Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

BÁO CÁO SỐ 110/BC-BTP NGÀY 11/7/2008 CỦA BỘ TƯ PHÁP TỔNG KẾT 5 NĂM TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM (2002 – 2007)

(Tài liệu phục vụ công tác xây dựng Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm)

Trong nền kinh tế thị trường, việc xác lập các giao dịch bảo đảm (như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh hoặc các giao dịch mang tính chất bảo đảm khác như bảo lưu quyền sở hữu trong bán trả chậm, trả dần, cho thuê tài chính v.v…) ngày càng phổ biến. Do đó, việc công khai, minh bạch các giao dịch bảo đảm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch và khuyến khích hoạt động đầu tư vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc cho vay đáp ứng nhu cầu sinh hoạt.

Xuất phát từ yêu cầu nêu trên, từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển để phục vụ việc xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm. Với sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, sự hưởng ứng của cộng đồng doanh nghiệp cùng với sự trợ giúp của các nhà tài trợ nước ngoài, hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm tại Việt Nam đã hình thành, từng bước kiện toàn và khẳng định vai trò là một trong những thiết chế tích cực hỗ trợ sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhằm đánh giá tổng quát việc triển khai công tác đăng ký giao dịch bảo đảm trong những năm qua, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá 5 năm thực hiện công tác đăng ký giao dịch bảo đảm (2002 – 2007).

Sau đây là Báo cáo đánh giá 5 năm triển khai công tác đăng ký giao dịch bảo đảm là tài liệu chính thức của Hội nghị tổng kết, đánh giá 5 năm thực hiện công tác đăng ký giao dịch bảo đảm (2002-2007). Báo cáo này gồm 3 phần tập trung đánh giá 5 năm thực hiện công tác quản lý và đăng ký giao dịch bảo đảm, trong đó khẳng định các kết quả đã đạt được, các điểm hạn chế cần tiếp tục tháo gỡ, phân tích các nguyên nhân, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra mục tiêu và các giải pháp nhằm tăng cường công tác đăng ký giao dịch bảo đảm trong thời gian tới.

PHẦN THỨ NHẤT

NHỮNG KẾT QUẢ CỦA CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG 5 NĂM QUA

1. Công tác xây dựng pháp luật

Đến nay, pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm đã được xây dựng và hoàn thiện về cơ bản, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai đăng ký trong thực tế thông qua hàng loạt các cải cách về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức khi yêu cầu đăng ký và tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm góp phần tạo sự an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội của nước ta.

Ngay từ những năm đầu của công cuộc Đổi mới, đặc biệt trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay, Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng pháp luật về giao dịch bảo đảm. Với sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2005, pháp luật về giao dịch bảo đảm đã được thống nhất và trở thành nền tảng pháp luật chung cho mọi loại giao dịch bảo đảm trên cơ sở thống nhất pháp luật về hợp đồng, không còn phân biệt giao dịch bảo đảm trong quan hệ dân sự hoặc trong tín dụng, ngân hàng. Trong đó, có nhiều điểm tiến bộ được các nhà đầu tư trong và ngoài nước đánh giá cao.

Nhằm hoàn thiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tích cực, chủ động cùng với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng và các Bộ, ngành khác có liên quan, các UBND cấp tỉnh nghiên cứu, đề xuất một số cải cách trong lĩnh vực này và đã đạt được những kết quả sau đây:

– Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm được ban hành và tiếp tục được khẳng định trong Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam v.v… cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành. Từ đó, cho thấy về cơ bản đã có đủ cơ sở pháp lý để triển khai hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm, đáp ứng được yêu cầu thực tế và xu hướng hội nhập với pháp luật quốc tế;

– Thiết lập và bảo đảm thực thi nguyên tắc công khai hóa thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản, giao dịch thuộc diện đăng ký. Pháp luật khẳng định quyền được tiếp cận thông tin về tài sản của các tổ chức, cá nhân khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đó. Đồng thời, cũng quy định đây là trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm. Trên thực tế, với việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, việc đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã trở nên ngày càng phổ biến;

– Phạm vi đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản được mở rộng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc mở rộng phạm vi công khai hoá các nghĩa vụ được ưu tiên liên quan đến động sản, giúp cho các chủ nợ có được nhiều thông tin hơn để đánh giá mức độ rủi ro khi nhận bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng các tài sản này;

– Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, về cơ bản đã đáp ứng các yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, trong đó quy trình đăng ký, cung cấp thông tin đã được cải tiến, đảm bảo thuận tiện, khoa học và giảm chi phí như: đơn giản và minh bạch hoá hồ sơ, thủ tục đăng ký; loại bỏ các giấy tờ không cần thiết trong hồ sơ; rút ngắn thời hạn giải quyết từ 3 đến 5 ngày xuống còn ngay trong ngày nhận hồ sơ hợp lệ; thực hiện đăng ký liên thông; quy định rõ ràng quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu đăng ký và trách nhiệm của cán bộ đăng ký; thống nhất một số quy trình, thủ tục đăng ký giao dịch, tài sản.

Hệ thống văn bản pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm ở nước ta bước đầu tạo được lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần khai thông thị trường vốn và đảm bảo an toàn cho sự vận hành của hệ thống tín dụng Việt Nam

2. Về xây dựng tổ chức đăng ký giao dịch bảo đảm

2.1. Xây dựng thành công, vận hành thông suốt và có hiệu quả các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản

Xuất phát từ quan điểm cải cách hành chính, Bộ Tư pháp đã thành lập các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm theo mô hình ngành dọc, gọn nhẹ, nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và có thẩm quyền đăng ký không theo địa giới hành chính mà khách hàng có thể lựa chọn bất kỳ Trung tâm nào cũng được, đồng thời các dữ liệu được quản lý tập trung, thống nhất trong Hệ cơ sở dữ liệu quốc gia các giao dịch, tài sản.

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang gấp rút triển khai thực hiện Đề án hiện đại hoá hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc thực hiện thành công Đề án sẽ cho phép các tổ chức, cá nhân đăng ký và tìm hiểu thông tin trực tuyến qua mạng internet. Với việc thành lập và hoạt động ngày càng phát triển của các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản, Việt Nam đã thành công trong việc xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản theo mô hình tiên tiến trên thế giới và đã được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tổng kết, đưa thành một ví dụ tiêu biểu để các quốc gia trong khu vực tham khảo.

2.2. Kiện toàn các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển

Trong những năm qua, Bộ Giao thông vận tải đã kiện toàn cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm thông qua việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của các cơ quan này, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho công tác đăng ký.

Theo quy định hiện hành, Cục Hàng không Việt Nam là cơ quan duy nhất có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về các giao dịch bảo đảm bằng tàu bay. Theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 và Nghị định số 49/2006/NĐ-CP về đăng ký và mua, bán tàu biển thì việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu biển được thực hiện tại cơ quan đăng ký tàu biển khu vực, nơi đăng ký tàu biển đó. Cho đến nay, cả nước có ba cơ quan thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu biển đặt tại Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ quan này đều được thành lập và tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển trong phạm vi cả nước trước năm 2002.

2.3. Thành lập và phát triển hệ thống các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

Sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã tiến hành xây dựng và tổ chức hoạt động hệ thống các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất bao gồm:

– Thành lập 64 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh) nơi có đất, tài sản gắn liền với đất để thực hiện đăng ký thế chấp trong trường hợp bên thế chấp là tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài.

Thành lập 257 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện; củng cố 416 Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện đối với những nơi chưa thành lập hoặc không thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (sau đây gọi chung là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện) để thực hiện đăng ký thế chấp trong trường hợp bên thế chấp là hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

– Tạo điều kiện cho các Ủy ban nhân dân xã, thị trấn (khu vực nông thôn) thực hiện đăng ký việc thế chấp của hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp được Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện (hoặc Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường đối với nơi chưa có Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) ủy quyền bằng văn bản (người trực tiếp nhận uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ là cán bộ địa chính xã).

Như vậy, đến nay, mọi cá nhân, tổ chức dùng bất kỳ tài sản nào để bảo đảm đều có cơ quan để đăng ký và tìm hiểu thông tin.

3. Công tác hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính kịp thời có văn bản hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc, góp phần hạn chế những ách tắc trong quá trình đăng ký giao dịch bảo đảm.

Việc tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm nói chung và đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nói riêng cũng được chú trọng. Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức gần 20 lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ đăng ký tại địa phương. Bên cạnh đó, nhiều Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã tích cực, chủ động tổ chức hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức các lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm tại địa phương mình, điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa -Vũng Tàu, Kon Tum, Thanh Hoá, Hải Dương.

Riêng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển, sự phối kết hợp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Giao thông vận tải còn chưa thực sự chặt chẽ, chưa tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về giao dịch bảo đảm cho các đối tượng này.

4. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng và nhiều UBND cấp tỉnh đã triển khai các hoạt động này theo hướng ngày càng mở rộng hơn về đối tượng, địa bàn và đa dạng về phương thức, tổ chức gần 100 đợt tuyên truyền, phổ biến pháp luật, với số lượng người tham dự mỗi lớp từ vài chục đến hàng trăm đại biểu. Ngoài ra, một Website đã được đưa vào sử dụng nhằm phục vụ công tác tuyên truyền về đăng ký giao dịch bảo đảm. Từ đó, số lượng đăng ký đã không ngừng tăng trong thời gian qua tại khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã đóng góp một phần quan trọng vào công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm.

5. Công tác kiểm tra về quản lý và tổ chức đăng ký giao dịch bảo đảm

Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều đoàn kiểm tra về công tác đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước. Riêng năm 2007, hoạt động kiểm tra được đẩy mạnh hơn tại 13 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền.

Kết quả kiểm tra cho thấy, về cơ bản pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm đã được thực thi nghiêm túc, số lượng hồ sơ đăng ký ngày một tăng và được giải quyết đúng thời hạn. Nhiều kinh nghiệm tốt đã được nhân rộng. Bên cạnh đó, cũng phát hiện một số bất cập, vướng mắc về pháp luật như người dân phải qua “nhiều cửa” mới thực hiện xong một giao dịch, gây tốn kém về chi phí và thời gian. Nhiều Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thiếu thốn về cơ sở vật chất và cán bộ. Hầu hết các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh vẫn chưa ban hành Nghị quyết về mức phí, lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, nên việc thu, chi chưa được thống nhất.

Ngoài ra, thông tin về nhà, đất chưa được công bố rộng rãi theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân. Từ đó, nhiều giải pháp khắc phục khó khăn đã được Bộ Tư pháp đề ra trên cơ sở kết quả kiểm tra nêu trên.

6. Hợp tác quốc tế về đăng ký giao dịch bảo đảm

Trong những năm vừa qua, Bộ Tư pháp đã có nhiều hoạt động hợp tác với các tổ chức quốc tế như: Bộ Tư pháp Canada, JICA, STAR, ADB, IFC, MPDF, WB, Nhà pháp luật Việt-Pháp và một số cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm của Pháp, Mỹ, Canada, Nhật Bản… Thông qua hoạt động hợp tác, các tổ chức quốc tế đã hỗ trợ Bộ Tư pháp trên một số lĩnh vực chủ yếu như xây dựng văn bản pháp luật, trong đó có Dự án Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm, Dự án Luật Đăng ký bất động sản và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị định số 165, 08, 163; hỗ trợ triển khai dự án tin học hóa cho hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho những người sử dụng hệ thống đăng ký và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ đăng ký; hỗ trợ khảo sát trong và ngoài nước cũng như đánh giá dự báo tác động của hai dự thảo Luật nêu trên. Nhìn chung, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm ngày càng được đẩy mạnh và đạt hiệu quả cao.

7. Kết quả đăng ký giao dịch bảo đảm

Nhìn chung, hoạt động đăng ký đã đi vào nề nếp với việc thực hiện đúng các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm của các cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, xã hội và người dân cũng đã dành nhiều sự quan tâm tới hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm, ý thức chấp hành pháp luật về giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế ngày càng được nâng cao, đặc biệt là các tổ chức tín dụng.

Số lượng các giao dịch bảo đảm được đăng ký ngày càng tăng, tạo ra nguồn thông tin phong phú giúp minh bạch hoá thị trường tài chính, tín dụng. Các kết quả cụ thể:

– Đăng ký giao dịch, tài sản tại các Trung tâm Đăng ký thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Từ năm 2002 đến nay, số lượng giao dịch được đăng ký năm sau luôn tăng hơn so với năm trước, từ 150% đến 170% một năm. Tính đến cuối tháng 3/2008, các Trung tâm Đăng ký đã tiếp nhận và giải quyết 291.175 đơn yêu cầu đăng ký và thực hiện 4.717 lượt cung cấp thông tin cho khách hàng. Cho đến hiện nay, chưa có khiếu nại, tố cáo hoặc văn bản góp ý nào về thái độ phục vụ của các Trung tâm Đăng ký.

– Đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Tuy việc đăng ký hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất được pháp luật quy định từ năm 1999 (tại Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ và Thông tư số 1417/1999/TT-TCĐC ngày 18/9/1999 của Tổng cục Địa chính), nhưng phải đến nửa cuối năm 2003, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mới được triển khai trên thực tế với việc liên bộ Tư pháp-Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch số 03.

(Xem Phụ lục số 1 về kết quả triển khai công tác đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại một số địa phương tính đến thời điểm đến cuối năm 2007)

Nhìn chung, hoạt động đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ở địa phương đã từng bước đi vào nề nếp, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của tổ chức và cá nhân. Các hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm đã được giải quyết đúng trình tự, thủ tục và thời gian quy định. Kết quả đã góp phần đảm bảo an toàn trong các hoạt động của tổ chức tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, công dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển sản xuất, kinh doanh.

– Đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển

Theo số liệu thống kê, từ năm 2002 đến nay, Cục Hàng không Việt Nam thực hiện đăng ký được 38 giao dịch bảo đảm bằng tàu bay. Điều này cho thấy các giao dịch bảo đảm bằng tàu bay ở Việt Nam hiện không nhiều, với số lượng hồ sơ đăng ký thế chấp không thường xuyên.

Cùng với sự phát triển của loại hình vận chuyển bằng tàu biển, cơ quan đăng ký tàu biển khu vực đã có nhiều kinh nghiệm trong việc đăng ký các giao dịch bảo đảm. Theo thống kê của Bộ Giao thông vận tải thì từ năm 2002 đến nay, số lượng tàu biển được đăng ký thế chấp, cầm cố là 628 trường hợp. Qua đó, đã tạo ra một nguồn vốn lưu động cho các doanh nghiệp vận tải biển, đáp ứng nhu cầu phát triển của loại hình vận tải bằng đường biển.

PHẦN THỨ HAI

MỘT SỐ HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

I. Những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm

1. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác đăng ký giao dịch bảo đảm trong thời gian qua còn nổi lên một số hạn chế sau:

1.1. Về thể chế

Hệ thống văn bản pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm còn phân tán, chưa được pháp điển hoá trong một văn bản Luật và có một số quy định chưa thúc đẩy nhanh sự hình thành và vận động của thị trường tài chính. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm, mà còn dẫn đến những khó khăn, vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân khi yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm.

1.2. Về công tác quản lý nhà nước

Thời gian qua, nhiều Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm, vẫn còn hiện tượng buông lỏng trong công tác quản lý, cụ thể như: chưa xác định cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm; chưa xây dựng đội ngũ cán bộ đăng ký có trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao; chưa đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho công tác đăng ký, chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, thống kê số liệu về đăng ký giao dịch bảo đảm tại địa phương (chỉ có 46/64 UBND cấp tỉnh gửi báo cáo đánh giá 5 năm triển khai đăng ký giao dịch bảo đảm ở địa phương).

1.3. Về cán bộ

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ đăng ký chưa được thực hiện thường xuyên. Kết quả khảo sát cho thấy, năng lực của cán bộ đăng ký các giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại một số địa phương còn yếu, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm chưa được thực hiện sâu rộng, vẫn còn không ít tổ chức và cá nhân trong xã hội chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò, ý nghĩa và nội dung các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, dẫn đến cách hiểu, cách thực hiện chưa thống nhất, chưa đúng pháp luật.

Một số cơ quan có chức năng quản lý nhà nước chưa thực hiện tốt công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ và kiểm tra việc thực hiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, cho nên chậm phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm, ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả của công tác đăng ký.

2. Một số nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm

2.1. Một số nguyên nhân chủ quan

Nghị định số 08/2000/NĐ-CP không xác định rõ cơ quan chuyên môn có chức năng giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý về đăng ký giao dịch bảo đảm tại địa phương, mà giao cho Uỷ ban nhân dân căn cứ vào thẩm quyền và điều kiện cụ thể của địa phương để phân công cho một cơ quan chuyên môn (trong thực tế thường giao cho Sở Tư pháp hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường). Song, trong thực tế nhiều địa phương vẫn chưa có văn bản xác định cơ quan chuyên môn nêu trên. Theo báo cáo của các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, hiện mới chỉ có khoảng 40/64 nơi có văn bản xác định cụ thể cơ quan chuyên môn giúp việc quản lý về đăng ký giao dịch bảo đảm, nên tại nhiều địa phương còn lúng túng và buông lỏng quản lý. Ngoài ra, còn thiếu cán bộ quản lý có trình độ, chuyên môn và cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý tại nhiều Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chưa được đầu tư thoả đáng.

Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm chưa kịp thời, khoa học, dẫn đến khó khăn trong đề xuất hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc giúp Chính phủ thực hiện quản lý thống nhất công tác đăng ký giao dịch bảo đảm cần được nâng cao hơn trên cơ sở khắc phục các vướng mắc, bất cập cả về mặt thể chế và công tác kiểm tra.

2.2. Một số nguyên nhân khách quan

Nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hai thập kỷ, bên cạnh nhiều kết quả đạt được, nhiều cán bộ quản lý vẫn còn thiếu kinh nghiệm và chưa nhận thức đầy đủ về chỉ đạo, điều hành nền kinh tế, đồng thời các thiết chế thị trường chưa đồng bộ. Điều đó đã tác động không tốt đến công tác quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm, thể hiện ở những hạn chế về pháp luật, về nhận thức và triển khai thực hiện của một bộ phận cán bộ làm công tác quản lý trong lĩnh vực này.

Đến nay, chúng ta vẫn còn thiếu các chuyên gia pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, đặc biệt là tại các địa phương, nên việc tổ chức tập huấn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế về chuyên môn chưa kịp thời, có trường hợp không chính xác, dẫn đến việc áp dụng, thi hành pháp luật của một số cơ quan đăng ký không thống nhất.

Ngoài ra, các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, đặc biệt trong lĩnh vực đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được tổ chức phân tán và sự phân định thẩm quyền của các cơ quan này lại căn cứ vào chủ thể, nên cơ sở dữ liệu không thống nhất, cập nhật không kịp thời và không đầy đủ. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế hiệu quả hoạt động của hệ thống đăng ký. Khi cơ quan đăng ký được tổ chức không tập trung, sẽ dẫn đến khó khăn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ đăng ký, làm phát sinh chi phí ngoài phí, lệ phí đăng ký, gây khó khăn cho việc vi tính hoá, nối mạng nhằm xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia các giao dịch bảo đảm. Trong khi đó, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm lại chưa kịp thời, khoa học, dẫn đến khó khăn trong đề xuất cho việc hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm.

II. Những hạn chế trong hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm

1. Hạn chế

1.1. Trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay, tàu biển)

Việc cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu tuy đã có những cố gắng để bảo đảm tính kịp thời, song vẫn còn những “khoảng trống” giữa thời điểm nhận đơn và thời điểm thông tin trên đơn được cập nhật vào cơ sở dữ liệu để có thể tra cứu. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp khách hàng phải chờ đợi lâu mới nhận được kết quả đăng ký, cung cấp thông tin gửi qua đường bưu điện. Về phía cán bộ đăng ký còn mất khá nhiều thời gian cho việc gửi kết quả đăng ký, cung cấp thông tin qua đường bưu điện hoặc liên lạc, trao đổi với người yêu cầu đăng ký từ xa để chỉnh sửa lại đơn yêu cầu đăng ký.

Việc tiếp cận hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản chưa thực sự thuận tiện, do số điểm đăng ký còn hạn chế trong khi ngoài việc gửi yêu cầu qua đường bưu điện thì chỉ có một số tổ chức, cá nhân đã đăng ký khách hàng thường xuyên mới có quyền gửi yêu cầu qua fax.

Việc xây dựng và triển khai công tác đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản tuy đã góp phần khơi thông việc chuyển hoá chuyển hoá nguồn lực tồn tại dưới dạng động sản (bao gồm cả các tài sản vô hình như quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ, …) thành nguồn vốn luân chuyển trong nền kinh tế, song chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ. Vẫn còn không ít doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng bởi không được chấp nhận bảo đảm tiền vay bằng động sản. Việc cấp tín dụng thông qua hoạt động thương mại cũng không thực sự phát triển. Bên cạnh những lý do mang tính kinh tế, việc tăng cường khả năng tiếp cận vốn thông qua các tài sản là động sản đang gặp khó khăn bởi những lo ngại về bảo đảm pháp lý khi chủ sở hữu tài sản khi giao các tài sản dưới dạng động sản cho người khác chiếm hữu, sử dụng, hoặc người nhận chuyển nhượng quyền đòi nợ không biết phải thực thi quyền đó như thế nào, được pháp luật bảo vệ ra sao. Nếu biết rằng các động sản, tài sản vô hình là nguồn tài sản chủ yếu, có giá trị rất lớn trong nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp (thường chiếm tới 70-80% giá trị doanh nghiệp), thì có thể thấy rằng một nguồn lực rất lớn trong nền kinh tế đang bị đóng băng, không thể chuyển hoá thành vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

1.2. Trong lĩnh vực đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

– Công tác đăng ký trong lĩnh vực này vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần được tiếp tục nghiên cứu, tháo gỡ đó là: Tại nhiều địa phương, vẫn còn hiện tượng giải quyết đăng ký quá hạn, không đúng quy trình hoặc từ chối đăng ký không có căn cứ theo quy định pháp luật, thu lệ phí đăng ký cao hơn quy định.

– Trong khi tiến độ cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị còn chậm, thì Bộ luật dân sự, Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ đều quy định điều kiện để thế chấp quyền sử dụng đất, nhà ở tại đô thị là bên thế chấp phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị. Sự khập khiễng giữa pháp luật và thực tế trên đây khiến cho việc nhận bảo đảm tiền vay và thực hiện đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất gặp nhiều khó khăn.

Ngoài những hạn chế nêu trên, còn một hạn chế nữa là Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia các giao dịch bảo đảm chưa được thiết lập đã ảnh hưởng đến việc công khai hoá nhanh chóng và chính xác các thông tin về giao dịch bảo đảm.

2. Nguyên nhân của những hạn chế

2.1. Đối với hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản

Thứ nhất, do cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản còn mới mẻ so với truyền thống pháp lý của Việt Nam. Trong khi truyền thống pháp lý của Việt Nam theo hệ thống luật thành văn (civil law) thì cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản lại có nguồn gốc từ khu vực Bắc Mỹ, nơi các quốc gia theo hệ thống luật thông lệ (common law). Tuy việc kết hợp, giao thoa giữa các hệ thống pháp luật là một xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầu hoá, nhưng để cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản kết hợp hài hoà, phù hợp với truyền thống pháp lý và điều kiện thực tế của Việt Nam thì cần phải có một quá trình nghiên cứu, hoàn thiện và tuyên truyền phổ biến rộng rãi.

Thứ hai, về nguyên tắc, hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản hoạt động dựa trên một cơ sở dữ liệu duy nhất và thống nhất trong toàn quốc, được tập trung và vi tính hoá. Tuy nhiên, do những khó khăn về cơ sở vật chất – kỹ thuật cũng như thiếu các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử nên việc đăng ký trực tuyến qua mạng internet chưa được triển khai tại các Trung tâm Đăng ký thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm. Việc thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin vẫn căn cứ vào đơn bằng giấy, dẫn đến những hạn chế khó có thể khắc phục trong phương thức đăng ký hiện nay.

Thứ ba, phạm vi các quyền, giao dịch về động sản được công khai hóa thông qua hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm còn khá hạn chế. Do vậy, tình trạng pháp lý của tài sản thiếu tính minh bạch, cơ chế pháp lý bảo vệ các chủ nợ được bảo đảm bằng động sản còn yếu kém, thiếu tính thực thi.

2.2. Đối với hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm bằng bất động sản

Hiện nay, một số quy định về thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và đăng ký thế chấp còn mâu thuẫn, chồng chéo, cũng như còn có không ít những vấn đề đặt ra trên thực tế chưa được pháp luật giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để. Do vậy, yêu cầu về việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này là hết sức cấp bách.

Ngoài ra, vẫn còn một số cán bộ làm công tác đăng ký nhận thức chưa đầy đủ, đúng về các quy định pháp luật về thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, trình độ, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cũng còn những hiện tượng tiêu cực, gây khó khăn cho người yêu cầu đăng ký để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Về mặt khách quan, cơ sở vật chất của các cơ quan đăng ký còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ còn mỏng; hệ thống hồ sơ địa chính, đặc biệt là sổ địa chính chưa được thiết lập đầy đủ, hoàn chỉnh.

III. Bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm, đảm bảo tính ổn định và khả thi trong thực tế, đồng thời tổ chức thi hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thực tế.

Thứ hai, tổ chức tốt các hoạt động phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương trong quá trình thực hiện quản lý đăng ký giao dịch bảo đảm. Tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ kết hợp với việc thực hiện nghiêm túc những kiến nghị kiểm tra và xử lý các sai phạm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm.

Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm cần được không ngừng đẩy mạnh nhằm giúp người dân, cơ quan nhà nước có liên quan nhận thức rõ hơn về ý nghĩa, vai trò của công tác đăng ký giao dịch bảo đảm cũng như trách nhiệm của mỗi người khi tham gia quy trình đăng ký.

Thứ tư, sự quan tâm, đầu tư của cơ quan quản lý nhà nước là hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy công tác tổ chức đăng ký, trong đó chú trọng ứng dụng tin học. Đồng thời, thực hiện các giải pháp tăng cường năng lực cho cán bộ đăng ký và đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ quan đăng ký. Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ quan này theo hướng chuyên môn hoá và tập trung.

Thứ năm, mở rộng hợp tác quốc tế về giao dịch bảo đảm nhằm tận dụng kinh nghiệm, sự hỗ trợ về tri thức, cơ sở vật chất của các tổ chức quốc tế.

Thứ sáu, thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường sự hưởng ứng của khách hàng với hoạt động đăng ký, tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm, vì sự hưởng ứng tích cực của các khách hàng, đặc biệt là các tổ chức tín dụng trong thời gian qua là một trong các yếu tố quan trọng tạo nên thành công của hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm.

PHẦN THỨ BA

CÁC MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

I. Mục tiêu phát triển hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm

Mục tiêu cơ bản và lâu dài đó là xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm tập trung, thống nhất, hiện đại hóa, thuận tiện để phục vụ tốt nhất cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu đăng ký và tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch và từ đó đóng góp một phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội của nước nhà.

II. Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm

1. Hoàn thiện thể chế

Xây dựng và ban hành Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm hướng tới những mục tiêu sau đây:

– Thống nhất pháp luật trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm;

– Hủy bỏ những quy định không còn phù hợp trong pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm;

– Bổ sung những quy định cần thiết, phù hợp với thực tiễn khách quan của đời sống kinh tế, xã hội;

– Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hội nhập quốc tế.

Dự luật nêu trên đã được Quốc hội khóa XII đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ 2007 đến 2011 và sẽ xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ tư (2008) và thông qua trong kỳ họp thứ năm (2009).

Xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thống nhất và cụ thể về công tác đăng ký, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất theo hướng thuận lợi và đơn giản hơn cho tổ chức và cá nhân có nhu cầu để các địa phương triển khai đồng bộ và đạt hiệu quả cao hơn.

2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ đăng ký giao dịch bảo đảm

Trong thời gian tới các cơ quan có thẩm quyền quản lý về đăng ký giao dịch bảo đảm cần đa dạng hóa các phương thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm, mở rộng địa bàn tuyên truyền, phổ biến pháp luật, để nâng cao hơn nữa nhận thức của khách hàng về vai trò và ý nghĩa của đăng ký và tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm, nắm vững các trình tự, thủ tục trong lĩnh vực này. Tiến hành mở các lớp tập huấn kiến thức pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm cho khách hàng. Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền quản lý về đăng ký giao dịch bảo đảm cần mở thêm các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ đăng ký giao dịch bảo đảm cho các cán bộ đăng ký; đưa việc giảng dạy pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm vào các cơ sở đào tạo Luật, đào tạo cán bộ địa chính, cán bộ làm công tác đăng ký tàu bay, tàu biển. Từ đó, tạo nguồn và xây dựng đội ngũ cán bộ đăng ký giao dịch bảo đảm có chuyên môn, nghiệp vụ cao.

3. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc triển khai công tác quản lý đăng ký giao dịch bảo đảm và tổ chức đăng ký giao dịch bảo đảm

Bộ Tư pháp có nhiệm vụ giúp Chính phủ quản lý thống nhất công tác đăng ký giao dịch bảo đảm trong cả nước, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra việc triển khai quản lý đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển của Bộ Giao thông vận tải và quản lý đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Do đó, trong những năm tới, Bộ Tư pháp cần tăng cường công tác kiểm tra để thúc đẩy các cơ quan quản lý nêu trên quan tâm và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ quản lý theo thẩm quyền của các cơ quan đó.

4. Nâng cao hiệu quả phối hợp công tác giữa các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức hữu quan và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm

Công tác đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến nhiều Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức. Do đó, sự phối hợp công tác giữ một vai trò quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý, tổ chức đăng ký giao dịch bảo đảm, trong đó tập trung vào lĩnh vực xây dựng pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm; tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ đăng ký; kiện toàn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan đăng ký.

Việc hợp tác quốc tế cần tiếp tục được mở rộng, để học hỏi kinh nghiệm của các nước có pháp luật và hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm phát triển, vận dụng sáng tạo, đồng bộ và có hiệu quả vào việc phát triển hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm của Việt Nam.

III. Các giải pháp nhằm tăng cường công tác đăng ký giao dịch bảo đảm

Nhóm các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý đăng ký giao dịch bảo đảm nêu trên là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh việc tổ chức đăng ký giao dịch bảo đảm trong thực tế. Ngoài ra, cần có các giải pháp sau đây:

1. Tổ chức thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm

Đây là một trong các giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế và đưa pháp luật vào cuộc sống. Đồng thời, áp dụng các giải pháp để nâng cao ý thức pháp luật của người dân và ý thức chấp hành pháp luật của các cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm.

2. Kiện toàn bộ máy các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm

Trong thời gian tới, đối với những địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, thì cần thành lập ngay để có bộ máy thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền cần bố trí đủ cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ về đăng ký giao dịch bảo đảm cho các cơ quan đăng ký nêu trên.

3. Tăng cường năng lực cho các cán bộ đăng ký giao dịch bảo đảm

Cần đa dạng hóa các giải pháp để tăng cường năng lực cho họ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ, có kỹ năng tốt và có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Khuyến khích cán bộ phát huy sáng kiến để cải tiến quy trình đăng ký, cung cấp thông tin có hiệu quả, đồng thời thực hiện tốt các chính sách, chế độ đối với họ, để họ có đủ điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành nhiệm

vụ được giao. Ngoài ra, cần bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng giao tiếp, phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.

4. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và tăng cường ứng dụng tin học vào hoạt động đăng ký, cung cấp thông tin

Hiện đại hoá hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những giải pháp chiến lược có ý nghĩa quan trọng mà Việt Nam cần triển khai. Kết quả khảo sát cho thấy, hạn chế về cơ sở vật chất – kỹ thuật đã cản trở rất nhiều đến sự phát triển của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm. Những lợi ích mà hệ thống đăng ký sau khi được vi tính hoá, nối mạng mang lại đã và đang thúc đẩy nhiều quốc gia gấp rút thực hiện mục tiêu này.

Trải qua 5 năm triển khai đăng ký giao dịch bảo đảm, đến nay chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng của công tác này, góp phần xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường đầu tư để phát triển kinh tế, xã hội, cũng như đảm bảo an toàn pháp lý cho người dân khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại.

Vì vậy, các cơ quan quản lý và tổ chức đăng ký giao dịch bảo đảm cần tập trung thực hiện các giải pháp nêu trên, để các mục tiêu tiếp tục phát triển hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm sớm trở thành hiện thực.

Trên đây là Báo cáo tổng kết 5 năm triển khai công tác đăng ký giao dịch bảo đảm (2002-2007) và dự kiến mục tiêu, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển công tác đăng ký giao dịch bảo đảm trong thời gian tới.

Nơi nhận:

– Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (để báo cáo);

– Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

– Phó Thủ tướng CP Trương Vĩnh Trọng (để báo cáo);

– Bộ trưởng (để báo cáo);

– Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội (để thẩm tra);

– Văn phòng Quốc hội (để phối hợp);

– Văn phòng Chính phủ (để phối hợp);

– Lưu: VT, Cục ĐKQGGDBĐ

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

Đinh Trung Tụng

PHỤ LỤC:

Slide1

Presentation15

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: