VẤN ĐỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

image ĐẠI TÁ. PGS.TS. LẠI NGỌC HẢI – Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng

Nền kinh tế nước ta sau hơn 20 năm đổi mới, tuy đạt được những thành tựu hết sức to lớn nhưng nhìn tổng thể vẫn chưa thoát khỏi tính chất của một nền kinh tế nông nghiệp. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu để “…đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(1). Một trong những yếu tố bảo đảm thực hiện mục tiêu nói trên là, phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước. Là một quốc gia nông nghiệp, giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã, đang và sẽ còn là vấn đề có giữ vị trí nền tảng đối với quá trình giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những bức xúc trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở nước ta hiện nay

Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã có bước phát triển khá toàn diện và to lớn. Nông nghiệp phát triển ổn định và có xu hướng tái sản xuất theo chiều sâu, đời sống vật chất, tinh thần nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn thay đổi theo chiều hướng lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế – xã hội, góp phần quan trọng vào sự ổn định của đất nước, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn. Sự phát triển của nông nghiệp có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại và thiếu tính bền vững; nông thôn đang có chiều hướng tụt hậu; đời sống của nông dân nhìn chung còn thấp, ở nhiều vùng chậm được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.

Có nhiều cách tiếp cận để nhận diện các nguyên nhân, song nhìn tổng thể và suy đến cùng thì nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nó được thể hiện trong hoạt động lãnh đạo và quản lý, sự quan tâm chưa xứng tầm với vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong đời sống kinh tế – xã hội và những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn.

Thời gian qua, để tăng GDP, các địa phương mới chỉ chú trọng phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và phát triển các khu đô thị mới. Việc thu hồi đất nông nghiệp đã làm cho diện tích đất canh tác bị thu hẹp. Bài toán toàn dụng lao động trong nông nghiệp, nông thôn và các vấn đề xã hội nảy sinh do việc thu hồi đất nông nghiệp chưa tìm ra lời giải thoả đáng. Tỷ lệ thời gian lao động trong nông nghiệp đạt ở mức thấp (chỉ khoảng 65%). Tình hình đó đã làm xuất hiện một động thái khác – sự di dịch nguồn lao động tự phát từ các vùng nông thôn đổ về các đô thị tìm kế mưu sinh. Những dòng lao động di dịch đó đã “kéo” lực lượng lao động trẻ khoẻ và có kiến thức ra khỏi địa bàn nông thôn làm xuất hiện tình trạng lao động nông nghiệp tại nhiều địa phương chỉ còn lại chủ yếu là phụ nữ và người cao tuổi, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tăng tốc và tính bền vững của sự phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Lực lượng lao động không được toàn dụng, mức thời gian lao động thấp dẫn đến giảm thu nhập. Hiện có ý kiến cho rằng mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn chỉ đạt trên dưới 500.000 đồng/tháng, trong khi, việc chi cho ăn, mặc chiếm tới 80 – 90%. Trong điều kiện lạm phát tăng cao như hiện nay, vấn đề càng trở nên hết sức bức xúc. Hiện trạng về khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn có xu hướng tăng lên do sự doãng ra về cánh kéo giá cả giữa các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp cũng là một thực tế. Số liệu năm 2006 là 47/100; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) vẫn còn ở mức 18% (ở nhiều vùng sâu, vùng xa tới 40%).

Mục tiêu của chúng ta là trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, muốn vậy, chắc chắn chúng phải làm thay đổi các chỉ số vừa nêu theo chiều ngược lại. Điều đó có nghĩa là, bằng những nỗ lực tối đa, chúng ta nhất định phải giải quyết một cách khoa học nhất vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống nông dân.

Sẽ không phải là quá khi nói rằng, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn như thế nào có quan hệ nhân quả với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nước ta hiện nay.

Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, ngăn chặn xu hướng phát triển thiếu tính bền vững của nông nghiệp, ngăn chặn chiều hướng tụt hậu của nông thôn, tạo bước đột phá trong xây dựng nông thôn mới, giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân – trung tâm của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội đang là vấn đề đặt ra trước mắt chúng ta.

Cần làm gì để giải quyết những bức xúc trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay?

Để giải quyết những bức xúc của vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay, với tính cách là bước chuyển căn bản, giải pháp quan trọng nhất hiện này là tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá X) về “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.

Việc quán triệt và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy, sẽ là bước đi mang tính đột phá và cũng mang ý nghĩa cơ bản để cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá giải quyết một các triệt để vấn đề “tam nông” hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nhận thức về nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Quá trình đổi mới của đất nước, trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, chính sách của chúng ta được bắt đầu tư nông nghiệp, nông thôn và nông dân, và chính lĩnh vực này đã mở đường cho các chính sách đổi mới. Nhưng thực tế thời gian qua cho thấy, dường như nhận thức của chúng ta đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa theo kịp những đòi hỏi của thực tiễn. Những chính sách với nông nghiệp, nông thôn và nông dân được hoạch định như, vốn cho sản xuất – kinh doanh, việc làm, phát triển thị trường, xây dựng kết cấu hạ tầng…, lại chưa phản ánh lộ trình phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của nền kinh tế cũng như những vấn đề mới đặt ra từ quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đã đến lúc, nhận thức của chúng ta về nông nghiệp, nông thôn và nông dân cần phải đổi mới so với hiện nay. Thực tiễn bức xúc trong khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và cuộc khủng hoảng lương thực trên thế giới nổ ra từ đầu năm 2006 cho thấy rõ nhu cầu khách quan này.

Nội dung của đổi mới nhận thức về nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay tập trung ở hai vấn đề chính:

1- Nhận thức mới về mục tiêu phát triển nông nghiệp trong điều kiện sự biến đổi về môi trường sống trên hành tinh đang diễn ra hết sức phức tạp, đe doạ sự sống của hàng tỷ người, nhất là đối với các nước nghèo. Sự phát triển của nông nghiệp trong điều kiện như vậy phải đáp được ứng mục tiêu và các yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững. Đến lượt nó, sự phát triển nông nghiệp bền vững phải đảm bảo: bền vững về sinh thái; lợi ích về kinh tế; lợi ích xã hội đối với nông dân và cộng đồng.

2- Tư duy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải đổi mới theo hướng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, vị trí của mỗi thực thể đó. Ở khía cạnh thứ hai này, nông nghiệp phải được coi là nền tảng để ổn định phát triển kinh tế xã hội, và vấn đề chính sách đối nông dân phải được coi là trung tâm trong hệ thống chính sách của chúng ta. Biểu hiện của nhận thức đó phải được thể hiện bằng các biện pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, thu hẹp cả về khoảng cách và cả về tốc độ sự phát triển giữa khu vực nông thôn, đời sống nông dân so với khu vực đô thị. Trong hoạch định chính sách phát triển đất nước, xác định bước đi, cách làm, cũng như lộ trình thực hiện nhất định phải đặt nó trong mối quan hệ với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn để có những quyết sách đúng đắn. Mọi chính sách, bước đi, cách làm gây hiệu ứng tiêu cực theo hướng để nông nghiệp, nông dân, nông thôn tụt hậu, “hy sinh” sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, cho dù đó chỉ là sự tụt hậu, sự hy sinh tạm thời, cần được coi là không phù hợp với nhận thức mới đối với khu vực chiến lược này trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai, cần tăng đầu tư hơn nữa cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đây vừa là điều kiện, vừa là cơ hội để nông nghiệp, nông dân và nông thôn tiếp nhận sự đầu tư của Nhà nước. Vừa qua, Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho sự phát triển của khu vực này cả trong phát triển lực lượng sản xuất, và trong xây dựng quan hệ sản xuất mới. Các chính sách giao đất cho nông dân sản xuất cùng với tự do hoá thương mại và đầu tư mạnh về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, ứng dụng công nghệ sinh học, bảo vệ môi trường, xoá đói, giảm nghèo …, đã được quan tâm. Song sự đầu tư đó vẫn chưa tạo được bước đột phá cho lĩnh vực này khi mức đầu tư của Nhà nước về nông thôn mới chiếm 14% tổng đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực này không đáng kể (3% tổng đầu tư FDI cả nước). Đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thường tỷ suất về tính sinh lời và hiệu quả không cao nếu xét từ góc độ lợi nhuận thuần túy, nhưng nếu xét tổng thể về hiệu quả kinh tế – xã hội thì lại không hề thấp chút nào. Nhà nước cũng cần đẩy mạnh đầu tư cho khoa học – công nghệ (hiện chiếm 0,13% GDP nông nghiệp, trong khi các nước tương tự là 4%).

Ngoài ra, trong điều kiện Việt Nam là thành viên chính thức của WTO, chính sách của Nhà nước đối với khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn cũng cần được đổi mới theo hướng khai thác các định chế của WTO để hỗ trợ, ưu đãi cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã đem lại cho nền kinh tế những cơ hội phát triển mới trong đó có nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, quá trình tiến đến đài vinh quang, bao giờ cũng có những có những “hy sinh”, mất mát nhất định. Những quy định của WTO cho thấy nông nghiệp, nông thôn, nông dân là lĩnh vực chịu sự hy sinh nhiều nhất trước những tác động từ bên ngoài khi chúng ta thực hiện các cam kết với WTO. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chính sách đó một mặt phải bảo đảm phù hợp với các định chế của WTO, phù hợp với điều kiện nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, mặt khác khai thác triệt để những quy định của WTO đối với những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi để có thể tối đa hoá sự hỗ trợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Định chế của WTO quy định xoá bỏ mọi trợ cấp cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu, nhưng đối với các nước đang phát triển cho phép hỗ trợ ở mức tối thiểu để phát triển nông nghiệp (khoảng 10% GDP của nông nghiệp) như thủy lợi, hệ thống tưới tiêu, cải tạo đất đai, nghiên cứu áp dụng khoa học – công nghệ… Khai thác những nội dung có lợi trong định chế của WTO để tăng đầu tư cho khu vực này cần được coi là một hướng ưu tiên, một cơ hội cần “chớp” lấy trong giải quyết các vấn đề của thực tiễn.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ chuyên gia làm nòng cốt và huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Để làm chuyển biến khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vấn đề tiên quyết là phải có chủ trương chính sách đúng. Chúng ta đã có Nghị quyết mới do Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá X). Tuy nhiên, sau khi có chủ trương chính sách đúng, nhân tố quyết định lại là con người. Do đó cần đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức được đội ngũ cán bộ và các chuyên gia – những người, những bộ phận, những lực lượng có trọng trách chính trong việc “chèo lái” con thuyền “tam nông”. Bộ phận nòng cốt này bao gồm các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học, đội ngũ cán bộ khuyến nông…làm công tác chỉ đạo ở Trung ương và trực tiếp làm việc ở nông thôn, và trong lĩnh vực nông nghiệp (bao gồm cả đội ngũ cán bộ của các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương và các địa phương).

Trách nhiệm được đề cập ở đây được hiểu là những việc làm thiết thực và có hiệu quả chứ không phải là một phạm trù đạo đức. Sau đội ngũ cán bộ, phải tạo bước chuyển biến mới trong đào tạo nghề cho người nông dân. Bản chất của vấn đề đang được bàn luận ở đây là ở chỗ đất nước vừa phải đào tạo được đội ngũ những “chuyên gia” giỏi về chuyên môn thực sự để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vừa phải toàn dụng lực lượng lao động ở nông thôn. Tiếp đến là phải phát động cho được trách nhiệm của toàn xã hội, toàn xã hội phải tham gia giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cải thiện đời sống nông dân không phải chỉ là trách nhiệm, việc làm riêng của Đảng, Chính phủ hay của giai cấp nông dân, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Tập trung nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, mọi cấp mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, mọi thể nhân và pháp nhân; nỗ lực của tất cả các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế, quy mô ngành nghề kinh doanh, nếu có liên quan đến ngành nông nghiệp, người nông dân và khu vực nông thôn thì đều phải có trách nhiệm chung tay với Nhà nước, chung sức với người nông dân để giải quyết. Không thể để những chuyện buồn của nông dân ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam về chuyện hạt lúa được mùa nhưng rớt giá, con cá nuôi đã quá lứa, cây mía, quả dứa, quả vải thiều vào mùa thu hoạch, nhưng bán không có người mua, cứ tái diễn mãi. Hơn lúc nào hết, đây là lúc phải huy động sự liên kết chặt chẽ giữa các “nhà” để thúc đẩy khu vực nông thôn, nông nghiệp bứt lên, vượt qua khó khăn thách thức, tạo bước phát triển mang tính đột phá. Đó mới chính là phát huy sức mạnh của cả khối đại đoàn kết dân tộc trong việc tìm kiếm những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn một cách thiết thực./.

Chú thích:
(1) Năm 2007, sản lượng lương thực đạt 40,1 triệu tấn, so với năm 2000 tăng 13,96%; kim ngạch xuất khẩu đạt 49,6 tỉ USD, trong cơ cấu kinh tế nônbg thôn tỷ trọng hộ công nghiệp tăng so năm 2000 khoảng 60%; thu nhập bình quân đầu người của hộ nông dân năm 2006 đạt 2,7 triệu đồng/năm tăng gấp 10 lần so với 10 năm trước.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 16 (160) NĂM 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: