NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI BỊ OAN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

MAI ANH THÔNG – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự đã và đang được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm. Kết quả đó được thể hiện bằng việc dự thảo Luật Bồi thường Nhà nước trong đó có các quy định về bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự đang được gấp rút soạn thảo để trình Quốc hội cho ý kiến trong kỳ họp tới.

Trong quá trình xây dựng Luật Bồi thường Nhà nước thì vấn đề bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự được xác định là một trong những nội dung quan trọng và cũng là vấn đề còn nhiều ý kiến, quan điểm. Để góp phần xây dựng một trong những nội dung quan trọng đó của Luật Bồi thường Nhà nước. Bài viết này xin giới thiệu những quy định của pháp luật về bồi thường cho người bị oan và một số vấn đề rút ra từ thực tiễn giải quyết bồi thường của Viện Kiểm sát nhân dân trong những năm qua nhằm góp tiếng nói với Ban soạn thảo nghiên cứu trong quá trình dự thảo luật này.

Về những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Nhà nước ta đã có nhiều văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc khôi phục danh dự và bồi thường thiệt hại về vật chất cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái trong việc điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” (Điều 72); “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự” (Điều 74).

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992 về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Điều 24 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 quy định: “Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tùy từng trường hợp mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Ngoài ra, trong Bộ luật Dân sự năm 1995 còn quy định: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người đó có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”. Đồng thời để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cán bộ Nhà nước gây ra, Chính phủ có Nghị định số 47/CP ngày 03/05/1997 về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền tố tụng gây ra; Thông tư số 54/1998/TT-BTCCBCP của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 47; Thông tư số 38/1998/TT-BTC ngày 30/03/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập, sử dụng và quyết toán ngân sách Nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.

Để thực hiện tiến trình cải cách tư pháp, thời gian qua để thể chế hóa các chủ trương Nghị quyết về cải cách tư pháp; Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan của Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, nêu rõ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Điều 46 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà gây ra thiệt hại thì Viện kiểm sát nhân dân nơi người đó công tác phải có trách nhiệm bồi thường và những người đã gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi hoàn cho Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật”.

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, không chỉ quy định quyền được bồi thường thiệt hại của người bị oan, mà còn quy định cả quyền được bồi thường của người bị thiệt hại và nêu rõ trách nhiệm của cơ quan, của người có thẩm quyền tố tụng đã gây ra việc làm oan. Điều 29 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định: “Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 cũng quy định: “Người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến haình tố tụng gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường cho người bị thiệt hại; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, để tạo cơ sở pháp lý cho việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật ngày càng cụ thể hơn, toàn diện hơn. Tuy nhiên các quy định về bồi thường cho người bị oan do người có thẩm quyền tố tụng hình sự gây ra và trách nhiệm hoàn trả của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra thiệt hại trước khi có Nghị quyết 388 hầu hết mới chỉ là những nguyên tắc thiếu cụ thể nên hiệu quả thực hiện trong thực tiễn bị hạn chế.

Để giải quyết thực trạng trên đây, ngày 17/3/2003 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 (sau đây viết tắt là Nghị quyết 388) về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Đây là văn bản pháp luật hội tụ khá đầy đủ, toàn diện và chặt chẽ hơn các nội dung về bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Nghị quyết 388 thể hiện chủ trương đúng đắn của Nhà nước ta trong việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan, thể hiện thái độ, trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành hoạt động tố tụng hình sự trước việc đã làm oan đối với người vô tội, đồng thời thể hiện tính dân chủ, công khai trong hoạt động tư pháp của Nhà nước, tạo niềm tin và dấu ấn tốt trong dư luận xã hội.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết 388 được toàn diện và đầy đủ, ngày 25/03/2004, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết 388 (sau đây viết tắt là Thông tư 01). Tiếp đó từng Cơ quan tư pháp ở Trung ương đã ban hành văn bản hướng dẫn việc bồi thường cho người bị oan theo quy định của Nghị quyết 388 thuộc trách nhiệm của ngành mình. Đối với ngành KSND, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành chỉ thị số 04 ngày 13/05/2004 về việc triển khai thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong đó có nội dung yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân các cấp tiến hành tổng rà soát để lập danh sách những người bị oan thuộc trách nhiệm giải quyết bồi thường của Viện kiểm sát nhân dân, để tiến hành bồi thường khi có yêu cầu của những người bị oan.

Như vậy, với hệ thống các văn bản pháp luật quy định về bồi thường thiệt hại nêu trên đã và đang phát huy tác dụng, giải quyết những bức xúc của người bị oan và xã hội. Đó là việc đã có nhiều người dân được Nhà nước minh oan, khôi phục danh dự và bồi thường thiệt hại; góp phần mở rộng dân chủ và công bằng xã hội, đề cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, các Cơ quan tư pháp trong khi thi hành công vụ.

Tuy nhiên, với hệ thống văn bản pháp luật như trên, quá trình thực hiện còn bộc lộ một số nhược điểm, bất cập. Đó là, văn bản pháp luật thì nhiều nhưng hiệu lực và sự tác động của nó trong đời sống xã hội còn ở mức độ, thiếu cụ thể, rõ ràng, chưa xác định rành mạch cơ chế thực thi cũng như cơ chế trách nhiệm của cả hai phía; đó là những người của cơ quan Nhà nước gây ra thiệt hại với người và đơn vị bị thiệt hại; việc xác định mức bồi thường, trình tự thủ tục bồi thường, thời hạn, thời hiệu giải quyết bồi thường v.v… còn nhiều vướng mắc khó vận dụng. Từ thực trạng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra cho thấy, các quy định về trách nhiệm bồi thường chỉ là sự phát triển một cách giản đơn từ chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự. Do vậy, cần có sự nhìn nhận đúng mức các quy định của pháp luật về bồi thường, từ đó “luật hóa” thành một trong những nội dung quan trọng của Luật Bồi thường Nhà nước trong thời gian tới.

Một số kết quả giải quyết bồi thường theo Nghị quyết 388 trong ngành Kiểm sát nhân dân

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của Nghị quyết số 388, ngay sau khi Nghị quyết được UBTV Quốc hội ban hành, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chủ trì phối hợp với các Cơ quan: Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính ban hành các Thông tư liên tịch để hướng dẫn, thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388 (Thông tư liên tịch số 01/2004-TTLT, ngày 25/3/2004 và số 04/2006-TTLT ngày 22/4/2006).

Về kết quả bồi thường của Viện kiểm sát nhân dân; kể từ khi có Nghị quyết số 388 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã tiếp nhận 138 đơn yêu cầu bồi thường, trên cơ sở tổng rà soát người bị oan, đến nay giải quyết 110 trường hợp, với tổng số tiền bồi thường là trên 5 tỷ đồng; hiện tại còn 28 trường hợp đang trong quá trình xem xét giải quyết.

Nhìn chung những trường hợp đã bồi thường vừa qua, việc chi trả tiền bồi thường thiệt hại cho người bị oan được thực hiện kịp thời theo thời hạn quy định tại Điều 15 của Nghị quyết 388. Ngay sau khi nhận được hồ sơ bồi thường do Viện kiểm sát các địa phương chuyển đến, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã khẩn trương kiểm tra, nếu xác định đúng là trường hợp bị oan và được bồi thường đều được lập ngay hồ sơ để đề nghị Bộ Tài chính cấp kinh phí bồi thường. Một số trường hợp trong khi chờ Bộ Tài chính cấp kinh phí, Viện kiểm sát các địa phương đã sử dụng nguồn kinh phí hoạt động nghiệp vụ của cơ quan để bồi thường hoặc ở một số địa phương có sự hỗ trợ từ nguồn kinh phí của ủy ban nhân dân, nên việc chi trả tiền cho người bị oan được thuận lợi, kịp thời.

Việc khôi phục danh dự cho người bị oan, được Viện kiểm sát các địa phương tiến hành trang trọng, công khai xin lỗi tại hội trường ủy ban nhân dân xã, phường nơi người bị oan cư trú hoặc tại hội trường cơ quan nơi người bị oan công tác; các buổi công khai xin lỗi đều có sự tham gia của đại diện chính quyền địa phương, đại diện Tổ dân phố nơi người bị oan cư trú, đại diện cơ quan nơi người bị oan làm việc, trước sự tham gia của cán bộ và nhân dân, của các cơ quan thông tấn, báo chí. Viện kiểm sát các địa phương đã cử những đồng chí lãnh đạo có uy tín, có kinh nghiệm để công khai xin lỗi người bị oan; đồng thời có sự phối hợp với chính quyền, tổ chức Đảng và các đoàn thể nơi người bị oan cư trú, làm việc để động viên người bị oan, bước đầu tạo ra sự thông cảm, bớt đi mặc cảm của họ; được dư luận nhân dân đồng tình với đường lối chính sách ưu việt của Nhà nước ta.

Đạt được những kết quả trên là do phần lớn đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên các cấp đã nhận thức đúng đắn ý nghĩa và tầm quan trọng của Nghị quyết 388 về việc bồi thường cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Trong toàn Ngành Kiểm sát, từ trung ương đến địa phương, do có sự chỉ đạo nên đã tổ chức được bộ phận chuyên trách để theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khi người bị oan có đơn yêu cầu bồi thường. Đối với những trường hợp phức tạp, có vướng mắc, Lãnh đạo các cơ quan tư pháp trung ương đã phối hợp và kịp thời, nhằm tháo gỡ vướng mắc cho cơ sở.

Thông qua giải quyết bồi thường cho những người bị oan, thời gian qua, xem xét về nguyên nhân, hầu hết đều do nhận thức, năng lực và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong công tác còn hạn chế, có mặt là yếu kém. Do đó, việc xử lý các cán bộ, Kiểm sát viên có sai phạm trong việc làm oan đối với công dân đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo, yêu cầu các địa phương thực hiện việc kiểm điểm nghiêm túc, trong đó chú ý phân loại cụ thể. Đối với cán bộ đã gây ra việc làm oan xảy ra trước khi có Nghị quyết 388 cần nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm. Đối với những trường hợp bị oan xảy ra sau ngày ban hành Nghị quyết này thì cần xem xét trách nhiệm gắn với xử lý cán bộ nghiêm khắc. Do vậy, thời gian qua ngành Kiểm sát đã tiến hành kiểm điểm, xem xét trách nhiệm của 50 cán bộ có liên quan đến việc làm oan, trong đó có 19 người là Viện trưởng, Phó Viện trưởng cấp huyện, 01 Phó Viện trưởng cấp tỉnh, số còn lại là Kiểm sát viên các cấp.

Như vậy, có thể nói Ngành Kiểm sát nhân dân đã quán triệt đầy đủ với tinh thần và trách nhiệm trong việc thi hành các quy định của Nghị quyết 388. Đáng chú ý là cùng với thực hiện trách nhiệm bồi thường do pháp luật quy định trước những người bị oan thì việc xử lý cán bộ, công chức trong Ngành được tiến hành đồng thời nên có tính giáo dục cao. Những việc làm đó khẳng định rõ rệt kết quả thực hiện cải cách tư pháp trong Ngành Kiểm sát, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào sự đúng đắn, khách quan của công lý XHCN.

Sau hơn 5 năm thi hành Nghị quyết 388, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, thì các cơ quan tư pháp cũng như Ngành Kiểm sát nhân dân cũng gặp không ít những tồn tại, vướng mắc cả do quy định của pháp luật, do nhận thức pháp luật và tổ chức thực hiện. Đối với các quy định của pháp luật, ngoài những tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện Nghị quyết 388 đã được Thông tư 01 và Thông tư 04 hướng dẫn, thì vẫn còn những tồn tại, vướng mắc cần tiếp tục nghiên cứu, tìm giải pháp khắc phục, cụ thể là:
Thứ nhất: Về xác định các trường hợp được bồi thường thiệt hại

Căn cứ Điều 1 Nghị quyết 388 quy định những người được bồi thường thiệt hại là:
– Người bị tạm giữ mà có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

– Người bị tạm giam mà có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

– Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

– Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này mà có bản án, quyết định của Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

– Những trường hợp thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này nếu có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại thì được bồi thường.

Về hình thức, các quy định trên xem ra là đầy đủ và chặt chẽ. Tuy vậy, có một số vấn đề ngay từ Điều 1 của Nghị quyết chưa quy định một cách cụ thể, đó là thế nào là “người không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật”; thế nào là “người không thực hiện hành vi phạm tội”. Các khái niệm này cũng chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự hoặc các văn bản pháp quy khác. Do đó dẫn đến những nhận thức khác nhau về các trường hợp bị oan và được bồi thường thiệt hại.

Có ý kiến cho rằng, người bị oan là người không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào kể cả về hình sự, hành chính, dân sự; ý kiến khác cho rằng hành vi đó đáng xử lý ở mức nào để kết luận. Đối với trường hợp Nghị quyết quy định người “không thực hiện hành vi phạm tội” có ý kiến cho rằng phải là người bị oan hoàn toàn. Song ý kiến khác lại đề cập là người tuy có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhưng hành vi đó chưa đến mức xử lý về hình sự. Từ những nhận thức khác nhau đó dẫn đến vướng mắc trong thực hiện, không ít trường hợp khiếu kiện kéo dài, vượt cấp.
Ngoài ra, trong thực tiễn còn có những trường hợp là bị oan, nhưng Cơ quan có thẩm quyền lại quyết định miễn tố đối với những trường hợp trước ngày có Bộ luật Tố tụng Hình sự  (1988) hoặc miễn trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp sau ngày có Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tất cả những trường hợp trên đây theo quy định của Nghị quyết số 388 thì không được áp dụng Nghị quyết số 388 để bồi thường.

Do vậy, có một số trường hợp được miễn tố trước đây, có đơn yêu cầu bồi thường, sau khi xem xét lại hồ sơ vụ án thì hành vi và sự việc của họ là bị oan, nên Cơ quan có thẩm quyền phải thay đổi để quyết định đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm. Đây là vấn đề tuy Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có nhiều hướng dẫn giải quyết, song vẫn còn là vướng mắc.

Để giải quyết các vướng mắc trên đây, xuất phát từ thực tiễn thi hành Nghị quyết số 388 chúng tôi đề xuất cần quy định cụ thể trường hợp nào thì được bồi thường hoặc lấy các quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự làm căn cứ, theo đó các trường hợp sau theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự là trường hợp được bồi thường:

– Người bị tạm giữ mà có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào.

Đối với người bị khởi tố, bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình, mà có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền quyết định theo một trong những căn cứ sau đây:

– Không có sự việc phạm tội.

– Hành vi không cấu thành tội phạm.

– Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh dược bị can đã thực hiện tội phạm. Có quy định như vậy mới phù hợp vái các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, và khắc phục được nhận thức khác nhau về vấn đề này.

Thứ hai: Xác định mức bồi thường thiệt hại

Nghị quyết 388 quy định thiệt hại được bồi thường bao gồm thiệt hại do tổn thất về tinh thần và thiệt hại về vật chất và khi xác định mức bồi thường thì phải xác định được các chi phí hợp lý mà người bị oan hoặc thân nhân của họ đã chi phí. Tuy nhiên, Nghị quyết 388 quy định mức bồi thường do tổn hại về tinh thần còn có nội dung chưa phù hợp với thực tiễn. Trong bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần chưa tính đến việc xin lỗi, khôi phục các quyền lợi hợp pháp khác đối với người bị oan như họ bị mất chức vụ, quyền hạn, vợ chồng ly tán, … chúng tôi cho rằng, cần xem xét để có quy định khôi phục, bù đắp các tổn hại về các quyền này cho người bị oan; hoặc Nhà nước cần xem xét để quy định bồi thường thiệt hại chung một khoản tiền để bù đắp cho họ là hợp với công bằng, lẽ phải. Việc xác định mức thiệt hại về vật chất để được bồi thường thiệt hại cũng gặp nhiều khó khăn do người bị oan không thể cung cấp đầy đủ chứng từ, hóa đơn chứng minh cho yêu cầu bồi thường đối với các chi phí như: chi phí cho việc chữa bệnh, do thời gian bị oan xảy ra đã lâu, người bị oan không thể lưu giữ được chứng từ, hóa đơn các chi phí đi lại, điều trị tại ngoại sau khi được trả tự do; ở thời điểm đó người bị oan không biết khi nào Nhà nước có quy định về bồi thường thiệt hại để lưu giữ lại các giấy tờ đó. Do đó, trường hợp nếu người bị oan không xuất trình được giấy tờ chứng minh các chi phí này thì trong luật bồi thường cần có quy định bồi thường một khoản chung về chi phí thực tế đối với họ.

Ngoài ra, trong một số trường hợp người bị oan tuy đã được Cơ quan chủ quản chi trả khoản tiền lương, tiền công trợ cấp trong thời gian bị tạm giam còn các khoản khác như tổn thất về tinh thần, các thu nhập thực tế hợp pháp khác bị thiệt hại chưa được giải quyết, thì sau ngày có Nghị quyết số 388 lại không được áp dụng Nghị quyết này để bồi thường những khoản chưa được bồi thường đó. Đây là vấn đề còn nhiều ý kiến, nhiều trường hợp bị oan đã khiếu kiện kéo dài nhưng đến nay chưa có hướng dẫn giải quyết.

Do vậy, để giải quyết những vấn đề bất cập nêu trên trong quá trình dự thảo Luật Bồi thường Nhà nước cần nghiên cứu đưa vào dự thảo luật quy định một khoản bồi thường chung cho người bị oan ở những khoản này.

Thứ ba: Việc khôi phục danh dự cho người bị oan

Khôi phục danh dự cho người bị oan là một nội dung quan trọng trong Nghị quyết 388, nhằm khôi phục những giá trị của con người khi bị xâm hại. Tuy vậy, pháp luật mới chỉ quy định chung, chưa có quy định cụ thể. Do đó, Thông tư 01 đã hướng dẫn, người đại diện cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường được Thủ trưởng cơ quan ủy quyền xin lỗi người bị oan và Thông tư 04 đã cụ thể hóa về người đại diện cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xin lỗi người bị oan là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, các văn bản trên lại chưa quy định việc khôi phục các quyền lợi chính trị cho người bị oan. Thực tiễn cho thấy, người bị oan trong nhiều trường hợp là cán bộ công chức, sĩ quan lực lượng vũ trang, Đảng viên, Giám đốc, Phó Giám đốc… những quyền lợi hợp pháp của họ về việc làm, chức vụ đang giữ, bị khai trừ khỏi Đảng, về chế độ bảo hiểm xã hội… tất cả đã bị mất, bị gián đoạn, khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định họ bị oan thì giải quyết như thế nào và do cơ quan nào giải quyết? Chúng tôi cho rằng, để bảo đảm việc khôi phục danh dự một cách đầy đủ, cần quy định cả việc khôi phục hoặc bồi thường những quyền lợi chính trị bị mất của người bị oan; đồng thời cần quy định thống nhất nội dung nghi thức tiến hành việc xin lỗi, cải chính công khai. Sự phối hợp giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với chính quyền đoàn thể ở địa phương nơi tổ chức khôi phục danh dự với cơ quan báo chí. 

Thứ tư: Về cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Nghị quyết 388 quy định những Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân các cấp; Cơ quan Thi hành án các cấp, là những cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, có một số vấn đề cần bổ sung và hoàn thiện, đó là:

– Xác định trách nhiệm bồi thường giữa Viện kiểm sát và Tòa án: Trường hợp Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, sau đó Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm để điều tra lại, sau đó Viện kiểm sát tiếp tục truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm lại trả hồ sơ để điều tra bổ sung, sau một số lần Toà án trả hồ sơ điều tra bổ sung, với kết quả điều tra bổ sung dẫn đến Viện kiểm sát phải ra quyết định đình chỉ vụ án do hành vi không cấu thành tội phạm, thì cơ quan nào phải bồi thường? có quan điểm cho rằng, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này là Tòa án sơ thẩm vì Tòa án sơ thẩm đã tuyên bố có tội và áp dụng hình phạt là cơ quan làm oan sau cùng. Nhưng có quan điểm cho rằng sau khi bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm huỷ án để điều tra lại, sau khi điều tra lại, Viện kiểm sát tiếp tục truy tố bị can bằng bản cáo trạng, cho dù sau này Viện kiểm sát đình chỉ vụ án nhưng trước đó Viện kiểm sát đã truy tố thì trường hợp này được xem là trường hợp truy tố oan nên Viện kiểm sát là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

Vấn đề xác định trách nhiệm liên đới: Nghị quyết 388 quy định trách nhiệm bồi thường chủ yếu theo phương thức lấy giai đoạn tố tụng để xác định trách nhiệm bồi thường là không hợp lý vì trong các giai đoạn tố tụng hình sự thì việc khởi tố bị can để điều tra thu thập chứng cứ, trách nhiệm chính là của Cơ quan điều tra; nhưng Nghị quyết số 388 lại quy định tất cả các trường hợp Viện kiểm sát phê chuẩn thì trách nhiệm bồi thường là Viện kiểm sát, đây là vấn đề nảy sinh bất cập, có ảnh hưởng đến tâm lý của nhiều cán bộ Ngành Kiểm sát. Chính vì vậy, dự thảo Luật Bồi thường Nhà nước cần có quan điểm để phân định trách nhiệm liên đới của mỗi cơ quan trong hoạt động tố tụng hình sự, có như vậy, mới bảo đảm công bằng và đề cao trách nhiệm trong công tác.

Việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra không phải là vấn đề mới mà được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng chủ yếu dừng lại ở những nguyên tắc chung, nhiều quy định còn “treo” không được thi hành trên thực tiễn. Nghị quyết 388 tuy đã quy định chi tiết nhưng vẫn còn có những tồn tại, vướng mắc dẫn đến việc áp dụng một số quy định không thống nhất dẫn đến nhiều trường hợp chậm được giải quyết, gây khiếu kiện kéo dài, bức xúc.

Bên cạnh việc nhận thức đúng đắn về Nghị quyết 388 của đa số cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp, vẫn còn một bộ phận nhận thức không đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của Nghị quyết này; trong quá trình tiến hành giải quyết bồi thường cho người bị oan còn có biểu hiện né tránh, sợ trách nhiệm, khuyết điểm. Nhận thức pháp luật và năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ chuyên trách việc bồi thường còn non kém, dẫn đến hiệu quả và chất lượng đạt được còn thấp.

Bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự được Nhà nước ta hết sức quan tâm. Việc quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng khi thi hành công vụ gây ra đã ngày càng trở lên quen thuộc trong Nhà nước pháp quyền và trở thành một trong những công cụ để đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Cùng với việc tích cực ngăn chặn và giải quyết kịp thời các hiện tượng làm oan trong hoạt động tố tụng hình sự, cần có cơ chế bồi thường thiệt hại bằng việc thể chế hóa chính sách, cơ chế đó bằng pháp luật. Những nội dung đó là:

Xác định cụ thể, đúng dối tượng được bồi thường và không được bồi thường theo hướng bám sát các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các trường hợp bị oan được đình chỉ điều tra với các trường hợp được đình chỉ khác.
Các khoản bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo quy định của pháp luật cần được quy định bồi thường đầy đủ, các thiệt hại gồm thiệt hại về vật chất, thiệt hại do tổn thất tinh thần.

Về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường và cấp kinh phí bồi thường phải thuận tiện, nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị thiệt hại.

Căn cứ các Điều 29 và 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc bồi thường cho người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự không chỉ có người bị oan mà còn bồi thường cho người bị thiệt hại khác do người có thẩm quyền trong hoạt động hình sự gây ra. Do đó, trong dự thảo Luật Bồi thường Nhà nước cần có quy định phù hợp đối với đối tượng này nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ về tài sản khi bị thiệt hại.

Về cơ quan giải quyết bồi thường thiệt hại.

Từ thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo Nghị quyết 388 trong thời gian qua nhận thấy, nên có quy định Cơ quan giải quyết bồi thường theo mô hình tập trung. Cụ thể là cơ quan bồi thường trong bồi thường Nhà nước là Cơ quan tư pháp (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng tư pháp). Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự nên là Viện kiểm sát nhân dân, vì trong các giai đoạn tiến hành tố tụng từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án, Viện kiểm sát là Cơ quan duy nhất có chức năng giám sát hoạt động của các Cơ quan tố tụng trong suốt quá trình tiến hành tố tụng, nên có điều kiện nắm chắc và đánh giá đầy đủ, đúng bản chất sự việc, đó là điều kiện để giải quyết nhanh chóng việc bồi thường cho người bị oan khi có yêu cầu.

Về quy định nghĩa vụ hoàn trả

Việc quy định trách nhiệm của người tiến hành tố tụng đã gây ra việc làm oan trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án có nghĩa vụ hoàn trả cho Nhà nước khoản kinh phí mà Nhà nước đã bỏ ra để bồi thường cho người bị oan là phù hợp với các quy định của pháp luật; đồng thời cũng là để nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp nhằm làm đúng pháp luật trong khi thi hành công vụ. Tuy nhiên, đây là một vấn đề nhạy cảm, để cân nhắc các tính toán quy định về nghĩa vụ hoàn trả, để tránh khuynh hướng những người tiến hành tố tụng sợ bị làm oan và phải hoàn trả cho Nhà nước, mà “chùn tay” trong đấu tranh phòng chống tội phạm, dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc không kiên quyết tấn công tội phạm dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ. Do vậy, để phát huy tác dụng của quy định này trên cả hai phương diện đó là Nhà nước vừa thu hồi được khoản tiền đã bồi thường mà vẫn đề cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng chống tội phạm của các cán bộ tư pháp. Do vậy, Luật Bồi thường Nhà nước chỉ nên có quy định chung là “Nhà nước có quyền yêu cầu người đã gây ra oan phải có nghĩa vụ hoàn trả”. Còn trường hợp nào phải hoàn trả, cũng như mức hoàn trả sẽ tuỳ trường hợp cụ thể để quy định.

Ngoài ra, để bảo đảm việc hoàn trả được chính xác đúng với nghĩa vụ và trách nhiệm hoàn trả (tương xứng với mức độ lỗi), cần có quy định trách nhiệm liên đới giữa các cơ quan hoặc trong cùng một cơ quan tiến hành tố tụng đã để xảy ra việc làm oan. Vì trên thực tế việc để xảy ra oan là có trách nhiệm của nhiều giai đoạn tố tụng, theo đó sẽ có trách nhiệm của nhiều Cơ quan khác nhau trước các vụ việc làm oan đó.

Về quy định việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan là người nước ngoài.

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, tình trạng phạm tội do người nước ngoài thực hiện đã và đang có chiều hướng phát triển. Do vậy, việc  tạm giữ, tạm giam, khởi tố truy tố, xét xử đối tượng là người nước ngoài đã xảy ra, theo đó cũng có thể có vụ việc oan sai. Do vậy Luật Bồi thường Nhà nước cần có quy định bồi thường cho các đối tượng này là phù hợp với thực tiễn pháp luật của chúng ta và thông lệ quốc tế.

Để Luật Bồi thường Nhà nước sau khi được Quốc hội ban hành, trong đó có quy định về bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự đi vào thực tế cuộc sống và phát huy tác dụng, một mặt cần nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội và trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế của nước ta hiện nay; Mặt khác cũng cần có chế độ chính sách và các điều kiện vật chất cụ thể, đủ để tổ chức thực thi nhiệm vụ của các Cơ quan Nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức nói chung và cán bộ các Cơ quan tư pháp nói riêng, trong đó lưu ý tới điều kiện bảo đảm đời sống của đội ngũ này.

Trước khi trình dự án luật để Quốc hội thông qua, cần tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp dân cư trong xã hội; đồng thời sau khi Luật được ban hành cần có kế hoạch tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong các tầng lớp xã hội để mọi người hiểu biết và thực thi Luật một cách nghiêm túc.

Qua 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 388 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự, đã tạo ra sự chuyển biến tích cực, không chỉ trong nhận thức của cán bộ Cơ quan tư pháp mà còn đối với các cấp, các ngành và toàn thể xã hội đối với công tác tư pháp. Việc nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy đối với công cuộc cải cách tư pháp đã, đang tạo ra những tác động tốt, có tác dụng thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế, cải cách hành chính mà chúng ta đang tiến hành, đồng thời phù hợp với xu thế mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của công dân trong mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Với kết quả đó đã tạo ra sự chuyển biến tích cực về tổ chức và hoạt động của các Cơ quan tư pháp đặt nền móng cho cải cách mang tính chiến lược ở giai đoạn tiếp theo.

Tiếp thu kết quả và kinh nghiệm thực tiễn từ thực hiện Nghị quyết 388 trong những năm qua là rất có ý nghĩa để chúng ta nghiên cứu xây dựng các quy định về bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong Luật Bồi thường Nhà nước./.

SOURCE: TẠP CHÍ DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT

Trích dẫn từ:  http://vibonline.com.vn/vi-VN/Home/TopicDetail.aspx?TopicID=2035

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: