KHÔNG THỂ PHÂN LOẠI CHẤP HÀNH VIÊN

TS. LÊ THU HÀ – Học viện Tư pháp

Về cơ bản, các Pháp lệnh Thi hành án dân sự (THADS) (năm 1989, năm 1993, năm 2004) cũng như các dự thảo Bộ luật Thi hành án (THA), Luật THADS đều xác định chấp hành viên là người có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của tòa án và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Để có thể hoàn thành nhiệm vụ, chấp hành viên phải là người nắm vững pháp luật, được trang bị nghiệp vụ THA thể hiện qua trình độ cử nhân luật và có chứng chỉ nghiệp vụ THA. Điều này cũng đã được quy định trong Pháp lệnh THADS năm 2004, các dự thảo Bộ luật THA và sau này là cho đến Dự thảo số 5 Luật THADS (tháng 2/2008). Yêu cầu về có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THA là phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội, khi mọi nghề nghiệp, từ lao động giản đơn đến những hoạt động đặc thù, đều đòi hỏi được đào tạo kiến thức nghiệp vụ… Chính vì vậy, quan niệm về bổ nhiệm chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên cao cấp trong một số dự thảo Luật THADS gần đây lại cần thiết phải có sự nghiên cứu, trao đổi.

Ý tưởng về bổ nhiệm các loại chấp hành viên từ trình độ sơ cấp đến trình độ trung cấp và trình độ cao cấp bắt đầu xuất hiện từ Điều 27 của Dự thảo số 4 Luật THADS, cụ thể:

“1. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật, đã được đào tạo nghiệp vụ THA, có thời gian làm công tác pháp luật, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm chấp hành viên.

2. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm chấp hành viên sơ cấp.

3. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, đã làm Chấp hành viên cơ quan THA sơ cấp từ năm năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA thì có thể được xem xét, bổ nhiệm làm chấp hành viên trung cấp.

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của cơ quan THA, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 của Điều này, đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA thì có thể được xem xét, bổ nhiệm làm chấp hành viên trung cấp.

4. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 của Điều này, đã làm chấp hành viên trung cấp từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA thì có thể được xem xét, bổ nhiệm làm chấp hành viên cao cấp.

Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của cơ quan THA, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 của Điều này, đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm chấp hành viên cao cấp.

5. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 của Điều này, là sỹ quan quân đội tại ngũ, có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA quân đội, thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm chấp hành viên trung cấp.

6. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 của Điều này, đã làm chấp hành viên trung cấp từ mười năm trở lên, có năng thực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA quân đội thì có thể được xem xét bổ nhiệm làm chấp hành viên cao cấp.

Trong trường hợp do nhu cầu của cơ quan THA, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 của Điều này, là sỹ quan quân đội đang tại ngũ có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA quân đội thì có thể được xem xét, bổ nhiệm là chấp hành viên cao cấp…”.

Trong quy định về chấp hành viên theo Dự thảo số 4 Luật này có một số điểm cần lưu ý:

Thứ nhất, để trở thành chấp hành viên, phải có hai tiêu chuẩn căn bản là có bằng cử nhân luật và có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THA. Đây cũng là những tiêu chuẩn căn bản về bổ nhiệm chấp hành viên theo quy định của pháp luật THADS từ trước cho đến nay.

Thứ hai, từ hai tiêu chuẩn căn bản này, năm công tác sẽ là yếu tố quyết định người đó trở thành chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp hay chấp hành viên cao cấp. Đây là quy định mới so với pháp luật hiện hành.

Năm công tác thể hiện kinh nghiệm của người làm nghề, càng nhiều năm làm việc thì kinh nghiệm, sự hiểu biết về nghề cao hơn, bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng hơn, đó là điều tất yếu. Nhưng trong lĩnh vực THA cũng như nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác, yếu tố này chỉ quyết định đến mức lương, sự đánh giá về cống hiến, chứ không có ý nghĩa quyết định đến sự thay đổi vị trí trong nghề nghiệp. Bởi đặc điểm của nghề THA (nếu và nên coi THA là một nghề) là việc thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án và quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác. Tất cả các cơ quan THA, các chấp hành viên, dù ở cơ quan THA nào, cấp huyện hay cấp tỉnh, đều phải thực hiện đúng nguyên tắc này. Mặt khác, trong THA, không tồn tại những nguyên tắc như trong tố tụng xét xử, ví dụ: bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm có thể bị xem xét lại ở tòa án cấp phúc thẩm theo nguyên tắc hai cấp xét xử. Tất cả các cơ quan THA đều có nhiệm vụ THA trong thẩm quyền, không có việc nếu cơ quan THA này không xong thì chuyển cho cơ quan THA khác. Điều này đòi hỏi các chấp hành viên đều phải có trình độ mặt bằng chung giống nhau, cũng như các cơ quan THA, không thể có cơ quan THA cấp cao hơn hay cơ quan THA cấp thấp hơn. Không có khái niệm cao, thấp, giỏi hơn, kém hơn trong THA.

Vì vậy, nếu quy định như Dự thảo số 4 của Luật, thì dù không chủ ý, nhưng nhà làm luật đã đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với chấp hành viên. Trong khi đó, đặc điểm của hoạt động THA, như đã phân tích, đòi hỏi tất cả các chấp hành viên, dù làm ở cơ quan THA nào cũng phải có tiêu chuẩn mặt bằng như nhau đối với yêu cầu công việc. Mặt khác, cách xây dựng hệ thống chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên cao cấp vô tình làm chấp hành viên hạn chế tính độc lập trong công việc do trình độ của mình yếu kém hơn trình độ của chấp hành viên khác.

Tìm hiểu lý do có ý tưởng phân cấp chấp hành viên, chúng tôi được biết xuất phát từ thực tiễn các chấp hành viên được điều chuyển từ cơ quan THA này sang cơ quan THA khác, nếu cùng cấp thì không gặp khó khăn nhiều, nhưng nếu từ cấp tỉnh xuống cấp huyện, hoặc ngay từ cấp huyện điều chuyển công tác lên cấp tỉnh cũng gặp rất nhiều trở ngại do sự khác nhau về mức lương, hệ số chức vụ, sự chênh lệch về thang, bảng lương của chấp hành viên ở cơ quan THA cấp huyện và THA cấp tỉnh… Nhưng theo chúng tôi, đây là những vấn đề về tổ chức nhân sự, tiền lương… nên phải giải quyết bằng chế độ về tổ chức, nhân sự, tiền lương, không thể giải quyết những bất cập này bằng các quy định về trình độ chuyên môn. Mặt khác, ngay cơ quan THA cũng có thể khắc phục được những bất cập này trong khả năng của mình mà không cần phải liên hệ tới nhiều thiết chế khác. Cụ thể, trong quyết định bổ nhiệm chấp hành viên, thay vì ghi rõ bổ nhiệm làm chấp hành viên cơ quan THA cụ thể (ví dụ THA quận Ba Đình, THA tỉnh Hà Tây), trong quyết định bổ nhiệm chỉ ghi: bổ nhiệm ông A làm chấp hành viên cơ quan THA (theo đúng tiêu chuẩn được ghi trong luật). Trên có sở quyết định bổ nhiệm chấp hành viên, có một quyết định điều động công tác chấp hành viên A làm việc ở cơ quan THA cụ thể. Làm theo cách này, việc điều động công tác đối với chấp hành viên rất dễ dàng, không phải làm quyết định bổ nhiệm mới khi điều động chấp hành viên sang cơ quan THA. Cách làm này cũng không làm thay đổi mức lương, hệ số chức vụ hay những vấn đề khác liên quan đến ngạch chuyên viên, chuyên viên chính hay chuyên viên cao cấp. Đồng thời, việc điều chuyển công tác cũng không làm thay đổi mức lương cơ bản, ngạch, bậc công tác của chấp hành viên, dù từ THA cấp tỉnh tới làm việc tại THA cấp huyện. Lương, ngạch, bậc, chức vụ… của chấp hành viên khi đó sẽ phụ thuộc vào năm công tác (năm cống hiến), không phụ thuộc vào nơi công tác của chấp hành viên.

Thế nên, theo chúng tôi, việc phân loại chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên cao cấp như trong Dự thảo số 4 Luật này là không hợp lý.

Ngoài ra, cũng cần trao đổi thêm hai vấn đề khác mà Điều 27 quy định.

Thứ nhất, điều kiện về năm công tác. Như đã phân tích, năm công tác thể hiện sự hiểu biết, kinh nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp. Bỏi thế, năm công tác được quy định phải là năm công tác trong lĩnh vực THA, không thể quy định chung chung là công tác trong lĩnh vực pháp luật. Cách quy định đó chỉ phù hợp ở thời điểm chúng ta thiếu cán bộ và không thể có nguồn đào tạo chính quy, bài bản. Còn thời điểm hiện nay là đã thích hợp để chuẩn hóa đội ngũ cán bộ THA, khi sau hơn gần ba mươi năm thành lập Trường Đại học luật Hà Nội, đã có hàng chục vạn cử nhân luật chính quy tốt nghiệp ra trường, nhiều nghìn người làm việc ở các cơ quan THA và rất nhiều người đã được đào tạo nghiệp vụ THA ở Học viện Tư pháp.

Thực tế hiện nay cũng có người được bổ nhiệm chấp hành viên THA cấp tỉnh hoặc trưởng, phó trưởng phòng THA nhưng lại chưa qua một ngày làm công tác THA. Sau khi đảm nhiệm các vị trí công tác này, người đó mới đi học để “trả nợ tiêu chuẩn” có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ. Như vậy, dù sau khi đã “trả nợ” đủ tiêu chuẩn, có năm công tác đủ theo điều kiện pháp luật quy định, nhưng thực tế, người chấp hành viên cụ thể đó chỉ bắt đầu hoạt động nghề nghiệp của mình từ năm thứ nhất. Tình trạng này không phải là phổ biến, nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn tồn tại sau khi hoạt động THA đã có hàng chục năm (tính từ khi thành lập cơ quan THA) là điều mà cơ quan chức năng cần nghiêm túc xem xét. Trước hết, phải chuẩn hóa trong luật, theo đó, năm công tác phải là năm công tác trong hoạt động THA, công tác về nghiệp vụ chứ không phải bất kỳ ai làm việc ở cơ quan THA như làm kế toán, thủ quỹ, bảo vệ, lái xe… dù họ có bằng cử nhân luật. Tiếp đó là lộ trình thực hiện về thời gian, từ năm nào đến năm nào cần bao nhiêu chấp hành viên, trình độ thế nào; đến năm nào thì chuẩn hóa được toàn bộ đội ngũ cán bộ THA. Như vậy, công tác làm luật không thể tách rời khỏi hoạt động thực tiễn với kế hoạch cụ thể, khoa học.

Thứ hai, quy định về “năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA” như trong diễn đạt bổ nhiệm chấp hành viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp sẽ mâu thuẫn với quy định về tiêu chuẩn chung được quy định tại Khoản 1 của Điều 27. Khoản 1 của Điều 27 đã quy định tiêu chuẩn có bằng cử nhân luật, có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THA chính là tiêu chuẩn về phẩm chất, về năng lực THA. Việc quy định thêm những người này còn phải có “năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA” mà không ghi rõ cụ thể là năng lực gì, nó có khác với tiêu chuẩn chung hay không, khác thì khác ở chỗ nào đã thể hiện sự bất cập không nên có trong quá trình xây dựng luật.

Không dừng lại ở những bất cập trong việc phân loại chấp hành viên, Dự thảo số 6 Luật THADS tiếp tục triển khai vấn đề sang một hướng mới. Chấp hành viên theo Dự thảo số 6 không chỉ có ba cấp như Dự thảo số 4, mà còn thay đổi hẳn tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên theo từng cấp. Về tiêu chuẩn của chấp hành viên, Điều 29 Dự thảo số 6 Luật THADS quy định:“Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, đã được đào tạo nghiệp vụ THA, có thời gian làm công tác pháp luật, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm chấp hành viên”. Điều kiện bổ nhiệm chấp hành viên theo cấp, theo Điều 30, ngoài điều kiện về tiêu chuẩn của chấp hành viên, thời gian công tác, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA thì: chấp hành viên sơ cấp phải có “trình độ trung cấp pháp lý trở lên”…; chấp hành viên trung cấp phải “có trình độ cử nhân luật trở lên”…; chấp hành viên cao cấp phải “làm chấp hành viên trung cấp từ mười năm trở lên, có năng lực chỉ đạo, tổ chức thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA cấp tỉnh” hoặc “có thời gian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm trở lên, có trình độ cử nhân luật trở lên, có năng lực chỉ đạo, tổ chức thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan THA cấp tỉnh”. Ngoài ra còn có một số đặc thù riêng đối với các chấp hành viên làm trong cơ quan THA quân đội.

Theo Dự thảo số 4 Luật này, đã là chấp hành viên thì phải có hai tiêu chuẩn chung là có bằng cử nhân luật và có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THA, nhưng Dự thảo số 6 Luật THADS đột ngột chuyển sang hướng mới hoàn toàn: chấp hành viên ở cấp khác nhau không chỉ đòi hỏi năm công tác khác nhau mà về trình độ luật cũng khác nhau, ngoài một tiêu chuẩn chung là có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ THA. Cụ thể, chấp hành viên sơ cấp chỉ cần trình độ trung cấp luật, thay vì bằng cử nhân luật như trong các quy định của Dự thảo Luật trước đó. Chỉ chấp hành viên trung cấp và chấp hành viên cao cấp mới đòi hỏi bằng cử nhân luật.

Vậy với trình độ thấp hơnV, được chuẩn hóa trong luật, phải chăng chấp hành viên sơ cấp có quyền làm nhiệm vụ THA kém hơn so với chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên cao cấp? Mặt khác, chấp hành viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp sẽ được bố trí làm việc ở cơ quan THA nào? Nếu họ làm việc ở một cơ quan THA cũng không ổn, bởi vì với ba trình độ khác nhau, sẽ phân công việc THA ra sao cho ba người có trình độ khác nhau theo mức độ cao /thấp này, dù việc THA nào cũng có yêu cầu giống nhau là thi hành được và thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án. Nếu phân công ba loại chấp hành viên làm việc ở ba cơ quan THA khác nhau cũng không được, vì tất cả các cơ quan THA, với đặc điểm của mình, không có cấp trên, cấp dưới trong THA, đều có nhiệm vụ chung là THA. Các cơ quan THA này thực hiện nhiệm vụ độc lập với nhau, không theo nguyên tắc cấp trong THA.

Dự thảo số 11 Luật THADS trình Quốc hội xét góp ý kiến cũng có quy định tương tự về chấp hành viên như Dự thảo số 6 Luật này. Rõ ràng, cách phân cấp chấp hành viên, nhất là trong Luật THADS từ Dự thảo số 6 đến Dự thảo số 11 chưa dựa trên một cơ sở lý luận cũng như những hiểu biết căn bản về hoạt động THA cũng như về chấp hành viên. Đây là cách quy định khác xa so với tư duy về nghề nghiệp cũng như tư duy về nghề THA.

Ngoài ra, trong thực tế THADS, sự độc lập của chấp hành viên gần như không được quan tâm hoặc nhìn nhận đúng từ nhiều góc độ. Trước hết, từ chính chấp hành viên. Trong thời gian dài, nếu chỉ tính từ khi nhiệm vụ THA được chuyển từ tòa án sang cơ quan THA, được thành lập và chính thức hoạt động từ 1/7/1993, đội ngũ cán bộ THADS, trong đó có các chấp hành viên được bổ sung không ngừng về số lượng. Từ chưa đến một trăm chấp hành viên của tòa án, đến nay, các cơ quan THA đã có 7.454 người, trong đó cơ quan THADS là 7.336 người, cơ quan THADS trong quân đội là 118 người[1]. Tuy số lượng đội ngũ chấp hành viên được tăng lên không ngừng, nhưng theo đánh giá chung của dư luận xã hội và của chính Quốc hội những năm gần đây đều cho rằng, ngành THADS “thiếu về số lượng, yếu về chất lượng”.

Việc yếu về chất lượng được biểu hiện chủ yếu thông qua khả năng áp dụng pháp luật trong nghiệp vụ THA của chấp hành viên. Nhiều vụ việc đơn giản, nhưng vì yếu về nghiệp vụ mà chấp hành viên làm cho vụ việc trở nên phức tạp, khó thi hành, có nhiều khiếu nại từ đương sự. Ví dụ, trong một vụ cưỡng chế tài sản, nghĩa vụ phải thi hành là việc trả tiền mười lăm triệu đồng, nhưng chấp hành viên cho kê biên hai căn nhà, một xe máy (riêng xe trị giá 18 triệu đồng) và nhiều tài sản khác. Trong khi đó, chấp hành viên chỉ cần kê biên riêng một chiếc xe máy đã đủ để thi hành, nhưng không hiểu vì lý do gì, chấp hành viên lại kê biên và phong tỏa nhiều tài sản khác của người phải THA.

Hoặc một vụ việc khác, liên quan đến cưỡng chế kê biên tài sản là nhà ở. Khi bán tài sản, chấp hành viên cho dỡ từng nguyên vật liệu để bán riêng lẻ, như bao nhiêu viên ngói, bao viên gạch, cửa… Kiểu bán tài sản này của chấp hành viên là bán nguyên vật liệu cũ nên rất rẻ. Nhưng nếu bán cả căn nhà thì giá trị bán của căn nhà sẽ khác hoàn toàn.

Hoặc có vụ, trong bản án, tòa án sau khi quyết định nghĩa vụ trả tiền của người phải THA, còn ghi rõ tài sản bảo đảm THA là căn nhà. Quá trình THA, người được THA, người phải THA đều đồng ý đề nghị tòa án cho kê biên và bán tài sản bảo đảm việc THA là một mảnh đất, giá thị trường ở thời điểm đó cao hơn nghĩa vụ phải trả tiền, nhưng cơ quan THA cương quyết không chấp nhận vì theo bản án, tài sản bảo đảm THA là căn nhà, nên cơ quan THA phải kê biên căn nhà, dù căn nhà kê biên có giá trị thấp hơn nghĩa vụ THA. Chắc chắn, cơ quan THA sau khi kê biên căn nhà, sẽ phải kê biên tiếp tài sản khác của người phải THA, không loại trừ tài sản phải kê biên tiếp theo là mảnh đất mà cơ quan THA đã từ chối không kê biên.

Ngoài ra, nhiều trường hợp chấp hành viên không tiến hành những thủ tục cần thiết cho việc THA như không triệu tập đương sự, lần lữa áp dụng biện pháp cưỡng chế…

Một thực trạng tương đối phổ biến ở các cơ quan THA địa phương là trong rất nhiều vụ việc, chấp hành viên luôn chờ đợi hướng giải quyết của thủ trưởng cơ quan THA. Chỉ khi có ý kiến chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan THA thì chấp hành viên mới tiến hành thủ tục THA, kể cả những vụ việc đơn giản nhất. Hiện trạng này có nhiều nguyên nhân, trong đó một nguyên nhân cực kỳ quan trọng là do trình độ của chấp hành viên. Khi kiến thức pháp luật và khả năng thực hiện nghiệp vụ THA của chấp hành viên chưa đạt đến mức độ gọi là chuẩn thì không thể có sự độc lập.

Nguyên nhân nội tại này là tình trạng không phải chỉ riêng của ngành THA mà đó là tình hình chung của toàn ngành tư pháp. Nếu chúng ta không quan tâm đúng mức tình hình này, cộng với những quy định của pháp luật THADS theo tư duy phân cấp chấp hành viên mà không được xem xét, nghiên cứu và điều chỉnh cẩn thận, chắc chắn sẽ làm cho những trì trệ trong THADS ngày càng khó khắc phục.

Chú thích:

[1] Số liệu được sử dụng theo tài liệu trong Tọa đàm về Dự thảo Luật THADS do ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Dự thảo Star -Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 25, 26/2/2008.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 127 THÁNG 7/2008

 

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: