CÁC QUI ĐỊNH XỬ LÝ HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 1995 VÀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI {1}

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Khi một giao dịch dân sự không thoả mãn đầy đủ bốn điều kiện quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như Điều 113[2] của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) bị coi là vô hiệu và vấn đề đặt ra là phải xử lý hậu quả của giao dịch. Việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể tham gia. Bởi vậy, nếu không giải quyết thoả đáng sẽ không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể và dẫn đến sự mất ổn định trong giao lưu dân sự. Bài viết này xin bàn thêm về các quy định hiện hành xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu trong Bộ luật dân sự năm 1995 và dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) đang lấy ý kiến của đông đảo các tầng lớp nhân dân và sẽ được thông qua vào tháng 5 năm nay.

1. Về cơ cấu của phần Giao dịch dân sự

Phần Giao dịch dân sự được quy định từ Điều 130 đến Điều 147, Chương V, Phần thứ nhất của Bộ luật dân sự năm 1995 và từ Điều 112 đến Điều 129 của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi). Trong Bộ luật dân sự năm 1995, cơ cấu của phần Giao dịch dân sự là: Những vấn đề chung về giao dịch dân sự (Điều 130-135); các loại giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 136-144); thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 145); xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 146-147). Trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hiện nay, cơ cấu này không thay đổi. Cụ thể: Những vấn đề chung về giao dịch dân sự (Điều 112-117); các loại giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 118-126); thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 127); xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 128-129). Xét một cách khái quát, bố cục của chương Giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hợp lý . Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng hơn, cơ cấu của phần này vẫn bộc lộ sự bất hợp lý.

Như đã chỉ ra ở trên, các loại giao dịch dân sự vô hiệu được quy định từ Điều 136 đến Điều 144 của Bộ luật dân sự năm 1995 và từ Điều 118 đến Điều 126 của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi). Chỉ những quy định về các loại giao dịch dân sự vô hiệu đã thể hiện sự hoàn thiện rõ rệt của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) so với Bộ luật dân sự năm 1995. Ví dụ: quy định mới về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 125 của dự thảo); các định nghĩa cụ thể trong các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 119 của dự thảo). Về phần này, điểm chung của Bộ luật dân sự năm 1995 và dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) là: trong mỗi điều luật quy định về một trường hợp vô hiệu, bên cạnh các quy định khác (thông thường định nghĩa về loại vô hiệu đó) đều có quy định về xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Ví dụ: “Một người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, thì có thể yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu. Người nào biết hoặc phải biết mình xác lập giao dịch với người không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình mà vẫn xác lập, thì phải bồi thường thiệt hại” (Điều 143-Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 124-dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)). Quy định như vậy có thể dẫn đến cách hiểu rằng: toàn bộ các điều từ Điều 136 đến Điều 144 của Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như từ Điều 118 đến Điều 126 của dự thảo đã quy định đầy đủ về giao dịch dân sự vô hiệu và cách thức xử lý cụ thể cho từng trường hợp vô hiệu. Hay nói cách khác, khi giao dịch dân sự vô hiệu, chỉ cần áp dụng các quy định cụ thể này là đủ mà không nhất thiết phải áp dụng các điều sau đó là Điều 146 và Điều 147 của Bộ luật dân sự, Điều 128 và Điều 129 của dự thảo. Cách hiểu này có thể dẫn đến hậu quả xấu là có giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không đặt ra vấn đề xử lý hậu quả. Bởi vì, có những điều luật chỉ quy định về trường hợp vô hiệu cụ thể mà không quy định phương thức xử lý hậu quả. Ví dụ, Điều 138 của Bộ luật dân sự, Điều 120 của dự thảo về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.

Bởi vậy, nên áp dụng phương pháp diễn dịch để xác định cơ cấu các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu. Nên quy định từ nguyên tắc xử lý chung khi giao dịch dân sự vô hiệu, sau đó mới quy định cho các trường hợp vô hiệu cụ thể. Cụ thể là:

Chương V- Phần thứ nhất của Bộ luật dân sự cũng như Chương VI- Phần thứ nhất của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) về giao dịch dân sự nên cơ cấu lại như sau: Đảo các Điều 146 và 147 của Bộ luật dân sự, các Điều 128 và 129 của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) lên ngay sau Điều 136 của Bộ luật dân sự, Điều 118 của dự thảo (định nghĩa về giao dịch dân sự vô hiệu); tiếp đó mới đến các Điều 137-145 của Bộ luật dân sự và trong dự thảo là Điều 119-127. Cơ cấu này khắc phục được những hạn chế kể trên, giúp hiểu vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu logic và thống nhất hơn. Bởi vì, ngay sau định nghĩa về giao dịch dân sự vô hiệu, sẽ trả lời được ngay câu hỏi: về nguyên tắc, phải xử lý hậu quả như thế nào khi giao dịch vô hiệu. Trong các trường hợp vô hiệu cụ thể mà không quy định về hậu quả pháp lý có nghĩa là áp dụng quy định chung. Mặt khác, trong từng trường hợp vô hiệu cụ thể, xuất phát từ đặc điểm của loại vô hiệu đó mà có quy định xử lý riêng cho phù hợp.

2. Về nội dung các quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Như đã chỉ ra ở trên, việc xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định từ Điều 137-144, Điều 146-147 của Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 118-126, Điều 128-129 của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi). Trong đó, Điều 146-Bộ luật dân sự, Điều 128-dự thảo quy định hậu quả pháp lý chung; từ Điều 137 đến Điều 144 của Bộ luật dân sự, Điều 147 của Bộ luật dân sự, Điều 127 của dự thảo quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu; từ Điều 118 đến Điều126 của dự thảo quy định từng trường hợp vô hiệu cụ thể.Theo Bộ luật dân sự, khi giao dịch dân sự vô hiệu hậu quả pháp lý như sau (Điều 146):

– Không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập;

– Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trước tiên hoàn trả bằng hiện vật, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì tính thành tiền để trả;

– Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường;

– Tuỳ theo tính chất của từng giao dịch dân sự vô hiệu mà tài sản, hoa lợi, lợi tức có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật.

Còn dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi, bổ sung như sau (Điều 128):

– Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập;

– Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng thành tiền;

– Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường;

Thứ nhất, về hậu quả các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trước tiên hoàn trả bằng hiện vật, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì tính thành tiền để trả.

Về hậu quả pháp lý này, quy định trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hiện nay giữ nguyên quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995. Chúng tôi thấy có một số vấn đề cần xem xét thêm như sau:

– Thực tế ở nước ta cho thấy, việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận chưa thực sự đảm bảo được lợi ích của các chủ thể. Điển hình đối với những giao dịch có đối tượng là nhà, quyền sử dụng đất. Ví dụ: A chuyển nhượng cho B một diện tích đất ở, khi hợp đồng bị tuyên là vô hiệu, B phải trả đất cho A, A phải trả tiền cho B. Thực tế cho thấy rằng, nguyên đơn hầu hết là bên chuyển nhượng. Đối với bên chuyển nhượng, vệc lấy lại đất là thoả đáng. Nhưng với bên được chuyển nhượng, việc phải trả lại đất cho bên bán là một tổn thất rất lớn với họ. Cho dù được nhận lại số tiền đã bỏ ra trước đây, họ không bao giờ mua được diện tích đất như vậy nữa vì những năm qua giá trị quyền sử dụng đất ở nước ta tăng nhanh chóng mặt. Hơn nữa, tỉ lệ lạm phát lại cao. Trong trường hợp bên chuyển nhượng có lỗi trong việc xác lập giao dịch này, bên nhận chuyển nhượng được bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khoản bồi thường cũng không bao giờ bù đắp được mất mát thực tế của họ do giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu.

– Việc xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu càng trở nên phức tạp hơn trong trường hợp bên nhận tài sản đã cải tạo, sửa chữa tài sản đó hay nói cách khác làm tăng giá trị của tài sản. Nếu bên chuyển giao tài sản phản đối hoặc cơ quan có thẩm quyền không cho phép nhưng bên nhận tài sản vẫn làm tăng giá trị tài sản, bên nhận tài sản phải chịu phần tăng giá trị này khi hoàn trả tài sản. Tuy nhiên, nếu bên nhận tài sản không có lỗi thì giải quyết thế nào nếu bên đã giao tài sản không chịu nhận tài sản mới hoặc có nhận nhưng không thanh toán phần giá trị tăng thêm? Không có quy định về vấn đề này. Ví dụ: Sau khi được A chuyển nhượng đất, B đã bỏ 3 tỷ đồng để xây dựng một biệt thự trên đất đó. Sau 20 năm, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa A và B bị Toà án có thẩm quyền tuyên bố vô hiệu. Chắc chắn rằng, việc phải trả lại đất cho A là một tổn thất tài sản rất lớn với B, gây xáo trộn cuộc sống của B. Nhưng điều đáng đáng bàn hơn cả là giải quyết như thế nào khi A không muốn nhận khu biệt thự trên đất đó mà chỉ muốn nhận lại đất? Trong thực tế, một số Toà án địa phương đã yêu cầu mỗi bên chịu một nửa giá trị tài sản phát sinh trên đất. Theo chúng tôi, giải quyết như vậy cũng chưa thoả đáng.

– Quy định tính thành tiền để hoàn trả trong trường hợp không thể hoàn trả hiện vật thực sự cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là tính giá hiện vật thành tiền tại thời điểm nào: thời điểm xác lập giao dịch hay thời điểm hoàn trả tài sản? Đối với những tài sản không thay đổi về giá từ thời điểm xác lập giao dịch đến thời điểm hoàn trả tài sản, vấn đề tính giá tài sản vào thời điểm nào không quan trọng. Tuy nhiên, với những tài sản có sự biến đổi về giá (có thể tăng hoặc giảm giá), việc xác định giá tài sản để tính thành tiền là mấu chốt vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của các bên. Thông thường, nếu giá tài sản tăng thì thiệt hại thuộc về bên mua, còn nếu giá tài sản giảm thì thiệt hại thuộc về bên bán.

Từ khi Bộ luật dân sự được ban hành năm 1995, đến năm 2003, Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình mới tháo gỡ được phần nào một số vướng mắc kể trên của Bộ luật dân sự về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu. Những hướng dẫn quan trọng phải kể đến là: “Nếu trong thời gian quản lý, bên mua đã cải tạo, sửa chữa nhà làm tăng giá trị gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất thì khi nhận lại nhà bên bán phải thanh toán cho bên mua phần giá trị tăng thêm đó, trừ trường hợp bên bán có phản đối hoặc cơ quan có thẩm quyền không cho phép mà bên mua vẫn cố tình cải tạo, sửa chữa nhà”. “Nếu các đương sự không thoả thuận được về giá nhà, giá trị quyền sử dụng đất và giá trị thiệt hại, thì Toà án yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc ra quyết định thành lập hội đồng định giá. Giá nhà và giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo giá thị trường chuyển nhượng tại địa phương nơi có nhà, đất đang tranh chấp đối với từng loại nhà, đất vào thời điểm xét xử sơ thẩm”. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là các hướng dẫn rất tích cực này của Nghị quyết lại chỉ áp dụng đối với hợp đồng mua bán nhà vô hiệu.

Thứ hai, về hậu quả phải bồi thường thiệt hại

Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) giữ nguyên quy định bồi thường thiệt hại khi giao dịch dân sự vô hiệu. Về cơ bản, quy định về các trường giao dịch dân sự vô hiệu phát sinh hậu quả bồi thường thiệt hại trong dự thảo giống như trong Bộ luật dân sự. Cụ thể là: giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 137-Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 119-dự thảo); giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 140-Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 121-dự thảo); giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 141-Bộ luật dân sự, Điều 122-dự thảo); giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ (Điều 142-Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 123-dự thảo); giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình (Điều 143-Bộ luật dân sự, Điều 124-dự thảo). Riêng đối với giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, Bộ luật dân sự quy định hậu quả bồi thường thiệt hại (Điều 139) nhưng dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) không quy định hậu quả bồi thường (Điều 125).

– Về phần này, dự thảo đã quy định cụ thể hơn so với Bộ luật dân sự. Ví dụ: khoản 2, Điều 120 của dự thảo quy định “Trong trường hợp có thiệt hại cho các bên, thì mỗi bên tự chịu phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu gây thiệt hại cho người thứ ba thì các bên phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường”. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đây vẫn là những quy định quá chung chung. Nên quy định thêm ở Điều 146, nay là Điều 128 của dự thảo: “Bên có lỗi làm cho giao dịch dân sự vô hiệu thì phải bồi thường. Trách nhiệm bồi thường được xác định theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại”.

– Quy định giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 125) của dự thảo hiện nay là một quy định hoàn toàn mới so với Bộ luật dân sự năm 1995. Quy định này xuất phát từ cơ sở “Hình thức của giao dịch chỉ là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, nếu pháp luật quy định” (khoản 2, Điều 112, dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)). Đây là quy định thể hiện bước tiến bộ, hoàn chỉnh hơn của dự thảo so với Bộ luật hiện hành; làm cho tính khả thi của pháp luật dân sự cao hơn và chắc chắn rằng khi được áp dụng sẽ bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích dân sự cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1, Điều 125 của dự thảo, vấn đề bồi thường thiệt hại không đặt ra khi giao dịch dân sự vô hiệu. Vậy trong trường hợp một bên lỗi làm cho giao dịch không tuân thủ quy định pháp luật về hình thức mà vô hiệu, gây thiệt hại cho bên kia của giao dịch có phải bồi thường thiệt hại không? Theo chúng tôi, nên quy định nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bên có lỗi trong trường hợp này.

Thứ ba, về hậu quả tịch thu tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức

Hậu quả này chỉ được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995, cụ thể trong các trường hợp vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (Điều 137) và vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ (Điều 142). Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi đã bỏ quy định về hậu quả này khi giao dịch dân sự vô hiệu.

– Theo chúng tôi, dự thảo bỏ quy định tịch thu tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu hoàn toàn hợp lý. Bởi vì một số lý do sau đây:

Trong thực tế, tính khả thi của quy định tịch thu tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức rất thấp; đặc biệt đối với trường hợp vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ. Thông thường, chỉ khi hành vi vi phạm cấu thành tội phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự (ví dụ tội lừa đảo theo quy định tại Điều 139-Bộ luật hình sự), việc tịch thu mới được đặt ra. Còn trong thực tế, hai bên chỉ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được và bên có lỗi trong việc xác lập giao dịch làm cho bên kia bị thiệt hại phải bồi thường.

Đối với giao dịch vô hiệu không cần áp dụng biện pháp tịch thu, vì quyền lợi của bên bị vi phạm đã được đáp ứng do được hoàn trả tài sản và được bồi thường thiệt hại. Còn người có hành vi vi phạm, tuỳ theo mức độ có thể bị xử lý bởi chế tài của các ngành luật khác (như luật hành chính, luật hình sự) và lúc đó biện pháp tịch thu có thể được áp dụng.

Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng chỉ quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự là không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên có lỗi làm cho giao dịch dân sự vô hiệu(ví dụ Nhật Bản).

Thứ tư, bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, Điều 147 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định rằng: khi giao dịch dân sự vô hiệu mà tài sản giao dịch lại đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực. Trong trường hợp sau khi giao dịch với người thứ ba đã được xác lập mà tài sản giao dịch lại bị tịch thu sung quỹ Nhà nước hoặc trả lại cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thì người thứ ba có quyền yêu cầu người xác lập giao dịch với mình bồi thường thiệt hại. Còn trong dự thảo hiện nay, việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình căn cứ vào đối tượng của giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu hay bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Cụ thể là:

Nếu tài sản của giao dịch dân sự vô hiệu là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, “Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực” (khoản 1, Điều 125).

Nếu tài sản của giao dịch dân sự vô hiệu là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, hiện nay có hai phương án được đưa ra để lấy ý kiến nhân dân (khoản 2, Điều 125):

Phương án 1: Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu mà tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ bỏ.

Phương án 2: Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu mà tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vô hiệu và người thứ ba được yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Nên chọn phương án hai để quy định trong Bộ luật dân sự (sửa đổi). Tuy nhiên, nếu chỉ quy định người thứ ba ngay tình được yêu cầu người xác lập giao dịch với mình bồi thường thiệt hại là chưa đúng và chưa đủ. Bởi vì:

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại chỉ được đặt ra khi thoả mãn một số điều kiện nhất định, trong đó có điều kiện bên gây thiệt hại có lỗi. Trong khi đó, không phải trong mọi trường hợp người xác lập giao dịch với người thứ ba đều có lỗi.

Chỉ quy định quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại không đảm bảo được quyền lợi của người thứ ba ngay tình vì người này còn có quyền yêu cầu người đã xác lập giao dịch với mình hoàn trả tài sản mà mình đã xác lập giao dịch (ví dụ tiền bỏ ra mua tài sản).

3. Kết luận

So với Bộ luật dân sự năm 1995, toàn bộ các quy định trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hiện nay khẳng định sự tiến bộ, hoàn chỉnh hơn so với Bộ luật dân sự hiện hành; đảm bảo tốt quyền, lợi ích dân sự hợp pháp cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Các quy định về giao dịch dân sự nói chung và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu nói riêng, về cơ bản được sửa đổi, bổ sung và có một quy định mới (giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức). Chỉ có một quy định được giữ nguyên (giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình). Quy định xử lý hậu quả khi giao dịch dân sự vô hiệu ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bên tham gia giao dịch, đến sự ổn định của giao lưu dân sự nói riêng và các quan hệ kinh tế-xã hội nói chung. Bởi vậy, khi sửa đổi Bộ luật dân sự, cần xem xét kỹ lưỡng.

Toàn bộ phân tích trên đây cho thấy: bên cạnh phần lớn các ưu điểm, các quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu còn bộc lộ một số hạn chế. Theo chúng tôi, nên sửa đổi, bổ sung những hạn chế đó như sau:

– Thay đổi cơ cấu của phần quy định về Giao dịch dân sự. Cụ thể đảo các Điều 128 và 129 lên ngay sau Điều 118 (định nghĩa về giao dịch dân sự vô hiệu); tiếp đó mới đến các Điều 119-127.

– Quy định rõ trong Bộ luật dân sự (sửa đổi) hoặc trong văn bản hướng dẫn thi hành rằng: giá để tính tài sản hoàn trả được tính theo giá thị trường tại địa phương nơi tài sản đang tranh chấp đối với từng loại tài sản cụ thể tại thời điểm xét xử sơ thẩm.

– Quy định rõ hơn về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên có lỗi làm cho giao dịch dân sự vô hiệu. Bổ sung hậu quả bồi thường trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

– Trong Điều 125 của dự thảo về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, nếu lựa chọn phương án hai cho khoản 2, cần bổ sung thêm quy định: người này còn có quyền yêu cầu người đã xác lập giao dịch với mình hoàn trả tài sản mà mình đã đưa vào giao dịch và bồi thường thiệt hại.


[1] Bài viết này bàn về Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) đang được lấy ý kiến nhân dân. Đây là dự thảo cuối cùng hiện nay và đã đăng trên Phụ trương của Báo nhân dân ngày 20 tháng 11 năm 2005.

[2] Điều 113 của dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi có sửa đổi, bổ sung Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 1995.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP (SỐ PHÁT HÀNH CHƯA ĐƯỢC XÁC ĐỊNH) – TÁC GIẢ CUNG CẤP

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: