PHÁP LUẬT THỤY ĐIỂN VỀ BẢO VỆ DI SẢN VĂN HÓA

image TRẦN ANH TÚ – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Phn m đầu

Pháp luật về bảo vệ các di tích lịch sử ở Thuỵ điển đã có từ rất lâu. Từ năm 1966 đã có “Tuyên ngôn có hiệu lực pháp luật theo đặc quyền của Hoàng gia về di tích lịch sử và cổ vật”. Theo đó, việc can thiệp vào các di tích cổ bị nghiêm cấm, các di tích cổ phải được bảo vệ, gìn giữ để ghi lại những thành tựu của tổ tiên, đặc biệt là những tiến bộ, sự phát triển của Hoàng gia. Các huyệt mộ, các đồ đá mà trên đó có viết bằng các chữ cổ, các toà nhà bị hư hỏng và các di sản còn lại của quá khứ phải được giữ gìn, bảo vệ khỏi sự can thiệp bên ngoài.

Tính từ đó, số lượng các văn bản pháp luật luôn luôn được bổ sung và sửa đổi, thay thế bằng các văn bản mới. Tuy nhiên, các nội dung cốt lõi của vấn đề vẫn được giữ lại, như: Các yếu tố vật chất của di sản văn hoá phải được giữ gìn, nếu như có sự can thiệp cần thiết từ bên ngoài đến một di tích lịch sử thì sự thay đổi về kích thước, hình dáng của di tích phải được các nhà chức trách có trách nhiệm xem xét và quyết định; những thành phần bị thay đổi hoặc mất đi phải được ghi lại và lưu trữ một cách thận trọng. Những thay đổi lớn đối với các di tích phải tuân theo các quy định của luật pháp. ở đây có sự khác nhau về quan điểm đối với các di vật, di tích đã hoàn toàn bỏ đi và không còn giá trị kinh tế song các giá trị về cấu trúc của nó vẫn tồn tại trong xã hội. Vì vậy, các điều luật về bảo vệ các di sản khảo cổ được ban hành sớm hơn các điều luật bảo vệ các giá trị kiến trúc. Tuy vậy, các giá trị kiến trúc của các nhà thờ thu hút được sự chú ý giám sát, bảo vệ của các nhà chức sắc tôn giáo trước khi có Tuyên ngôn của Hoàng Gia.

ở Thuỵ Điển, việc bảo vệ an toàn các di sản văn hoá luôn luôn là trách nhiệm của Nhà nước, ngày nay là Chính phủ (Bộ văn hoá) và các cơ quan chức năng của Chính phủ. Các cơ quan chức năng này bao gồm: Uỷ ban di sản quốc gia, vụ di sản văn hoá của 21 đơn vị hành chính Hạt (Đơn vị hành chính địa phương lớn nhất ở Thuỵ Điển – tương đương với cấp tỉnh của Việt Nam, sau đây gọi là Tỉnh). Tuy nhiên, việc bảo vệ các di tích lịch sử, văn hoá dần dần được giao cho chính quyền cơ sở, nó đã trở thành nghĩa vụ pháp lý đối với mọi công dân, nhất là chú ý tới các giá trị kiến trúc và môi trường không gian đặc biệt.

II. Những nội dung chính của Pháp luật Thuỵ Điển về bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá

Luật pháp về bảo vệ các giá trị di sản lịch sử văn hoá của Thuỵ Điển bao gồm hệ thống các văn bản luật do Quốc hội ban hành và các văn bản dưới luật do Chính phủ ban hành. Văn bản luật pháp chính là Luật về di tích lịch sử văn hoá (1988 – 950). Luật này quy định đối với các di tích lịch sử khảo cổ và danh thắng, các toà lâu đài lịch sử, các di sản của Giáo hội, các vật thể văn hoá (xuất khẩu và phục chế)[1]

Luật môi trường – có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1999. Một trong các mục đích của Luật này là bảo vệ, gìn giữ các giá trị thiên nhiên và môi trường văn hoá. Luật có một số điều quy định về việc thành lập các khu bảo tồn văn hoá.

Luật về lập kế hoạch và xây dựng (1987). Luật này đã tạo ra các cơ sở pháp lý cho các chính quyền cơ sở trong việc thực thi trách nhiệm bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá. Thuỵ Điển có tất cả 289 chính quyền các quận, huyện có trách nhiệm trong việc bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hoá dân tộc. Luật này bao gồm các quy định như: Các thủ tục, phương pháp để nhận biết, công nhận một di sản văn hoá, việc bảo vệ an toàn các di tích ra sao khi làm kế hoạch và thực hiện các kế hoạch phát triển.

1. Lut di tích lch s văn hoá

Phần mở đầu của Luật này quy định rằng, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường văn hoá của Thuỵ Điển là trách nhiệm của tất cả mọi người. Các cơ quan hành chính địa phương có trách nhiệm thanh tra, kiểm soát trong địa bàn của mình. Việc theo dõi, giám sát ở cấp Quốc gia do Uỷ ban di sản Quốc gia đảm trách[2]

Luật di tích lịch sử khảo cổ và danh thắng quy định Bng phân loi các di vt kho c cn được bo v. Dựa trên cơ sở mẫu bảng này, Uỷ ban di sản Quốc gia lập và lưu giữ Bn danh sách các di sn cn được bo v. Các di tích lịch sử trong bản danh sách đó được thể hiện trên bản đồ chính thống của Quốc gia. Bất kể người nào có ý định sử dụng đất đai mà trong đó các di sản khảo cổ có thể bị ảnh hưởng cần phaỉ xin phép chính quyền địa phương. Việc thay đổi kích thước, hình dáng và các giá trị của các di sản cần được bảo vệ, hay mọi sự can thiệp vào hình thái tự nhiên của các di sản đó đều phải được sự cho phép của chính quyền địa . Nếu được cấp phép, thông thường người xin phép phải chi trả cho các chi phí chi cho việc điều tra khảo cổ, việc lập hồ sơ. Người xin phép có thể từ chối không chấp nhận giấy phép của Chính phủ và có thể kháng cáo đối với các quyết định về các chi phí khảo cổ tại toà án. Đạo luật còn có các quy định về các di vật khảo cổ xách tay, các vật này bao gồm các vật thể không xác định được chủ khi tìm thấy, các vật tìm thấy ở trong hoặc gần, hoặc có liên quan đến các khu di tích lịch sử cổ xưa, các vật thể tìm thấy ở các hoàn cảnh khác mà có độ tuổi từ 100 năm trở lên, các vật thể trước đây Nhà nước chiếm hữu khi tìm thấy, sau đó giao cho người tìm thấy chúng

Nói chung, việc sử dụng các chất nổ kim loại bị nghiêm cấm tại các di sản cổ và các danh thắng. Tuy nhiên, có những ngoại lệ như Uỷ ban di sản quốc gia, quân đội, cơ quan Nhà nước khác có thể sử dụng chất nổ trong các hoạt động tìm kiếm, khám phá cổ vật. Chính quyền tỉnh cũng có quyền cấp phép cho cá nhân sử dụng chất nổ như trong việc tìm kiếm các vật thể bị mất, cho các mục đích giải trí hay cho các hoạt động khảo cổ không chuyên

Mọi vi phạm có thể sẽ bị chịu các hình phạt cao nhất từ 4 năm tù giam hoạc phạt tiền . Ngoài các hình phạt trên, người vi phạm có thể còn phải chịu các chi phí để sửa chữa, xây dựng loại hoặc chi phí cho các hoạt động điều tra khảo cổ bắt buộc do sự vi phạm gây ra

Các toà nhà thuộc về lịch sử đã được đă vào Bảng danh mục do chính quyền địa phương lập (bao gồm cả công viên, vườn, cấu trúc cảnh quan bên ngoài toà nhà) đều được bảo vệ. Trật tự bảo vệ sẽ xác định rõ việc sẽ áp dụng những biện pháp nào đối với toà nhà đã được đưa vào danh mục bảo vệ, quyết định về việc phá đi, thay thế hay giữ lại nguyên trạng. Chỉ có các toà nhà có giá trị lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng được bảovệ bởi Luật về di tích lịch sử văn hoá, còn các toà nhà có các giá trị văn hoá khác có thể được bảo vệ bởi Luật về lập kế hoạch và xây dựng. có m ột ngoại lệ, vấn đề đặt ta là ai sẽ là chủ sở hữu của ngôi nhà lịch sử mà ngôi nhà đó không liên quan đến việc có được đưa vào danh sách bảo vệ hay không. Luật này không áp dụng đối với những toà nhà thuộc sở hữu của Nhà nước. Các toà nhà đó hoặc các cấu trúc khác có thể được bảo vệ bởi Nghị định của Chính phủ. Uỷ ban về di sản quốc gia có trách nhiệm kiểm tra, giám sát những quy định đặc biệt do Chính phủ ban hành (SFS 1988: 1229). Nếu thấy cần thiết, khu vực bảo vệ có thể bao gồm cả các vùng lân cận của toà nhà để đảm bảo những đặc trưng bên trong cũng như hình thức bên ngoài của toà nhà không bị biến dạng.

Trong khi chờ đợi để được đưa vào danh mục bảo vệ, Chính quyền địa phương có thể áp dụng một số biện pháp tạm thời nghiêm cấm một số hoạt động có thể làm ảnh hưởng đến các giá trị văn hoá của toà nhà. Trong trường hợp đặc biệt có thể dừng hẳn các hoạt động gây ra sự huỷ hoại đối với toà nhà. Người sở hữu tài sản chưa được chấp thuận có khả năng đưa vào danh mục bảo vệ có thể đòi hỏi sự bồi thường do tác hại của việc chưa đưa vào danh mục bảo vệ gây ra. Tuy nhiên, có ranh giới của sự thiệt hại kinh tế, sự thiệt hại phải xảy ra sau khi người chủ sở hữu được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đó.

Một khi công trình kiến trúc được đưa vào danh sách bảo vệ, có nghĩa là công trình đó được Nhà nước quản lý, tiến hành việc giữ gìn, bảo vệ. Tuy nhiên, chủ sở hữu vẫn có thể có quyền xin phép chính quyền dịa phương được thay đổi kiến trúc của công trình nếu như đưa ra được những lý do đặc biệt. Sự xin phép thay đổi có thể được chấp thuận với điều kiện là sự thay đổi đó tuân theo sự hướng dẫn đặc biệt và chủ nhân phải ghi chép lại và lập hồ sơ lưu trữ toàn bộ trạng thái của công trình kiến trúc trước khi tiến hành thay đổi cấu trúc của nó. Nếu như việc lập danh mục bảo vệ tạo ra sự bất lợi, không tương xứng với tính chất quan trọng của công trình thì chính quyền địa phương có thể thay đổi trật tự bảo vệ hoặc thu hồi hoàn toàn kế hoạch bảo vệ.

Mọi vi phạm pháp luật về bảo vệ các công trình kiến trúc lịch sử, văn hoá có thể phải chịu các hình phạt khác nhau. Chính quyền tỉnh có quyền ban hành các quyết định về việc khôi phục lại các công trình kiến trúc bị phá hỏng, sự phục hồi được thực hiện bằng chính tiền phạt đó.

Các di sản thuộc về giáo hội cũng được điều chỉnh bởi Luật về di tích lịch sử văn hoá. Hệ thống kiểm tra kiểm soát trước đây của Nhà nước đối với các công trình kiến trúc nhà thờ được thay thế bằng một hệ thống mà trong đó luật pháp chỉ áp dụng đối với các trường hợp sau:

1. Các công trình kiến trúc nhà thờ và môi trường cảnh quan xung quanh đã được xây dựng trước năm 1940 hoặc sau đó, nếu như nó được Uỷ ban di sản Quốc gia đưa vào danh mục bảo vệ

2. Các nghĩa địa được xây dựng trước năm 1940 hoặc sau đó, nếu hư được đưa vào danh mục bảo vệ

3. Các vật dụng có giá trị lịch sử của nhà thờ hoặc các nghĩa địa trong mọi thời kỳ

Khái niệm về nghĩa địa ở đây bao gồm các nghĩa địa cổ xưa, các nghĩa địa của các giáo phái khác ngoài giáo hội Thuỵ Điển. Ngoài ră nó còn bao gồm các công trình kiến trúc ở trên nghĩa địa và các động sản và bất động sản khác.

Không một nhà thờ hay cảnh quan xung quanh thào có thể bị thay đổi một cách đáng kể mà không có sự chấp thuận, sự cho phép của Chính quyền tỉnh. Chỉ có sự sửa chữa nhỏ và thật cần thiết mới có thể thực hiện mà không cần sự cho phép của Chính quyền tỉnh.

Luật cũng quy định về vật liệu xây dựng và các phương pháp áp dụng trong sửa chữa đòi hỏi phải phù hợp với các giá trị lịch sử văn hoá. Các đồ vật phải được giữ gìn an toàn, chắc chắn, luôn ở trong tình trạng tốt nhất[3].

Luật về di tích lịch sử văn hoá cũng điều chỉnh việc gửi, vận chuyển các vật thể văn hoá cổ đối với cả công dân Thuỵ Điển cũng như đối với người nước ngoài[4]. Luật pháp của Thuỵ Điển cũng như phần lớn các nước trong cộng đồng Châu Âu có các trường hợp ngoaị lệ theo Điều 36 của Hiệp ước Rôm từ các quy định về việc tự do vận chuyển đến việc luật pháp quốc gia giữ lại để bảo vệ các báu vật khảo cổ, các giá trị lịch sử và nghệ thuật của cổ vật. Các quy định về việc vận chuyển cổ vật được áp dụng bất kể việc vật thể đó có được mang sang một Nhà nước thành viên khác thuộc Cộng đồng Châu Âu hay sang một nước thứ ba

Theo như quy định của Luật pháp, các vật thể văn hoá của Thuỵ Điển gồm:

1. Các vật thể được tạo ra trước năm 1600, không tính đến giá trị của chúng, bao gồm như: các sản phẩm in, bản đồ, tranh ảnh, các bản thảo viết tay trên giấy hoặc trên da động vật.

2. Những vật thể có tuổi trên 100 năm có giá trị như: các vật thể bằng gỗ quý có vẽ hoặc trang trí, trạm trổ hoạ tiết trên đó, các bộ trang phục dân tộc và hàng dệt cổ truyền quý hiếm, các loại đồ gỗ, các loại gương, hộp trang sức, các loại khoá, đồ sứ có trang trí hoạ tiết, nhạc cụ, các loại vũ khí, súng ngắn.

3. Các vật thể có độ tuổi trên 100 năm, có giá trị trên 50.000 Co Runa Thuỵ Điển như: các bức tranh, hoạ, nghệ thuật điêu khắc, đồ gốm thủ công, đồ sứ, đá đỏ, các vật thể kim loại quý (trừ tiền và huân huy chương)

4. Các vật thể có độ tuổi trên 50 năm, có giá trị trên 2000 Co Runa Thuỵ Điển như: Các loại quần áo, biên bản các phiên họp không ấn hành, thư tín, sổ nhật ký, các bản thảo viết tay, đĩa nhạc, sổ sách kế toán, bản đồ vẽ tay, các bản kế hoạch và thiết kế, các sản phẩm kỹ thuật, các thiết bị khoa học, các mẫu vật gốc (bản đầu tiên).

Việc di chuyển các vật thể văn hoá ngoại quốc cần phải có sự cho phép nếu như tính toán nó có thể đến Thuỵ Điển trước năm 1840 và giá trị của nó vượt quá 50.000 Co Runa Thuỵ Điển.

Sự di chuyển trong các trường hợp sau được miễn xin phép. Nếu như chủ nhân của vật thể đó chuyển từ Thuỵ Điển đến định cư ở một nơi khác hoặc nếu chủ nhân của nó trở thành công dân của nước khác và có được vật thể qua việc thừa kế; Cũng không cần có sự cho phép đối với các vật được mượn tạm thời của các cơ quan Nhà nước hay sử dụng cho các hoạt động văn hoá của Nhà nước ở nước ngoài. Luật cũng quy định rằng, sự cấp phép sẽ chỉ áp dụng đối với các vật thể có ý nghĩa quan trọng đối với di sản văn hoá dân tộc. Có 5 cơ quan có thẩm quyền cấp phép, đó là:

– Thư viện Quốc gia (các loại sách được ấn hành và không ấn hành)

– Bảo tàng Bắc Âu (đồ đạc gia dụng, đồ dệt may, nhạc cụ, vũ khí…)

– Cục lưu trữ Quốc gia (các di vật không được in ấn).

– Bảo tàng nghệ thuật Quốc gia

– Hội đồng cổ vật Quốc gia (đồ tạo tác của nhà thơ)

– Hồ sơ xin phép phải được đệ trình đến cơ quan chức năng

Việc từ chối không cấp phép có thể được đưa ra giải quyết tại toà án hành chính. Không có quy định về sự bồi thường hay quyền được mua trước của Nhà nước trong các trường hợp sự xin phép bị từ chối.

Luật về di tích lịch sử văn hoá bao gồm các quy định của Thuỵ Điển về việc thực hiện hướng dẫn của Cộng đồng Châu Âu 93/EEC về việc hoàn trả các di vật văn hoá bị di chuyển một cách bất hợp pháp từ lãnh thổ các nước thành viên trong Cộng đồng Châu Âu[5]. cơ quan ở Trung ương có trách nhiệm đối với việc thực hiện các nghĩa vụ theo Hướng dẫn của Cộng đồng Châu Âu là Hội đồng cổ vật quốc gia.

2. Luật về môi trường

Luật này bao gồm các quy định đối với tất cả các dạng hoạt động có thể gây ảnh hưởng đến môi trường. Luật có các quy định chung về sự xem xét kỹ lương mà các nhà chức trách cũng như các cá nhân phaỉ tuân theo. Liên quan đến các giá trị văn hoá, Luật đề cập đến hai khía cạnh khác nhau:

Thứ nhất, Luật quy định các đòi hỏi cơ bản nhất về việc sử dụng đát đai, vùng nước. Các vùng đất, vùng nước có giá trị tự nhiên và giá trị văn hoá quan trọng, khu vui chơi giải trí ngoài trời hoặc vùng phụ cận nếu có thể phải được bảo vệ chống lại các tác động có thể làm hư hại một cách đáng kể đến giá trị của nó. Đối với vùng hải cảng quan trọng của Quốc gia thì yêu cầu bảo vệ lại càng phải nghiêm ngặt hơn. Ngoài ra, Luật có các quy định về giới hạn địa lý các dải đất quan trọng, đặc biệt là dải đất dọc bờ biển, xung quanh các hồ, dọc theo các bờ sông, nơi mà các giá trị lịch sử, văn hoá được xác định là tài sản quan trọng của quốc gia. Hiệu lực của Luật này không chỉ áp dụng đối với các cá nhân mà cả đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước như cơ quan giao thông của Nhà nước, chính quyền các địa phương trong khi làm kế hoạch, cấp phép xây dựng phải thận trọng, tránh mọi biện pháp có thể làm hại đến khu vực có giá trị quan trọng của Quốc gia. Tất cả các quyết định không đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi về bảo vệ phải được huỷ bỏ. Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận rằng, đôi khi cũng có những đòi hỏi khác quan trọng hơn đối với vùng có giá trị văn hoá. Luật không thể hiện dưới dạng giải quyết các tranh chấp quyền lợi Quốc gia (ngoại trừ trường hợp nhiệm vụ quốc phòng được ưu tiên trước các quyền lợi khác của dân tộc).

Thứ hai, Luật về môi trường quy định các nội dung về bảo vệ thiên nhiên – bảo vệ văn hoá. Có thể giao cho chính quyền tỉnh, hoặc uỷ quyền cho chính quyền cơ sở ban hành các quy định về bảo vệ các phong cảnh tự nhiên có giá trị văn hoá. Cần áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để đạt được mục đích cần bảo vệ như việc nghiêm cấm đối với việc xây dựng các toà nhà thẳng đứng khô cứng, các hàng rào, các nhà kho…., nghiêm cấm việc đào bới, khai thác mỏ, đốn cây… Chủ sở hữu tài sản có thể bị bắt buộc phải xây dựng đường đi, khu vực đỗ xe, các lối đi nhỏ, các khu vệ sinh công cộng trong khu vực bảo tồn văn hoá. Trên thực tế, trong khu vực bảo vệ có thể có các ngôi nhà hoặc các thực thể khác thuộc đối tượng bảo vệ của Luật về di tích lịch sử văn hoá mà không làm ảnh hưởng đến vùng được quy hoạch là khu bảo tồn văn hoá. Việc ban hành các quy định về việc lập các khu bảo tồn văn hoá là nhiệm vụ của cả Chính phủ và chính quyền tỉnh. Các chủ sở hữu đang sử dụng khu đất mà bị ảnh hưởng bởi việc bảo tồn cảnh quan văn hoá được hưởng tiền bồi thường từ nhà nước hoặc chính quyền địa phương.

Mọi vi phạm các quy định về bảo vệ các khu bảo tồn văn hoá có thể phải chịu các hình phạt là phạt tiền hoặc phạt tù đến 2 năm tù giam

3. Luật về lập kế hoạch và xây dựng

Luật này giao cho chính quyền địa phương các quyền tự chủ rộng rãi trong việc quản lý công việc lập kế hoạch phát triển trên địa bàn quận, huyện mình. Tuy nhiên, Nhà nước có thể can thiệp vào các biện pháp lập kế hoạch trong một số trường hợp cần thiết. Một trong các trường hợp đó là các vấn đề quan trọng của quốc gia mà luật về môi trường chưa điều chỉnh. Các vùng địa ranh giới các khu vực có giá trị văn hoá quan trọng cần thiết được bảo vệ không bị phá huỷ trong quá trình phát triển .Luật này quy định một số yêu cầu trong việc bảo vệ các giá trị văn hoá. Luật cũng có những đòi hỏi chung đối với việc xây dựng các khu nhà và cấu trúc của nó cũng như cảnh quan môi trường và các khu sinh hoạt công cộng xung quanh. Việc thay thế các khu nhà hiện có và cấu trúc của nó phải được thực hiện một cách thận trọng để đảm bảo cho các tính chất đặc trưng của nó được bảo vệ gìn giữ. Trong quá trình phát triển, các giá trị về xây dựng, kiến trúc, lịch sử, môi trường phải được cân nhắc một cách thận trọng. Nhứng ngôi nhà có giá trị đặc biệt do ý nghĩa lịch sử, môi trường, cảnh quan kiến trúc cuả nó nằm trong khu vực phát triển có thể phải giữ nguyên trạng để đảm bảo để đảm bảo cho các tính chất đặc trưng của nó được giữ gìn, bảo vệ. Tất cả các toà nhà khác cần phải giữ lại tính đặc trưng của nó nếu được. Luật cũng quy định rằng, tất các chính quyền địa phương phải lập và thông qua kế hoạch tổng thể của quận, huyện mình. Kế hoạch tổng thể phải đưa ra được các phương án chủ yếu về việc sự dụng có mục đích các vùng đất, vùng nước. Các quan điểm của chính quyền địa phương về việc môi trường kiến trúc cần gìn giữ, phát triển cần phải rõ ràng. Các chính quyền địa phương phải đưa ra được các phương án gìn giữ các lợi ích Quốc gia và bảo đạt các tiêu chuẩn chất lượng như thế nào theo như quy định của luật về môi trường. Phải có các quy hoạch chi tiết về việc sử dụng đất đai và đầu tư phát triển. Các kế hoạch về phát triển có thể được chấp nhận nếu như đạt được các mục tiêu của kế hoạch tổng thể, bảo đảm an toàn các lợi ích Quốc gia.

Dựa trên hai kế hoạch đó, chính quyền địa phương có thể ban hành một số quy định dưới Luật về một số khía cạnh có liên quan đến việc bảo vệ các giá trị văn hoá. Nó có thể điều chỉnh mở rộng đối với việc duyệt kế hoạch, không duyệt kế hoạch đối với một số dự án của tư nhân, nghiêm cấm sự huỷ hoại, hoặc đưa ra các quy định cụ thể về việc giữ gìn, bảo vệ các toà nhà như thế nào. Không kể việc có các quy định về giữ gìn, không được huỷ hoại có được đưa vào trong kế hoạch và trong các quy định sử dụng vùng đất hay không, chính quyền địa phương vẫn có thể từ chối cho phép phá bỏ các toà nhà có giá trị văn hoá đặc biệt. Các quyết định theo Luật lập kế hoạch và xây dựng có thẻ bị kháng nghị ra chính quyền cấp tỉnh, cao bơn là Chính phủ hoặc ra toà án hành chính. Việc quy định mở rộng các biện pháp bắt buộc trong việc lập kế hoạch hay việc từ chối cấp phép mà dẫn tới các thiệt hại đến quyền lợi về kinh tế của chủ sở hữu thì có thể nhận được mức đền bù tối thiểu. Khi có các trở ngại đặc biệt trong việc sở hữu tài sản, chính quyền địa phương phải trưng mua tài sản đó theo giá thị trường. Trong các trường hợp đền bù khác, sự mâu thuẫn giữa các bên có thể được giải quyết tại toà án về bất động sản.

Việc không tuân thủ các quy định của Luật về lập kế hoạch và xây dựng có thể và cần thiết có sự can thiệp của chính quyền địa phương. ở đây có thể sử dụng hình thức phạt tiền, các hình phạt bổ sung khác, hoặc trong trường hợp đặc biệt chủ nhà phải dỡ bở ngôi nhà do đã xây dựng trái phép.

III. Đánh giá chung:

Như đã phân tích ở trên, pháp luật về bảo vệ các di sản văn hoá của Thuỵ Điển bao gồm một hệ thống các văn bản quy phạm do Quốc Hội và Chính phủ ban hành, mặc dù được cấu thành từ nhiều các văn bản khác nhau, song đây có thể coi là một thể thống nhất và khá hoàn thiện, trong đó Luật về di tích lịch sử văn hoá, Luật về lập kế hoạch và xây dựng và Luật về môi trường là ba đạo luật cơ bản nhất tạo nên phần xương sống của cả hệ thống. Mặc dù đều đã được xây dựng từ khá lâu, song các văn bản này đến nay vẫn giữ nguyên được giá trị do chúng luôn luôn được sửa đổi, bổ sung và cập nhật bằng một loạt các quy định mang tính chuyển tiếp. ở Thuỵ điển, bên cạnh việc chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật trong nước hoàn thiện, Quốc gia này còn rất tích cực trong việc tham gia kí kết và phê chuẩn các điều ước Quốc tế cũng như khu vực có liên quan đến hoạt động bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá Thế giới (Như Công ước bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên Thế giới, Công ước bảo vệ di sản văn hoá trước các cuộc xung đột vũ trang, Công ước về các di vật văn hoá bị đánh cắp hoặc xuất khẩu trái phép). Hiện nay trong một bối cảnh chung của Thế giới là các di sản

Thuỵ Điển vốn là một trong những Quốc gia có truyền thống văn hoá khá lâu đời ở Châu Âu. ở Vương quốc này, từ Hoàng gia cho đến mỗi người dân ý thức về việc trân trọng và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc luôn luôn được đề cao. Pháp luật trở thành


 

[1] Điều 2, Luật di tích lịch sử văn hoá Thuỵ Điển (1988: 950)có sử đổi năm 1996

[2] Điều 2, Điều 3 Luật di tích lịch sử văn hoá Thuỵ Điển

[3] Xem Điều 5,và Điều 7, Chương 4, Luật về di tích lịc sử văn hoá Thuỵ Điển

[4] Xem chương 5, Luạt về di tích lịch sử văn hoá (Phần bảo vệ chống xuất khẩu các đồ vật có giá trị lich sử)

[5] Xem Công ước UNIDROIT về các di vật văn hoá bị đánh cắp hoặc xuất khẩu phi pháp (Roma, 24/06/1995)

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

Trích dẫn từ: http://www.law-vnu.netnam.vn/html/nghiencuu.html

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: