VAI TRÒ CỦA CÁC THỂ CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

V. TRÂN

Thu nhập và mức sống hiện nay giữa các nước giàu có và các nước nghèo chênh lệch rất lớn. Ví dụ, thu nhập bình quân đầu người ở các nước Châu Phi cận Xahara chưa bằng 1/20 mức của Mỹ. Người ta đã đưa ra những lý giải rất khác nhau cho sự khác biệt quá lớn đó. Các nước nghèo – như các nước Châu Phi cận Xahara, Trung Mỹ, hoặc Nam Á – thường thiếu các thị trường vận hành tốt, trình độ văn hoá của người dân thấp, máy móc và công nghệ lạc hậu hoặc không có.

Nhưng, theo giáo sư Daron Acemoglu thuộc Viện công nghệ Massachusetts – tác giả bài viết này – đó chỉ là những nguyên nhân thứ yếu dẫn đến nghèo đói và chúng không thể giải thích thoả đáng vấn đề tại sao những nơi này không có các thị trường tốt hơn, nguồn nhân lực tốt hơn, thu hút nhiều vốn đầu tư hơn và có máy móc và công nghệ tốt hơn. Như vậy, theo ông, ở đây phải có những nguyên nhân cơ bản nào đó dẫn đến những hậu quả này.

Daron Acemoglu đưa ra phân tích hai nhân tố mà ông cho là có thể quy vào các nguyên nhân cơ bản dẫn đến những chênh lệch giàu nghèo giữa các nước: địa lý và thể chế. Giả thuyết về địa lý bao hàm địa lý, khí hậu, sinh thái của một xã hội định hình ra cả công nghệ lẫn những kích thích đối với cơ dân. Giả thuyết này nhấn mạnh đến sức mạnh thiên nhiên và coi đây là nhân tố chính dẫn đến sự nghèo đói của các dân tộc. Ngược lại, giả thuyết về thể chế nhấn mạnh đến những tác động của con người. Theo quan điểm này, một số xã hội có các thể chế tốt có khả năng kích thích đầu tư vào máy móc, vốn con người, và các công nghệ tốt hơn, và do vậy, các nước này đạt được sự thịnh vượng về kinh tế.

Các thể chế tốt có 3 đặc điểm chính: hiệu lực thi hành của quyền sở hữu sao cho mọi người được kích thích đầu tư và tham gia vào đời sống kinh tế; những hạn chế đối với hành động của giới thượng lưu, các chính khách và các nhóm người có quyền lực khác sao cho những người này không thể chiếm đoạt các khoản thu nhập và vốn đầu tư của những người này không thể chiếm đoạt các khoản thu nhập và vốn đầu tư của những người khác hoặc tạo sân chơi không công bằng; và cơ hội như nhau ở mức độ nào đó đối với các tầng lớp xã hội sao cho các cá nhân có thể đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào vốn con người, và tham gia vào các hoạt động sản xuất. Các thể chế tốt này tương phản với những điều kiện ở nhiều xã hội trên thế giới trong lịch sử và hiện tại – nơi quy định luật pháp được áp dụng, một cách có lựa chọn; quyền sở hữu không tồn tại đối với đa số dân cư; giới thượng lưu có quyền lực không hạn chế về chính trị và kinh tế; và chỉ một phần nhỏ dân cư được tiếp cận nền giáo dục, tín dụng và có cơ hội sản xuất khác.

Tác động của yếu tố địa lý. Hầu hết những nơi nghèo nhất thế giới – nơi thu nhập tính theo đầu người không bằng 1/20 mức của Mỹ – đều nằm sát đường xích đạo với những đặc trưng là khí hậu rất nóng, mưa dữ dội và nhiều bệnh dịch nhiệt đới. Tuy nhiên, dẫn chứng này không chứng tỏ rằng địa lý tác động đầu tiên đến sự thịnh vượng về kinh tế. Thừa nhận rằng có mối tương quan giữa địa lý và sự thịnh vượng, nhưng mối tương quan này không chứng tỏ quan hệ hậu quả. Theo Daron Acemoglu, điều cực kỳ quan trọng là các nhân tố tác động đến các mối liên hệ mà chúng ta có thể quan sát được qua các dữ liệu lại thường bị bỏ qua.

Tương tự, các nghiên cứu cho thấy rằng hầu như không có nước nào đạt được vị trí này nếu không có các thể chế có khả năng bảo vệ quyền sở hữu cho các nhà đầu tư và áp dụng hình thức kiểm soát nào đó đối với Chính phủ và giới thượng lưu. Tuy nhiên, một lần nữa cần nhấn mạnh rằng mối tương quan này giữa các thể chế và phát triển kinh tế có thể phản ánh các nhân tố đã bị bỏ qua hoặc quan hệ nhân quả đảo ngược.

Để hiểu hơn về những vai trò tương đối của các nhân tố địa lý và thể chế, cần tìm ra một nguồn lực dẫn đến sự thay đổi trong các thể chế – nói cách khác. một thử nghiệm tự nhiên nơi các thể chế thay đổi vì những lý do không liên quan đến các nhân tố có khả năng bị bỏ qua (và nhân tố địa lý được cố định).

Việc người Châu Âu chiếm phần lớn lãnh thổ trên trái đất làm thuộc địa trong thế kỷ XV là một thử nghiệm tự nhiên. Quá trình thực dân hoá đã chuyển đổi các thể chế ở nhiều nơi mà người Châu Âu cai trị, nhưng nói chung không có tác động gì đến địa lý. Do vậy, nếu địa lý là nhân tố chính quyết định tiềm lực kinh tế của một khu vực hoặc một nước, thì những nơi trước đây từng giàu có sẽ phải vẫn giàu có sau có sự thay đổi về thể chế và, trên thực tế, phải vẫn giàu có cho đến tận ngày nay mới phải.

Minh chứng lịch sử cho thấy rằng trong thời kỳ này, các nước đã theo đuổi những chiến lược rất khác nhau, với những thể chế liên quan cũng rất khác nhau, với những thể chế liên quan cũng rất khác nhau. Một bên là các thể chế bóc lột tàn bạo và các thể chế này vừa không bảo vệ quyền sở hữu, vừa không hạn chế quyền lực của giới thượng lưu. Mặt khác, một số nơi phát triển theo hình thức các thể chế của Châu Âu theo hướng đưa ra những hạn chế đáng kể đối với giới thượng lưu và các chính khách khác nhằm bảo vệ sở hữu tư nhân. Những ví dụ tiêu biểu về loại thể chế thứ hai này là Ôxtrâylia,Canada, NiuDilân và Mỹ.

Đảo ngược vận mệnh. Vậy điều gì xảy ra đối với sự phát triển kinh tế sau khi có sự rẽ hướng về thể chế? Liệu những nơi đã từng giàu có trước khi thay đổi thể chế vẫn giàu có theo như lôgic của giả thuyết về địa lý? Hay các vận hội kinh tế đã thay đổi mang tính hệ thống như kết quả của những thay đổi về thể chế?

Trước hết, dẫn chứng lịch sử cho thấy không có bằng chứng gì về tính liên tục như giả thuyết về địa lý đưa ra. Ngược lại, đã diễn ra một sự đảo ngược vận mệnh ngoạn mục trong phát triển kinh tế. Các xã hội như Mughals ở Ấn Độ và Aztecs và Incas ở Mỹ – vốn từng nằm trong số các nền văn minh giàu có nhất trong những năm 1500 thì hiện là các xã hội nghèo. Ngược lại, các nước thuộc các nền văn minh kém phát triển hơn ở Bắc Mỹ, Niu Dilân và Ôxtrâylia thì hiện nay lại giàu có hơn nhiều so với Mughals, Aztecs và Incas.

Sự đảo ngược này xem ra là bằng chứng chống lại những cách giải thích chuẩn mực nhất của giả thuyết về địa lý, tức là không phải khí hậu, sinh thái, hay môi trường bệnh dịch của những vùng xích đạo đã làm cho những nước ở đây trở nên nghèo như hiện nay, bởi vì những nơi tương tự về khí hậu, sinh thái và môi trường bệnh dịch song lại trở nên giàu có.

Vậy liệu sự đảo ngược vận mệnh có phù hợp với các giải thuyết về thể chế? Các trả lời là có. Dẫn chứng điển hình là trường hợp ở các thuộc địa của Châu Âu. Những nơi có các thể chế bóc lột, quyền lực của giới thượng lưu không vấp phải trở lực nào và đa số dân cư không có quyền dân sự hay không sở hữu. Trên thực tế, ở những nơi này, đa phần dân chúng bị buộc phải lao động hoặc làm nô lệ. Tương phản với mô thức này, ở những nơi mà các luật lệ và thể chế về cơ bản đảm bảo cho dân chúng được bảo vệ, cả về đời sống chính trị và kinh tế, thì thể chế đó đã có hiệu quả hơn nhiều đối với đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, dẫn chứng này không có nghĩa rằng địa lý nói chung không có ảnh hưởng gì. Những nơi giàu và nghèo trước khi người Châu Âu tới có thể được quyết định bởi các nhân tố địa lý. Các nhân tố địa lý này cũng có thể tác động đến các thể chế mà người Châu Âu đưa ra. Ví dụ, khí hậu và chất lượng đất đai ở vùng Caribe đã tạo thuận lợi cho vùng này phát triển ngành sản xuất đường, khuyến khích phát triển một hệ thống đồn điền dựa vào lực lượng lao động nô lệ.

Sức hút tự nhiên. Các vấn đề đặt ra là nếu các thể chế có vai trò quan trọng như vậy đối với sự thịnh vượng về kinh tế, thì tại sao nhiều xã hội lại chọn và đi theo các thể chế tồi? Hơn nữa, tại sao các thể chế tồi tồn tại dai dẳng đến vậy khi mà hậu quả đầy tai hoạ của chúng đã rõ ràng? Liệu đó là sự cố lịch sử, hoặc là kết quả của các quan niệm sai, hay sai lầm của xã hội, sai lầm của các nhà hoạch định chính sách? Những nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết gần đây cho thấy rằng câu trả lời là: không có lý do xác đáng nào để nghĩ rằng các xã hội sẽ bị cuốn hút một cách tự nhiên vào các thể chế tốt. Các thể chế không chỉ tác động đến các triển vọng kinh tế của các dân tộc, mà chúng còn là trung tâm cho việc phân phối thu nhập hình ảnh, các thể chế không chỉ tác động đến kích thước của “chiếc bánh” xã hội, mà chỉ còn chỉ ra cách chia chiếc bánh đó.

Điều này hàm ý rằng một sự thay đổi tiềm tàng từ các thể chế hoạt động lệch lạc và yếu kém sang các thể chế tốt hơn (mà sẽ làm tăng quy mô của chiếc bánh xã hội) có thể bị kiềm chế khi sự thay đổi này làm giảm đáng kể “miếng bánh” mà các nhóm người có quyền lực nhận từ “chiếc bánh” và khi họ không thể được đảm bảo bù đắp cho thiệt hại này. Rõ ràng là những vấn đề về thể chế và khó khăn trong cải cách thể chế là thực tế mà mọi thay đổi quan trọng đều tạo ra những người thắng và kẻ thua, và những người thua tiềm năng thường đủ sức mạnh để chống lại sự thay đổi.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, sự kéo dài của các thể chế và khả năng chống lại cải cách không có nghĩa là các thể chế không thay đổi. Thường diễn ra những bước phát triển thể chế quan trọng, và thậm chí các thể chế hoạt động lệch lạc trầm trọng cũng có thể được chuyển đổi thành công. Sự thay đổi về thể chế sẽ diễn ra, hoặc khi những nhóm người chủ trương thay đổi có đủ sức mạnh để buộc những người bị thua thiệt tiềm năng phải chấp nhận, hoặc khi các xã hội có thể thoả thuận với những người thua thiệt tiềm năng sao cho họ được bù đắp thoả đáng sau khi có sự thay đổi, hoặc có thể bảo vệ họ tránh những hậu quả đảo ngược của những thay đổi đó. Việc nhận thức được tầm quan trọng của các thể chế trong phát triển kinh tế và những rào cản nặng nề đối với cải cách thể chế là bước đi đầu tiên để nhiều khu vực trên thế giới hiện nay có thể tăng trưởng vững.

SOURCE: Tài chính & Phát triển (IMF), tháng 6/2003

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: