Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

SỰ TƯƠNG THÍCH GIỮA CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN TÁC GIẢ CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TÁC GIẢ

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Trường Đại học Luật Hà nội

1. Khái quát chung

Sự hội nhập quốc tế làm cho các quốc gia xích lại gần nhau hơn về mọi lĩnh vực, trong đó có pháp luật. Tiến trình hội nhập đòi hỏi mỗi quốc gia phải hài hoà các vấn đề của quốc gia mình cho tương thích với những chuẩn mực chung đã được hầu hết các quốc gia khác thừa nhận. Việt Nam đang chủ động và tích cực tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, bởi vậy, việc xem xét tính tương thích, sự hài hoà giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế rất cần thiết.

Sự phát triển của khoa học, công nghệ làm cho quyền tác giả trở thành vấn đề toàn cầu. Nhờ có hệ thống viễn thông hiện đại, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có thể được chuyển tải từ phía bên này sang phía bên kia của thế giới. Công nghệ thông tin giúp con người khai thác hiệu quả những thành quả sáng tạo thể hiện dưới dạng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đồng thời chính công nghệ thông tin cũng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho sự vi phạm quyền tác giả[1]. Bởi vậy, lĩnh vực quyền tác giả đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ trên phạm vi quốc tế. Kết quả nhiều công ước quốc tế về quyền tác giả đã ra đời, đó là: Công ước Berne năm 1886, bổ sung lần cuối cùng tại Paris năm 1979 về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật; Công ước Rome năm 1961 về bảo vệ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát thanh, truyền hình; Công ước Geneva năm 1971 về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm; Hiệp ước toàn cầu về quyền tác giả (Universal Copyright Treaty-UCC) năm 1971; Công ước Brussels năm 1974 liên quan đến tín hiệu mang chương trình truyền hình qua vệ tinh; Hiệp định TRIPs năm 1994 về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ; Hiệp ước về quyền tác giả của WIPO (WIPO Copyright Treaty- WCT); Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WIPO Performances and Phonograms Treaty-WPPT), năm 1996.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ bàn về sự tương thích giữa các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về quyền tác giả và các công ước quốc tế trên cơ sở xem xét, so sánh những văn bản pháp luật cơ bản nhất của Việt Nam về quyền tác giả (như Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính và văn bản hướng dẫn thi hành) và hai công ước quốc tế là: Công ước Berne và Hiệp định TRIPs. Bởi vì, đây là hai công ước cơ bản nhất về quyền tác giả. Hơn nữa, Việt Nam đã là thành viên của Công ước Berne và trong thời gian rất gần chúng ta sẽ chịu sự điều chỉnh Hiệp định TRIPs khi trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới-WTO.

Công ước Berne là công ước quốc tế đầu tiên về quyền tác giả, cho đến nay, công ước vẫn được coi là nền tảng của pháp luật quốc tế cho việc bảo vệ sự sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Công ước đặt ra ba nguyên tắc cơ bản (bao gồm: nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc bảo hộ đương nhiên và nguyên tắc bảo hộ độc lập) và một loạt các quy định xác định sự bảo hộ tối thiểu cũng như các quy định đặc biệt dành cho các nước đang phát triển.

Hiệp định TRIPs ra đời mang lại những thay đổi căn bản trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. “Hiệp định TRIPs đã khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực và quy định của Công ước Paris và Công ước Berne, làm thay đổi bộ mặt của luật sở hữu trí tuệ vì các nước thành viên WTO thay đổi luật của họ để phù hợp với Hiệp định TRIPs. Ngoài việc đồng nhất hoá về pháp luật, Hiệp định TRIPs còn tiến tới loại bỏ các quy định về hành chính, thủ tục, và về thủ tục bất lợi cho hoạt động sở hữu trí tuệ quốc tế”[2]. Hiệp định TRIPs quy định các tiêu chuẩn tối thiểu đối với việc bảo hộ tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ. “Có lẽ điều quan trọng hơn là Hiệp định TRIPs là điều ước quốc tế đầu tiên quy định hệ thống hình phạt đối với các thành viên không bảo đảm sự bảo hộ tối thiểu về quyền sở hữu trí tuệ, kể cả các tiêu chuẩn tối thiểu về nghĩa vụ thực thi quyền”[3].

Công ước Berne và Hiệp định TRIPs có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hiệp định TRIPs được xây dựng trên cơ sở Công ước Berne và Công ước Paris, là sự hoàn thiện của hai công ước này. Hiệp định TRIPs mở rộng nội dung của Công ước Berne nhưng không trái với Công ước Berne (Điều 9-Hiệp định TRIPs). Do đó, nếu pháp luật của một quốc gia phù hợp với Công ước cũng sẽ phù hợp với Hiệp định TRIPs. Tuy nhiên, cần phải xem xét những quy định mở rộng của Hiệp định TRIPs so với Công ước Berne.

2. Đánh giá sự tương thích giữa các quy định của pháp luật hiện hành về quyền tác giả của Việt nam và các công ước quốc tế về quyền tác giả

Về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành về quyền tác giả của Việt nam phù hợp với các công ước quốc tế về quyền tác giả

Cho đến nay, các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả cơ bản phù hợp với các công ước quốc tế về quyền tác giả, đặc biệt là với Hiệp định TRIPs và Công ước Berne. Chẳng hạn, quy định về đối tượng bảo hộ; quy định về tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả; thời điểm phát sinh quyền tác giả; quy định giới hạn quyền tác giả; thực thi quyền tác giả.

Về đối tượng bảo hộ. Trong Công ước Berne, thuật ngữ “các tác phẩm văn học và nghệ thuật” bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào (Điều 2). Điều 2 cũng liệt kê một số tác phẩm được bảo hộ như: sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự với điện ảnh, các tác phẩm đồ hoạ, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc, chạm trổ, in thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự nhiếp ảnh; các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, minh hoạ, địa đồ, đồ án, bản phác hoạ và các tác phẩm tạo hình liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học.

So với Công ước Berne, Hiệp định TRIPs mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ quyền tác giả đối với các chương trình máy tính (dù dưới dạng mã nguồn hay mã máy) và các bộ sưu tập dữ liệu dù dưới dạng đọc được bằng máy hay dưới dạng khác, mà việc tuyển chọn hoặc sắp xếp nội dung chính là thành quả của hoạt động trí tuệ (Điều 10). Ngoài ra, công ước Rome còn bảo hộ tín hiệu được truyền qua vệ tinh.

Theo quy định của Điều 747-Bộ luật dân sự năm 1995 và quy định chi tiết tại Điều 4-Nghị định 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự, quy định của pháp luật Việt Nam về đối tượng của quyền tác giả được bảo hộ phù hợp với các công ước quốc tế về quyền tác giả. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, cho đến nay, chúng ta chưa có quy định pháp luật thừa nhận việc bảo hộ đối với tín hiệu truyền qua vệ tinh.

Về tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả. Theo quy định của Công ước Berne, sự bảo hộ bao gồm mọi tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, không phân biệt hình thức và cách thức thể hiện. Tương tự như Công ước Berne, khoản 3-Điều 747-Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: Nhà nước bảo hộ các tác phẩm không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm.

Về thời điểm phát sinh quyền tác giả. Theo nguyên tắc bảo hộ đương nhiên của Công ước Berne, quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định không lệ thuộc vào bất kì thủ tục hình thức nào như đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự. Tương tự như Công ước Berne, Điều 754-Bộ luật dân sự năm 1995 quy định “Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo dưới một hình thức nhất định”. Thủ tục đăng ký tác phẩm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền không phải là nghĩa vụ mà được quy định là quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm (Điều 762-Bộ luật dân sự năm 1995).

Về giới hạn quyền tác giả. Theo Điều 10 và Điều 10bis của Công ước Berne, tác phẩm được sử dụng tự do trong một số trường hợp như: trích dẫn để minh hoạ cho giảng dạy, in lại trên báo chí, phát lại trên đài truyền thanh hay phương tiện thông tin đại chúng những bài báo có tính chất thời sự về kinh tế, chính trị hay tôn giáo đã đăng tải trên các tập san hay các tác phẩm truyền thanh.Tuy nhiên, trong các trường hợp này quyền tác giả vẫn được bảo vệ, vì người sử dụng phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả. Sự trích dẫn phải phù hợp với những thông lệ chính đáng và trong mức độ phù hợp với mục đích.

Phù hợp với quy định pháp luật quốc tế, Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về giới hạn quyền tác giả tại Điều 760 và Điều 761. Theo đó, cá nhân hay tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm. Trong trường hợp này, người sử dụng không phải xin phải và không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm. Điều 761 quy định cụ thể những hình thức sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép và không phải trả thù lao. “Như vậy, pháp luật quyền tác giả của Việt Nam đã có sự thống nhất trong quy định giới hạn quyền tác giả so với pháp luật quốc tế. Điều này khẳng định quyền tác giả là bất khả xâm phạm; mặt khác tác phẩm là một tài sản của nhân loại nên rất cần có những giới hạn này để tạo điều kiện cho công chúng được tiếp cận tri thức thời đại. Quy định cụ thể về vấn đề này trong pháp luật Việt Nam sẽ trở thành tiền đề thuận lợi cho tiến trình Việt Nam gia nhập WTO cũng như tiến hành sự hợp tác song phương và đa phương trong quan hệ quốc tế”[4].

Về thực thi quyền tác giả. Những quy định về thực thi quyền tác giả của pháp luật Việt Nam cơ bản phù hợp với quy định của các công ước quốc tế về quyền tác giả. Để đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ, có thể áp dụng ba loại thủ tục là dân sự, hành chính và hình sự. Các biện pháp cụ thể được áp dụng bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, bồi thường thiệt hại, tiêu huỷ tang vật, kiểm soát hàng giả tại biên giới, phạt tiền và cả hình phạt tù (Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật hình sự năm 1999, Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002; Điều 13(3), Điều 15, Điều 16, Điều 17 – Công ước Berne; Điều 41 đến Điều 61- Hiệp định TRIPs) [5].

Những chênh lệch còn tồn tại

– Quy định về các tác phẩm không được bảo hộ

Công ước Berne không quy định các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học không được bảo hộ mà dành quyền chủ động cho các quốc gia thành viên “trong khi các tác phẩm ấy chưa được ấn định trên một hình thái vật chất nhất định” (Điều 2). Như vậy, theo Công ước Berne, căn cứ để không bảo hộ một tác phẩm không là nội dung của tác phẩm. Hầu hết các quốc gia thành viên của công ước không quy định tác phẩm không được bảo hộ.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại quy định các tác phẩm không được bảo hộ và cơ sở để loại trừ các tác phẩm này khỏi sự bảo hộ là nội dung của tác phẩm vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội. Cụ thể, Nhà nước không bảo hộ các tác phẩm có nội dung: chống lại nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; tuyên truyền bạo lực, chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; truyền bá tư tưởng, văn hoá phản động, lối sống dâm ô đồi truỵ, các hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục; tiết lộ bí mật của Đảng, nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của cá nhân và các bí mật khác do pháp luật quy định; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân (Khoản 1-Điều 749-Bộ luật dân sự năm 1995).

– Quy định về quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.

Công ước Berne quy định hai loại quyền tác giả là quyền tinh thần và quyền kinh tế. Quyền tinh thần gồm: quyền đứng tên tác giả của tác phẩm và quyền phản đối bất kỳ sự cắt xén, bóp méo hoặc sửa đổi tác phẩm, hoặc các hành vi xúc phạm khác liên quan đến tác phẩm mà có thể phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả (Điều 6bis). Quyền kinh tế bao gồm một số quyền sau đây: quyền dịch thuật, quyền thực hiện phóng tác và chuyển thể tác phẩm; quyền trình diễn công cộng tác phẩm kịch, nhạc kịch, âm nhạc, quyền trần thuật công cộng tác phẩm văn học, quyền truyền thông công cộng trình diễn các tác phẩm; quyền phát sóng; quyền làm bản sao; quyền cho sử dụng tác phẩm. Bên cạnh đó, Công ước cũng quy định quyền “droit de suit” đối với tác phẩm mỹ thuật và bản thảo viết tay(Điều 14ter).

Pháp luật Việt Nam quy định tác giả, chủ sở hữu tác phẩm có quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền của các chủ thể này khác nhau trong từng trường hợp cụ thể: tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm (Điều 751-Bộ luật dân sự năm 1995); tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm (Điều 752-Bộ luật dân sự năm 1995); chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả (Điều 753-Bộ luật dân sự năm 1995). Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có đầy đủ mọi quyền tài sản và quyền nhân thân đối với tác phẩm. Cụ thể, quyền nhân thân bao gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm (các nhà khoa học pháp lý gọi ba quyền nhân thân đầu tiên này là quyền nhân thân không gắn với tài sản hay quyền nhân thân không thể chuyển giao); quyền công bố, phổ biến tác phẩm; quyền cho người khác sử dụng tác phẩm (các nhà khoa học pháp lý gọi hai quyền nhân thân này là quyền nhân thân gắn với tài sản hay quyền nhân thân có thể chuyển giao). Các quyền tài sản bao gồm: quyền hưởng nhuận bút; quyền hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới một số hình thức nhất định; quyền nhận giải thưởng khi tác phẩm được giải. Còn tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả có các quyền không đầy đủ, nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có quyền nào đó thì chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả không có quyền này và ngược lại. Ví dụ: quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm thuộc về tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm mà chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả không có quyền này.

Rõ ràng, quy định về quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm của pháp luật Việt Nam tường đối phức tạp và khác biệt với quy định của Công ước Berne. Sự khác biệt không phải chỉ là cách dùng thuật ngữ: quyền tinh thần, quyền kinh tế trong Công ước Berne và quyền nhân thần, quyền tài sản trong Bộ luật dân sự mà còn là sự khác biệt ở nội hàm của các thuật ngữ. Thuật ngữ quyền tinh thần không đồng nhất với quyền nhân thân, quyền kinh tế không đồng nhất với quyền tái sản. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền nhân thân không gắn với tài sản chính là quyền tinh thần trong công ước Berne; quyền nhân thân gắn với tài sản chính là các quyền kinh tế. Còn các quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 hiện nay là kết quả hay sự thể hiện bằng những lợi ích vật chất cụ thể của việc thực hiện quyền tài sản.

Một lưu ý nữa là, pháp luật Việt nam chưa quy định về quyền “droit de suit” đối với tác phẩm mỹ thuật và bản thảo viết tay.

– Quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Theo Công ước Berne, thời hạn bảo hộ quyền tác giả tối thiểu là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết (Điều 7). Đối với các tác phẩm khuyết danh, tác phẩm điện ảnh thì thời hạn này là 50 năm, còn đối với tác phẩm nhiếp ảnh thì thời hạn bảo hộ là 25 năm. Công ước Berne cũng quy định việc tiếp tục bảo vệ quyền tinh thần sau khi tác giả chết, ít nhất cho đến khi quyền kinh tế còn trong thời hạn bảo hộ, trừ trường hợp vào thời điểm gia nhập công ước, pháp luật một số nước thành viên nào đó không quy định về bảo vệ quyền tinh thần sau khi tác giả chết (Điều 6bis).

Hiệp định TRIPs quy định tương tự như Công ước Berne, đồng thời bổ sung quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với nghệ sĩ biểu diễn và nhà sản xuất băng ghi âm. Cụ thể: 1.Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm: tối thiểu 50 năm kể từ khi công bố hợp pháp; tối thiểu 50 năm kể từ ngày tác phẩm được sáng tác (Điều 12); 2.Thời hạn bảo hộ quyền của nghệ sĩ biểu diễn và nhà sản xuất băng ghi âm: tối thiểu 50 năm kể từ ngày ghi âm hoặc ngày biểu diễn, tối thiểu 20 năm kể từ ngày chương trình phát thanh, truyền hình được thực hiện (Điều 14(5)).

Pháp luật Việt Nam quy định các quyền nhân thân không gắn với tài sản hay quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả được bảo hộ vô thời hạn. Còn quyền nhân thân gắn với tài sản hay quyền nhân thân có thể chuyển giao của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ có thời hạn là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết (Điều 766-BLDS năm 1995).

Như vậy, có một số điểm khác biệt trong quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả giữa pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế. Trước hết, Công ước Bern cũng như Hiệp định TRIPs quy định thời hạn bảo hộ tối thiểu, còn pháp luật Việt Nam quy định thời hạn cụ thể và bất biến. Thứ hai, các công ước quốc tế quy định thời hạn bảo hộ dựa vào đối tượng bảo hộ, trong khi đó, pháp luật Việt Nam lại quy định thời hạn bảo hộ dựa vào quyền được bảo hộ là loại quyền nào. Điểm khác tiếp theo là, pháp luật Việt Nam quy định hai loại thời hạn bảo hộ quyền tác giả: vô thời hạn và có thời hạn, trong khi về nguyên tắc, các công ước quốc tế chỉ quy định bảo hộ có thời hạn. Bên cạnh đó, pháp luật nước ta cũng chưa quy định thời hạn bảo hộ đối với quyền của nghệ sĩ biểu diễn và nhà sản xuất băng ghi âm như Công ước Berne.

– Về quy định công bố tác phẩm.

Theo quy định của công ước Berne, tác phẩm đã công bố là những tác phẩm đã được phát hành với sự đồng ý của tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo bản sao, miễn là các bản đó đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của quyền chúng, tuỳ theo bản chất của tác phẩm. Không được coi là công bố: sự trình diễn một tác phẩm sân khấu, nhạc kịch hay điện ảnh, hoà tấu một tác phẩm nhạc, đọc trước công chúng một tác phẩm văn học, phát thanh hay truyền hình một tác phẩm văn học hay nghệ thuật, triển lãm một tác phẩm nghệ thuật hay xây dựng một tác phẩm kiến trúc (Điều 3).

Về công bố tác phẩm, Điều 5-Nghị định 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự quy định: việc công bố, phổ biến tác phẩm là trình bày tác phẩm trước công chúng dưới dạng thuyết trình, trưng bày, xuất bản, biểu diễn, phát thanh, truyền hình và các hình thức khác.

Như vậy, các trường hợp mà Công ước Berne quy định không phải là công bố tác phẩm thì pháp luật Việt Nam lại thừa nhận là công bố tác phẩm.

– Về quy định thực thi quyền tác giả.

Như đã chỉ ra ở trên, cho đến nay các quy định về thực thi quyền tác giả của pháp luật Việt Nam cơ bản phù hợp với các công ước quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm chênh lệch nhỏ sau đây:

Về biện pháp chế tài dân sự. Điều 45 của Hiệp định TRIPs quy định rất cụ thể về cách thức xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiện hành chưa quy định về vấn đề này.

Công ước Berne quy định: để được bảo hộ, tác giả “chỉ cần có tên mình ghi trên tác phẩm như thông lệ” (Điều 15.1). “Đối với những tác phẩm khuyết danh và những tác phẩm bí danh nhà xuất bản có ghi tên trên tác phẩm được xem là đại diện của tác giả mà không cần bằng chứng gì khác, và với tư cách này, nhà xuất bản có thẩm quyền bảo hộ và thực thi cá quyền của tác giả. Quy định của đoạn này sẽ hết áp dụng khi mà tác giả tiết lộ danh tính và chứng minh mình là tác giả” (Điều 15.3). Như vậy, để được bảo hộ, nghĩa vụ chứng minh của tác giả rất “nhẹ nhàng”. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam không quy định như công ước Berne và cũng chưa có quy định về các loại chứng cứ mà đương sự phải xuất trình trong trường hợp phải chứng minh là tác giả của tác phẩm.

Về biện pháp chế tài hình sự. Bên cạnh hai hình phạt chính là phạt tù và phạt tiền, thể hiện tình thần đấu tranh triệt để đối với loại tội phạm xâm phạm quyền tác giả Hiệp định TRIPs quy định thêm một loạt các hình phạt bổ sung khác bao gồm: bắt giữ, tịch thu và tiêu huỷ hàng hoá xâm phạm và bất cứ vật liệu và các phương tiện nào khác được sử dụng chủ yếu để thực hiện tội phạm. Khác với Hiệp định TRIPs, các hình phạt bổ sung mà pháp luật Việt Nam quy định bao gồm: phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

3. Kết luận

Như vậy, quy định về quyền tác giả của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ bản đã tương thích với các công ước quốc tế về quyền tác giả. Tuy nhiên, một số chênh lệch còn tồn tại. Có thể chia những vấn đề chênh lệch này thành ba loại như sau:

· Vấn đề không được quy định trong các công ước quốc tế nhưng lại được pháp luật Việt Nam quy định, như: các tác phẩm không được bảo hộ do nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia, lợi ích công cộng và lợi ích của các chủ thể cụ thể.

· Vấn đề được quy định trong các công ước quốc tế nhưng pháp luật Việt Nam chưa quy định, như: các quy định về thực thi quyền tác giả.

· Vấn đề mà pháp luật Việt Nam quy định khác với các công ước quốc tế quy định, như: quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm; thời hạn bảo hộ quyền tác giả; công bố tác phẩm.

Theo chúng tôi, những chênh lệch giữa các quy định về quyền tác giả của pháp luật Việt Nam hiện hành và các công ước quốc tế về quyền tác giả trên đây xuất phát từ hai nguyên nhân: sự khác biệt khi xác định nguyên tắc xây dựng pháp luật và sự chênh lệch về kỹ thuật lập pháp.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, việc hoàn thiện pháp luật quốc gia cho phù hợp với pháp luật quốc tế là cần thiết. Để hoàn thiện pháp luật quốc gia về quyền tác giả cho tương thích với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ là thành viên, chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng những điểm chênh lệch còn tồn tại. Đến nay, Bộ luật dân sự năm 2005 đã được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. Trong Bộ luật dân sự năm 2005, một số chênh lệch giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền tác giả đã được giải quyết. Bộ luật năm 2005 đã bỏ quy định về các tác phẩm không được bảo hộ tại Điều 749 của Bộ luật dân sự năm 1995; nội dung quyền tác giả được quy định theo quy định của Công ước Berne; Điều 748 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định việc bảo hộ quyền tác giả đối với tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá. Như vậy, chỉ còn một số rất ít các vấn đề chênh lệch là: công bố tác phẩm, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, thực thi quyền tác giả chưa được giải quyết trong Bộ luật dân sự mới được sửa đổi, bổ sung này. Những vấn đề này cần được xem xét để quy định trong Luật sở hữu trí tuệ đang được xây dựng./.


[1] Trang 80, “Sở hữu trí tuệ và thị trường chung của Cộng đồng Châu Âu” (Intellectual Property and the Internal Market of the European Community), Graham & Trotman Ltd., London, 1993.

[2] Trang 2, “Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập”, Nhà xuất bản Bản đồ, năm 2002.

[3] Trang 3, “Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập”, Nhà xuất bản Bản đồ, năm 2002.

[4] Trang 48, “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Viện khoa học pháp lý-Bộ tư pháp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2004.

[5] Xem chi tiết phần I, bài “Thực thi quyền tác giả” –Nguyễn Như Quỳnh.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ (TÁC GIẢ GỬI – SỐ PHÁT HÀNH CHƯA XÁC ĐỊNH)

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: