Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT – MỘT VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM

TS. HOÀNG VĂN TÚ

“Pháp luật” là một khái niệm ra đời từ rất sớm và luôn gắn liền với khái niệm “nhà nước”; được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước; là yếu tố bảo đảm sự ổn định và trật tự xã hội

1. Một số vấn đề cơ bản về lý luận của giải thích pháp luật

1.1. Khái niệm giải thích pháp luật

Theo từ điển Tiếng Việt[1], “giải thích” là làm cho hiểu; là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu đúng vấn đề[2]. Ví dụ: thủy triều được giải thích là một hiện tượng tự nhiên, diễn tả quá trình nước biển dâng cao, rút xuống trong ngày do nguyên nhân sức hút của mặt trời và mặt trăng với trái đất v.v…

“Pháp luật” là một khái niệm ra đời từ rất sớm và luôn gắn liền với khái niệm “nhà nước”; được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước; là yếu tố bảo đảm sự ổn định và trật tự xã hội[3].

Lịch sử nhà nước và pháp luật đã chứng minh tập quán pháp và tiền lệ pháp là các hình thức đầu tiên của pháp luật. Do vậy, với tiền đề là việc làm rõ những thủ tục trong các nghi thức cộng đồng, nghi lễ tôn giáo thông qua các nhà tư tế và thủ lính tôn giáo thì cùng với sự ra đời của pháp luật, giải thích pháp luật đầu tiên là giải thích tập quán pháp được thực hiện bởi các nhà triết gia và nhà chính trị học. Giải thích pháp luật thành văn đầu tiên được biết đến thông qua giải thích của các nhà chính trị của Hy Lạp cổ đại[4].

Khái niệm giải thích pháp luật chỉ thật sự trở thành một thuật ngữ xã hội – pháp lý trong thời kỳ tư sản. Theo đó, giải thích pháp luật được hiểu là việc làm sáng tỏ về mặt tư tưởng và nội dung các quy phạm pháp luật, bảo đảm cho sự nhận thức và thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật; là nhằm xây dựng lại ý tưởng mà tác giả mong muốn truyền đạt qua các quy định của văn bản pháp luật đó[5]. Hoặc xét về thực chất, giải thích pháp luật là việc xác định nội dung và phạm vi áp dụng của văn bản hay một quy định cụ thể của văn bản đó[6].

Như vậy, giải thích pháp luật được hiểu là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách chính xác và thống nhất.

Tuy nhiên, pháp luật với vị trí và vai trò vốn có của nó là một công cụ chủ yếu của nhà nước để quản lý nhà nước và xã hội; các quy định của pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một định hướng nhất định; thông qua việc đặt ra, thực hiện và áp dụng các quy định của pháp luật sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi, quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể pháp luật; do đó, việc hiểu đúng, đầy đủ và chính xác các quy định của pháp luật theo nội dung và ý nghĩa vốn có của nó để thực thi và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh và có hiệu quả là một yêu cầu khách quan và cần thiết của bất cứ một hệ thống pháp luật nào. Chính vì vậy, việc giải thích pháp luật không thể “buông lỏng”, tức là không thể mặc nhiên thừa nhận hoặc công nhận kết quả của mọi hoạt động giải thích pháp luật đều là pháp luật, được thực thi và bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Bởi nếu bất cứ kết quả giải thích pháp luật nào cũng đều được công nhận thì chắc chắn mỗi chủ thể sẽ giải thích một kiểu, theo nhận thức, trình độ chuyên môn, vị trí, địa vị xã hội và lợi ích của mình. Điều này sẽ làm cho hệ thống pháp luật rối tung và trật tự xã hội bị đảo lộn, không thể quản lý.

Để khắc phục tình trạng đó, pháp luật các nước bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đều ghi nhận hoặc thừa nhận những hoạt động giải thích nào là giải thích chính thức, hợp pháp và có giá trị pháp lý. Một cách thức phổ biến được áp dụng đó là các nhà nước đã dùng quyền lực nhà nước để thu hẹp phạm vi của các chủ thể trong hoạt động giải thích, đồng thời xác định hình thức, giá trị pháp lý của kết quả giải thích và luật định về trình tự, thủ tục trong giải thích pháp luật. Nói cách khác, hoạt động giải thích pháp luật đã được thiết lập để trở thành một thẩm quyền của một chủ thể nhất định mang quyền lực nhà nước.

Ở Việt Nam, với lịch sử, truyền thống của chế độ xã hội chủ nghĩa và pháp luật thực định kiểu mới[7] nên hình thức pháp luật duy nhất được thừa nhận và sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL hiện hành, hệ thống VBQPPL của chúng ta bao gồm: Hiến pháp, luật, nghị quyết, pháp lệnh do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị – xã hội; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân[8]. Như vậy, khi nói đến giải thích pháp luật ở Việt Nam là nói đến giải thích các VBQPPL trên – VBQPPL thành văn và không tồn tại giải thích tập quán pháp và tiền lệ pháp.

Một đặc trưng nữa ở Việt Nam khi tìm hiểu khái niệm giải thích pháp luật, đó là hệ thống pháp luật mới chỉ quy định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà chưa có bất cứ một VBQPPL hiện hành nào quy định về giải thích các hình thức VBQPPL khác. Nhưng thực tế cho thấy, ngay cả việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mặc dù được quy định rất sớm trong Hiến pháp 1980 nhưng cho đến nay cũng chỉ có ba lần UBTVQH thực hiện thẩm quyền này[9]. Vì vậy, việc giải thích pháp luật nói chung và giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh nói riêng chưa được coi trọng và còn nhiều bất cập.

1.2. Phân loại giải thích pháp luật

Với cách hiểu giải thích pháp luật theo nghĩa rộng, các nhà khoa học pháp lý đã chia giải thích pháp luật thành nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào cách thức và căn cứ phân loại, giải thích pháp luật được chia thành các loại cơ bản như sau:

– Nếu căn cứ vào tính chất của chủ thể tiến hành giải thích, giải thích pháp luật được phân loại thành giải thích của cơ quan lập pháp (Nghị viện, Quốc hội); giải thích của cơ quan hành pháp (Chính phủ)[10]; giải thích của cơ quan tư pháp (Tòa án) và giải thích của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác như: giải thích của các luật sư, thẩm phán, nhà khoa học v.v..

– Nếu căn cứ vào hình thức pháp luật, giải thích pháp luật được phân thành giải thích tập quán pháp; giải thích tiền lệ pháp và giải thích VBQPPL. Trong giải thích VBQPPL, chúng còn có thể chia thành: giải thích Hiến pháp, giải thích luật, giải thích pháp lệnh v.v..

Ở đây, cần có sự lưu ý giữa giải thích Hiến pháp và giải thích các hình thức pháp luật khác. ở hầu hết các nước Châu Âu, kể cả các nước theo hệ thống pháp luật Common law hay Civil law thì giải thích Hiến pháp được nhận thức và quy định với một vị trí khá đặc biệt. Nó được coi là một hoạt động bảo hiến, được phân biệt với việc giải thích pháp luật thông thường về thẩm quyền, chủ thể yêu cầu giải thích, chủ thể thực hiện giải thích, giá trị pháp lý của việc giải thích, quy trình, thủ tục của việc giải thích. Nhìn chung, việc giải thích Hiến pháp được quy định hết sức chặt chẽ và nguồn gốc của sự khác biệt này thể hiện truyền thống chính trị – pháp lý và nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

– Nếu căn cứ vào giá trị pháp lý của nội dung giải thích, giải thích pháp luật được phân thành giải thích chính thức và giải thích không chính thức[11]. Trường hợp giải thích không chính thức thì nội dung giải thích không mang tính bắt buộc thực hiện đối với các bên liên quan; nó chỉ có giá trị tham khảo và thường được tiến hành bởi tất cả các chủ thể pháp luật như các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học v.v.. Giải thức chính thức thường được thực hiện bởi các chủ thể được nhà nước trao quyền; được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; nội dung giải thích thường được thể hiện bằng văn bản, có giá trị pháp lý như các quy định pháp luật cần giải thích. Giải thích chính thức lại được chia làm hai loại là giải thích chính thức mang tính quy phạm và giải thích chính thức cho những vụ việc cụ thể (giải thích tình huống)[12].

+ Giải thích chính thức mang tính quy phạm là giải thích pháp luật mà nội dung giải thích được thể hiện dưới dạng một VBQPPL; thường được thực hiện bởi cơ quan quyền lực nhà nước theo một trình tự độc lập[13] trên cơ sở khái quát từ thực tế của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật; văn bản thể hiện nội dung giải thích có giá trị chính thức và bắt buộc đối với mọi cơ quan quyền lực nhà nước lập pháp, hành pháp, tư pháp, các cơ quan tự trị địa phương, các xí nghiệp, công sở, tổ chức, hiệp hội, các quan chức và công dân[14].

+ Giải thích tình huống là hoạt động giải thích gắn liền với việc giải quyết một vụ việc cụ thể; nội dung giải thích không mang tính quy phạm, chỉ có giá trị pháp lý đối với các chủ thể trong vụ việc được giải quyết mà không có giá trị đối với các chủ thể ở các vụ việc pháp lý khác; thường được Toà án và các cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành khi giải quyết một tranh chấp hoặc xét xử một vụ án cụ thể[15]. Vì vậy, giải thích tình huống được hiểu là việc làm sáng tỏ quy phạm của chủ thể áp dụng quy phạm[16].

– Ngoài ra, giải thích pháp luật còn được phân thành giải thích đích thực và giải thích thông thường[17]. Giải thích đích thực là giải thích bằng văn bản của cơ quan lập pháp hoặc một cơ quan khác của nhà nước được giao thẩm quyền này. Giải thích thông thường được sử dụng trong thực tiễn chấp hành pháp luật, trong quá trình áp dụng pháp luật mà không được ghi thành văn bản mang tính quy phạm pháp luật.

1.3. Phương pháp giải thích pháp luật

Để thực hiện giải thích pháp luật, có các phương pháp được áp dụng khác nhau. Khoa học pháp lý đã đưa ra các phương pháp giải thích pháp luật sau đây[18]:

– Phương pháp lôgíc và phương pháp lịch sử: Phương pháp lôgíc thường được sử dụng khi quy định cần giải thích không trực tiếp nói đến quyền và nghĩa vụ của các bên. Phương pháp lịch sử thường được áp dụng để xác định phạm vi, đối tượng áp dụng, mục đích, ý nghĩa của nội dung cần giải thích. Hai phương pháp này gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau;

– Phương pháp giải thích về văn phạm là làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng quy định của pháp luật bằng cách làm rõ nghĩa từng chữ, từng câu được dùng để thể hiện nội dung và xác định mối liên hệ ngữ pháp giữa chúng. Giải thích về văn phạm gồm giải thích từ ngữ và giải thích theo cú pháp;

– Phương pháp giải thích chính trị – lịch sử là phương pháp tìm hiểu nội dung, tư tưởng quy định của pháp luật thông qua việc nghiên cứu các điều kiện chính trị – lịch sử tại thời điểm ban hành quy định đó. Ví dụ, với cùng một quy định về chế độ sở hữu thì với điều kiện chính trị – lịch sử năm 1980 thì chỉ được hiểu gồm hai chế độ là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, nhưng với các điều kiện chính trị – lịch sử năm 1992 thì phải được hiểu gồm ba chế độ là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân;

– Phương pháp giải thích hệ thống là làm rõ tư tưởng, nội dung quy định của pháp luật thông qua việc đối chiếu nó với các quy định khác của pháp luật; xác định vị trí của quy định cần giải thích trong mối quan hệ với toàn văn bản, ngành luật và hệ thống pháp luật.

– Ngoài ra, trong hoạt động giải thích pháp luật, phương pháp giải thích theo khối lượng gồm giải thích theo đúng nguyên văn; giải thích mở rộng; giải thích hạn chế cũng được sử dụng.

Trong thực tế, khi tiến hành giải thích pháp luật, các chủ thể thường không sử dụng một phương pháp nhất định mà kết hợp một số phương pháp với nhau để mang lại hiệu quả cao. Việc lựa chọn này tuỳ thuộc vào nhận thức chủ quan, tư duy khoa học của người giải thích và tương ứng phù hợp với từng loại quy định cần giải thích, hoàn cảnh giải thích, mục đích giải thích, thời điểm giải thích, người đề nghị giải thích v.v..

1.4. Vị trí và vai trò của giải thích pháp luật

Trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đặc biệt trong nhà nước pháp quyền và xã hội công dân thì pháp luật ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng. Giải thích pháp luật với nhiệm vụ làm sáng tỏ hơn các quy phạm pháp luật, kết quả của việc giải thích pháp luật có giá trị như pháp luật, nên nó rất cần thiết và có vai trò vô cùng quan trọng trong nhận thức – thực thi – áp dụng pháp luật. Có thể khẳng định rằng, giải thích pháp luật là một nhu cầu tất yếu khách quan đối với mọi xã hội và mọi hệ thống pháp luật. Bởi lẽ, về lý thuyết, nhu cầu này chỉ không phát sinh khi và chỉ khi có một hệ thống pháp luật hoàn thiện tuyệt đối và nhận thức pháp luật của người dân ở trình độ cao. Tuy nhiên, pháp luật là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng. Nó được xây dựng trên nền tảng là cơ sở hạ tầng và để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống thực tế. Đồng thời, trình độ nhận thức của mỗi con người là khác nhau. Chính vì vậy, trong điều kiện Việt Nam, với thực trạng của hệ thống pháp luật và ý thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế thì nhu cầu giải thích pháp luật trở nên thật sự cần thiết và có vai trò quan trọng. Vai trò của giải thích pháp luật được thể hiện từ sự nhận thức đến quá trình thực hiện pháp luật của người dân cũng như của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thông qua việc làm rõ nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, giải thích pháp luật sẽ giúp các chủ thể pháp luật hiểu chính xác và thống nhất các quy định của pháp luật, qua đó nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức pháp luật của các chủ thể,  giúp họ tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật một cách hợp pháp; kiềm chế và hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật do không nhận thức đúng các quy phạm pháp luật. Hơn thế nữa, vai trò của giải thích pháp luật được thể hiện đầy đủ và mang lại ý nghĩa to lớn trong hình thức áp dụng pháp luật – một hình thức thực hiện pháp luật được tiến hành với mục đích nhằm bảo đảm cho các quy định của pháp luật được thực hiện một cách triệt để hơn trong đời sống thực tế – do cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện và có tính chất quyết định tới quyền và nghĩa vụ của người dân. Vai trò đó được quyết định bởi chính bản chất và tính chất của hoạt động áp dụng pháp luật. Bản chất của hoạt động áp dụng pháp luật chính là việc áp dụng các quy phạm pháp luật vào từng trường hợp cụ thể. Tính chất của hoạt động áp dụng pháp luật là sự sáng tạo của chủ thể áp dụng pháp luật trong quá trình vận dụng cái chung, cái tổng quát vào từng cái riêng, cái cụ thể. Yêu cầu này đòi hỏi người áp dụng pháp luật trước khi quyết định lựa chọn quy phạm pháp luật cần phải làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật đó. Để làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật đưa ra áp dụng, thì cần phải biết giải thích pháp luật. Như vậy, nếu không có giải thích pháp luật thì sẽ khó có thể hiểu nội dung quy phạm pháp luật được mang ra áp dụng một cách chính xác, đầy đủ, sâu sắc và toàn diện, thể hiện hết ý nghĩa, mục đích pháp lý, chính trị và kinh tế sâu xa đằng sau các ngôn từ của quy phạm pháp luật đó khi được xây dựng. Việc làm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của văn bản áp dụng pháp luật – một sản phẩm của giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình áp dụng pháp luật và có thể ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm được xác lập.

Trong hình thức áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật còn có vị trí đặc biệt quan trọng đối với hoạt động áp dụng tương tự quy phạm pháp luật, cụ thể là áp dụng tương tự quy phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật. Đối với áp dụng tương tự quy phạm pháp luật, việc xác định không có quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật điều chỉnh vụ việc cần giải quyết là điều kiện cần và tìm ra quy phạm pháp luật để áp dụng tương tự là điều kiện đủ. Để hội tụ cả hai điều kiện này, đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải rất am hiểu pháp luật để có thể thực hiện một cách chính xác. Việc am hiểu pháp luật còn giúp cho chủ thể phân tích kỹ lưỡng và chính xác hơn nội dung và tư tưởng của quy phạm pháp luật được lựa chọn để áp dụng tương tự, thấy được điểm tương tự với vụ việc cần giải quyết, làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng tương tự và làm cho chủ thể trực tiếp chịu sự điều chỉnh của quy phạm trong hoạt động áp dụng tương tự quy phạm hiểu – một nền tảng quan trọng cho việc ra quyết định và thực thi văn bản áp dụng pháp luật.

Còn đối với áp dụng tương tự pháp luật, mặc dù chỉ được đặt ra khi và chỉ khi chưa có quy phạm pháp luật tương ứng điều chỉnh và cũng chưa có quy phạm pháp luật tương tự; do đó, về nguyên tắc hoạt động giải thích pháp luật không được đặt ra, vì không có đối tượng giải thích. Tuy nhiên, để áp dụng tương tự pháp luật thì các chủ thể áp dụng pháp luật cũng vẫn phải: i) chứng minh chưa có quy phạm pháp luật tương ứng điều chỉnh và cũng chưa có quy phạm pháp luật tương tự; ii) giải thích cho các chủ thể liên quan biết và hiểu tại sao vụ việc của họ lại được giải quyết bằng cách sử dụng các nguyên tắc pháp lý chung và ý thức pháp luật.

Tóm lại, giải thích pháp luật không những có vị trí, vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức và hiểu biết pháp luật của người dân mà còn quyết định tính đúng đắn và tính khả thi của văn bản áp dụng pháp luật. Thông qua việc làm rõ nội dung, tư tưởng các quy phạm pháp luật, giải thích pháp luật giúp cho các chủ thể pháp luật có sự nhận thức thống nhất và đúng đắn về pháp luật, giúp cho pháp luật tăng cường tính nghiêm minh, hiệu lực và hiệu quả trong quá trình thi hành và áp dụng; qua đó, tăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật.

2. Thực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam

2.1. Các quy định của pháp luật về giải thích pháp luật

Giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp là một hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước, do đó các nội dung của nó phải được các VBQPPL quy định và khi thực hiện giải thích pháp luật các chủ thể buộc phải tuân theo. Thực tế cho thấy, tương ứng với mỗi hệ thống pháp luật sẽ có một cơ chế giải thích pháp luật và theo đó cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật sẽ được thể hiện dưới các hình thức văn bản khác nhau, có thể là Hiến pháp, luật hoặc văn bản dưới luật. Tuy nhiên, một cách chung nhất, cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật thường quy định các nội dung về:

– Chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật;

– Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật;

– Hình thức và giá trị pháp lý của văn bản giải thích pháp luật;

– Quy trình thủ tục khi tiến hành giải thích pháp luật.

Hiến pháp 1959 (khoản 3 Điều 53) là VBQPPL đầu tiên quy định về giải thích pháp luật với tư cách là một thẩm quyền của UBTVQH. Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà nhân dân địa phương; Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các văn bản thể chế hoá quy định này. Tuy nhiên, các văn bản này mới chỉ quy định nguyên tắc mang tính định hướng mà chưa quy định các nội dung cụ thể và do đó việc giải thích pháp luật chưa được tiến hành trên thực tế.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và các VBQPPL quy định về giải thích pháp luật như: Luật tổ chức Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Toà án nhân dân; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; Luật Ban hành VBQPPL; Quy chế hoạt động của UBTVQH; Nghị quyết số 02 của UBTVQH ban hành về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội; Nghị quyết số 369 của UBTVQH ban hành về việc thành lập Ban Công tác lập pháp năm 2003… và một số VBQPPL khác, đã quy định về giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà không quy định về giải thích pháp luật. Theo đó, hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được quy định với những nội dung cơ bản như sau:

a) Về chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

Theo quy định của khoản 1 Điều 15 Nghị quyết số 26/2004/QH11 của Quốc hội ngày 15/6/2004 về Quy chế hoạt động của UBTVQH thay thế cho Quy chế hoạt động của UBTVQH 1993, các chủ thể sau đây có thẩm quyền kiến nghị UBTVQH giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh: UBTVQH; Chủ tịch nước; Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận.

b) Chủ thể có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

Theo quy định của Điều 90 Hiến pháp 1992, cơ quan thường trực của Quốc hội – UBTVQH – là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Giúp ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện thẩm quyền này có Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Ban Công tác lập pháp[19].

c) Hình thức thể hiện của văn bản giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

Khoản 2 Kiều 21 Luật Ban hành VBQPPL và Khoản 3 Điều 15 Nghị quyết số 26/2004/QH11 của Quốc hội ngày 15/6/2004 quy định: “UBTVQH thảo luận và thông qua nghị quyết về giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. nghị quyết về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng”…

d) Quy trình, thủ tục trong việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL và Quy chế hoạt động của UBTVQH năm 2004 thì quy trình, thủ tục trong hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, được thực hiện giống như quy trình, thủ tục thông qua luật. Tuy nhiên, với tính chất, nội dung và phạm vi nghị quyết của UBTVQH nên quy trình, thủ tục cũng được đơn giản hoá hơn. Cụ thể, gồm các bước như sau:

– Đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh:

Khi phát sinh nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các chủ thể có thẩm quyền đề nghị UBTVQH giải thích. Trong văn bản đề nghị phải thể hiện được các nội dung cơ bản như sự cần thiết, nội dung quy định cần giải thích, các cách hiểu khác nhau về quy định… Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế, UBTVQH có trách nhiệm xem xét và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã đề nghị biết ý kiến của UBTVQH về vấn đề này.

– Soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh:

Sau khi đề nghị giải thích được UBTVQH chấp nhận thì Ban soạn thảo được thành lập để chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích. Thông thường, chủ thể giải thích sẽ tự thành lập Ban soạn thảo. UBTVQH thành lập Ban soạn thảo trong trường hợp chủ thể đề nghị giải thích là: UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội hoặc nội dung giải thích có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.

Căn cứ vào tính chất và nội dung của việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà UBTVQH giao cho Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội để soạn thảo dự thảo nghị quyết. Dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh sau khi đã soạn thảo sẽ được trình UBTVQH để tiến hành thẩm tra. Thời hạn gửi dự thảo nghị quyết để thẩm tra chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bắt đầu phiên họp UBTVQH.

– Thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích:

Trên cơ sở dự thảo nghị quyết đã được cơ quan soạn thảo chuẩn bị, UBTVQH căn cứ vào nội dung và tính chất của nội dung cần giải thích, giao cho Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra.

Như vậy, chủ thể thực hiện việc thẩm tra là Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội. Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, UBTVQH tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội trình Quốc hội quyết định thành lập Uỷ ban lâm thời của Quốc hội để thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh (Điều 26 Quy chế 2004). Tuy nhiên, từ khi thiết lập quy định này, chưa có lần nào Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra về dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Ngay cả việc thành lập Uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án luật cũng thực hiện chỉ được một vài lần.

Về phạm vi thẩm tra, theo quy định của Điều 34 Luật Ban hành VBQPPL, cơ quan thẩm tra phải tiến hành thẩm tra về tất cả các mặt của dự thảo nghị quyết, nhưng tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây:

+ Sự cần thiết ban hành nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh;

+ Sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp của dự thảo và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật;

+ Việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo;

+ Tính khả thi của dự thảo.

Việc thẩm tra dự thảo nghị quyết có thể được tiến hành một lần hoặc nhiều lần. Đối với dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được UBTVQH xem xét thông qua trong hai phiên họp thì dự thảo nghị quyết phải được cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra sơ bộ lần đầu. Đối với dự thảo nghị quyết trình UBTVQH xem xét, quyết định thông qua tại phiên họp thứ hai hoặc trong trường hợp dự thảo được UBTVQH quyết định xem xét thông qua tại một phiên họp thì phải được cơ quan thẩm tra tiến hành thẩm tra chính thức. Điều 35 Luật Ban hành VBQPPL quy định: “Khi thẩm tra chính thức, cơ quan thẩm tra phải tiến hành phiên họp toàn thể. Trong trường hợp dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được giao cho nhiều cơ quan phối hợp thẩm tra, thì cơ quan được giao chủ trì thẩm tra có trách nhiệm tổ chức phiên họp liên tịch để tiến hành thẩm tra. Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan thẩm tra

– Thảo luận tại phiên họp và xem xét thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

Thông thường, UBTVQH quyết định xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại hai phiên họp. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, UBTVQH có thể xem xét thông qua tại một phiên họp. Về cơ bản, trình tự, thủ tục thông qua tại một phiên họp và hai phiên họp là tương tự nhau. Tại phiên họp thứ nhất, dự thảo nghị quyết sẽ được biểu quyết thông qua các nội dung cơ bản như phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau. Sau đó, trên cơ sở các ý kiến đóng góp, trong thời gian giữa hai phiên họp, UBTVQH chỉ đạo cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiến hành nghiên cứu tiếp thu và chỉnh lý dự thảo nghị quyết để trình UBTVQH thông qua tại kỳ họp thứ hai. Tại phiên họp thứ hai, sau khi, tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo nghị quyết được đọc trước toàn thể phiên họp UBTVQH. Các thành viên UBTVQH tiến hành biểu quyết thông qua một số nội dung còn ý kiến khác nhau và biểu quyết toàn văn dự thảo nghị quyết. Nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thông qua khi có quá nửa thành viên UBTVQH biểu quyết tán thành, trừ trường hợp Chủ tịch nước đề nghị xem xét lại được quy định tại Điều 39 và Điều 103 Hiến pháp 1992. Theo các quy định này, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nghị quyết được UBTVQH thông qua, Chủ tịch nước có quyền đề nghị UBTVQH xem xét lại những nội dung mà Chủ tịch nước chưa đồng ý. Nếu nghị quyết đó vẫn được UBTVQH biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất (khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 1992).

– Công bố nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh:

Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về việc công bố nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH. Nhưng theo quy định chung, sau khi nghị quyết được Chủ tịch Quốc hội ký sẽ được gửi tới Chủ tịch nước để ký lệnh công bố. Thời hạn này là 15 ngày, kể từ ngày nghị quyết được thông qua.

Một số đánh giá về cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật

– Thứ nhất, hệ thống VBQPPL hiện hành mới chỉ quy định về giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà chưa có các quy định về giải thích pháp luật. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại giá trị của Điều 53 Hiến pháp 1959, tức là bên cạnh việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thì giải thích các văn bản quy phạm pháp cũng cần phải được quy định. Chỉ có như vậy, mới khắc phục được tình trạng đánh đồng hoạt động quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật của Chính phủ với việc giải thích pháp luật.

– Thứ hai, giải thích Hiến pháp chưa được thiết lập theo một cơ chế riêng so với giải thích các VBQPPL khác. Theo quy định hiện hành, giải thích Hiến pháp được thực hiện giống hoạt động giải thích luật, pháp lệnh. Điều này chưa thể hiện được vị trí và vai trò của Hiến pháp, đặc biệt trong nhà nước pháp quyền.

– Thứ ba, UBTVQH là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là chưa hợp lý, đặc biệt về giải thích Hiến pháp và giải thích luật.

– Thứ tư, quy trình, thủ tục trong hoạt động giải thích còn chưa cụ thể, thiếu chi tiết. Cụ thể là: i) Quy trình, thủ tục của việc giải thích Hiến pháp chưa được Quốc hội quy định chi tiết theo khoản 1 Điều 13 Luật Ban hành VBQPPL; ii) Chưa phân biệt quy trình, thủ tục giữa việc UBTVQH tự mình thực hiện việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và việc UBTVQH thực hiện việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo đề nghị của các chủ thể có thẩm quyền khác; iii) Quy trình tiếp nhận và xử lý đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh chưa được quy định. Các nội dung cơ bản và yêu cầu của đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh chưa được quy định cụ thể làm căn cứ cho hoạt động xử lý đề nghị; iv) Việc phân công soạn thảo dự thảo nghị quyết trong trường hợp đại biểu Quốc hội đề nghị giải thích chưa được làm rõ; v) Quy trình, thủ tục trong hoạt động thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích chưa được quy định; vi) Việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến nội dung giải thích chưa được quy định cụ thể; vii) Chưa xác định thẩm quyền của Chủ tịch nước ký công bố đối với nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo quy định của Điều 51 Luật Ban hành VBQPPL; viii) Các thời hạn trong từng giai đoạn chưa được xác định.

2.2. Việc thực hiện giải thích pháp luật ở Việt Nam trong thời gian qua

Kể từ lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp 1959, qua gần 50 năm phát triển và hoàn thiện cơ sở pháp lý, cho đến nay, UBTVQH đã hai lần thực hiện thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và cả hai lần đều là giải thích luật; đối với giải thích Hiến pháp và giải thích pháp lệnh thì chưa thực hiện.

Tuy nhiên, tìm hiểu thực tế cho thấy, việc giải thích luật được đặt ra lần đầu tiên tại Quốc hội khoá VIII, khi quy định của khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai 1993 đã dẫn đến các cách hiểu không thống nhất làm phát sinh tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Toà án nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Để giải quyết việc này, Tổng cục Địa chính đã đề nghị UBTVQH giải thích nội dung này. Nhưng do nhiều lý do, việc giải thích luật đã không được thực hiện. Một trong các lý do có thể kể đến là nhiều ý kiến trong UBTVQH cho rằng, Điều 89 Luật Đất đai, Quốc hội đã giao Chính phủ quy định chi tiết nên việc này thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Nếu UBTVQH tiến hành giải thích sẽ tạo ra tiền lệ và chắc chắn UBTVQH sẽ khó có thể đảm đương được nhiệm vụ này. Kết quả là, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục Địa chính đã ban hành Thông tư số 02/TTLT, ngày 28/7/1997 để hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993. Xem xét nội dung của Thông tư này, về bản chất, chính là hoạt động giải thích luật.

Việc giải thích luật chỉ được chính thức thực hiện lần đầu tại phiên họp thứ 25 của UBTVQH khoá XI. Trên cơ sở Tờ trình số 06/CP-XDPL ngày 21/01/2005 của Chính phủ về việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 của Luật Thương mại và Báo cáo ý kiến số 1519 a /UBKTNS ngày 24/01/2005 của Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội, UBTVQH đã thông qua Nghị quyết số 746/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 28/01/2005 để giải thích khoản c Điều 241 Luật Thương mại 1997.

Lần thứ hai UBTVQH thực hiện thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là để giải thích khoản 6 Điều 19 của Luật Kiểm toán Nhà nước. Trên cơ sở Tờ trình số 682/TTr-KTNN ngày 12/10/2006 của Tổng Kiểm toán Nhà nước và Báo cáo ý kiến số 3050/UBKTNS ngày 8/11/2006 của ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội, UBTVQH đã thông qua Nghị quyết số 1053/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 10/11/2006.

Một số đánh giá về thực hiện giải thích pháp luật ở Việt Nam

Tìm hiểu hai lần UBTVQH tiến hành giải thích luật trên cho thấy, còn một số bất cập sau đây:

– Các chủ thể pháp luật nói chung và các chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh nói riêng chưa hiểu đầy đủ và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Cụ thể, trong việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 Luật Thương mại, Uỷ ban trọng tài Quốc tế Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã có công văn đề nghị UBTVQH giải thích luật mặc dù theo quy định của pháp luật hai chủ thể trên không có thẩm quyền này[20].

– Hoạt động phối hợp công tác giữa các chủ thể chưa đáp ứng yêu cầu; quy trình, thủ tục trong hoạt động giải thích luật chưa được thực hiện nghiêm minh. Trong việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 Luật Thương mại giữa Chính phủ, Phòng thương mại và công nghịêp Việt Nam, Văn phòng Quốc hội chưa có sự phối hợp chặt chẽ, nên đã dẫn đến việc giải thích vụ việc bị kéo dài làm ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp.

– Tình trạng quá tải trong công việc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thích và trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ ở các cơ quan nhà nước còn hạn chế. Như đã nói, đây là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến việc giải thích pháp luật nói chung và giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh còn hạn chế.

3. Một số kiến nghị

3.1. Một số quan điểm, định hướng

Nhu cầu giải thích pháp luật phát sinh, tồn tại trong bất cứ hệ thống pháp luật nào, do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý và khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện giải thích pháp luật là một đòi hỏi khách quan mang tính tất yếu. Điều này lại càng mang tính cấp thiết và cần thiết đối với nước ta. Để hoàn thiện việc giải thích pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần phải quán triệt một số quan điểm và định hướng sau đây:

Thứ nhất, hoàn thiện giải thích pháp luật phải gắn với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cơ sở quán triệt một số nguyên tắc cơ bản sau đây: i) Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; ii) quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; iii) pháp luật có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, trong đó, Hiến pháp và luật có vị trí tối cao trong đời sống xã hội. Bên cạnh đó khẳng định vai trò của đạo đức và các quy tắc xã hội khác; iv) bảo đảm quyền con người, quyền công dân, khẳng định và thực hiện nguyên tắc trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tiếp tục thể chế hóa chủ trương dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội; v) xác định trách nhiệm đầy đủ của Nhà nước trong việc thực hiện các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế theo tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển; vi) bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân[21].

Thứ hai, hoàn thiện giải thích pháp luật để khắc phục những tồn tại và đáp ứng kịp thời yêu cầu giải thích pháp luật phát sinh trên thực tế. Qua hơn 20 năm đổi mới vừa qua, trước sức ép của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của xã hội, một số lượng lớn các VBQPPL đã được ra đời. Với tốc độ “làm luật khoán” và trình độ làm luật ở nước ta hiện nay, không ai dám chắc chắn và khẳng định chất lượng về nội dung của các văn bản đã được ban hành. Thực tế cho thấy, tình trạng luật khung, luật ống vẫn còn tồn tại với số lượng không ít làm cho các đạo luật chậm đi vào cuộc sống và luôn phải chờ hướng dẫn, quy định chi tiết. Bên cạnh đó, vấn đề kỹ thuật lập pháp cũng chưa được quan tâm một cách đúng mức nên nội dung của các điều luật không phải lúc nào cũng minh bạch, rõ ràng dễ hiểu và đơn nghĩa. Chính vì vậy, trong thời gian tới chắc chắn nhu cầu giải thích pháp luật sẽ phát sinh nhiều và cần được giải quyết một cách kịp thời nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của  người dân, đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trước các tranh chấp quốc tế.

Trước yêu cầu hoàn thiện hoạt động giải thích pháp luật trong tình hình mới, một số nhà khoa học pháp lý đã đề cập, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp. Tuy nhiên, trong giới khoa học pháp lý hiện nay, với cách thức tiếp cận và căn cứ khác nhau nên còn tồn tại các quan điểm khác nhau. Có thể kể đến các quan điểm chính sau đây:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc UBTVQH thực hiện giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay. Do đó, về cơ bản, không cần có sự thay đổi nhiều về hoạt động này mà chỉ cần tập trung vào việc nâng cao năng lực giải thích của UBTVQH thông qua việc giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị giúp việc; đồng thời, tăng cường hiệu quả công tác của các đơn vị giúp việc cho UBTVQH trong thời gian tới. Quan điểm này cho rằng, nhu cầu giải thích pháp luật nói chung và giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh nói riêng ở nước ta là không nhiều và giải thích của chúng ta là giải thích chính thức mang tính quy phạm chứ không phải giải thích theo từng vụ việc cụ thể; đồng thời, Chính phủ có thể giải thích pháp luật trên cơ sở hoạt động quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành và thực tế trong những năm vừa qua cho thấy, Chính phủ vẫn đảm nhiệm công việc này và cũng không phát sinh nhiều bất cập đáng kể.

Quan điểm thứ hai, xuất phát từ vị trí và vai trò của các VBQPPL trong hệ thống VBQPPL, đặc biệt vị trí và vai trò của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền cho rằng, việc giải thích Hiến pháp là một trong các nội dung của hoạt động bảo hiến, do đó, nó cần phải được thực hiện theo một cơ chế riêng khác với giải thích các VBQPPL khác. Cụ thể, việc giải thích Hiến pháp cần phải được trao cho một cơ quan bảo hiến.

Quan điểm thứ ba, xuất phát từ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cho rằng, không thể tồn tại việc một cơ quan cấp dưới lại giải thích văn bản của cơ quan cấp trên và chủ thể ban hành văn bản đồng thời là chủ thể thực hiện việc giải thích văn bản đó. Do đó, để đảm bảo đối trọng quyền lực và tính khách quan trung thực thì việc giải thích pháp luật nên được trao nhánh quyền lực tư pháp là thích hợp nhất.

3.2. Một số kiến nghị cụ thể

Trên cơ sở lý luận, thực tiễn của việc giải thích pháp luật và định hướng, quan điểm hoàn thiện nêu trên, việc giải thích pháp  luật ở Việt Nam trong thời gian tới cần thực hiện những nội dung sau đây:

Thứ nhất, cần sớm nghiên cứu quy định về việc giải thích pháp luật thay vì chỉ quy định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp luật như hiện nay để khắc phục tình trạng “bỏ ngỏ” việc giải thích các VBQPPL khác hay đánh đồng giữa việc Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật với việc giải thích pháp luật.

Thứ hai, cần thiết lập một cơ chế riêng về giải thích Hiến pháp cho phù hợp với vị trí, vai trò của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Theo đó, Quốc hội phải là cơ quan (chủ thể) duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp với tư cách là một chủ thể lập hiến.

Việc giao Quốc hội giải thích Hiến pháp cũng hoàn toàn phù hợp với truyền thống và nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hơn nữa, nó còn bảo đảm tính thứ bậc pháp lý trong hệ thống VBQPPL; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền.

Thứ ba, cần có sự phân định về thẩm quyền giữa các chủ thể trong việc giải thích pháp luật theo hướng trao một phần thẩm quyền giải thích pháp luật cho hệ thống toà án. Bởi vì, tư pháp (theo nghĩa hẹp là hệ thống tòa án)[22] là việc xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng trong nhân dân[23]. Toà án là các cơ quan xét xử có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân[24]. Mục đích cơ bản của cơ quan tư pháp là bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên (cả nhà nước và công dân). Nguyên tắc hoạt động là khách quan và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật[25]. Do vậy, nếu toà án giải thích pháp luật sẽ bảo đảm tính khách quan hơn.

Thêm vào đó, thực tế cho thấy, đa số các nhu cầu giải thích đều phát sinh và gắn liền hữu cơ với một vụ việc cụ thể. Nói cách khác, đa số giải thích pháp luật đều là giải thích vụ việc và gắn với việc giải quyết một tranh chấp nhất định và theo phân công quyền lực nhà nước thì chính Toà án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp này.

Như vậy, không phải lập pháp hay hành pháp mà chỉ có thể là tư pháp mới là cơ quan hiểu rõ và gắn liền với nhu cầu giải thích pháp luật; là cơ quan giải thích pháp luật mang tính khách quan, trung thực và thiết thực nhất. Điều này cũng phù hợp với tiến trình cải cách thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền đến năm 2010, đã được Đảng ta đề ra.

Về phạm vi thẩm quyền của Tòa án và hình thức, giá trị pháp lý của nội dung giải thích: tất nhiên, khi chúng ta đã trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án tức là đồng nghĩa với việc chúng ta phải công nhận hình thức giải thích chính thức mang tính vụ việc bên cạnh hình thức giải thích chính thức mang tính quy phạm hiện nay của UBTVQH. Đây cũng chính là một trong các căn cứ để xác định phạm vi thẩm quyền giải thích của Tòa án và hình thức, giá trị pháp lý của nội dung giải thích. Tức là, trong quá trình tòa án giải quyết một vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền mà phát sinh nhu cầu giải thích pháp luật để áp dụng thì Thẩm phán được giao xét xử vụ việc đó giải thích. Các nội dung giải thích phải được ghi trong các văn bản có liên quan, đặc biệt nội dung giải thích chính thức phải được thể hiện trong bản án, quyết định giải quyết vụ việc đó. Giá trị pháp lý của nội dung giải thích chính là giá trị pháp lý của quyết định, bản án được tuyên.

Tuy nhiên, việc trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án không đồng thời đánh mất đi quyền giải thích pháp luật của cơ quan lập pháp – một hoạt động giải thích chính thức mang tính quy phạm. Nhưng trong thời gian tới, Quốc hội phải là chủ thể đảm nhận thẩm quyền này thay vì ủy quyền cho UBTVQH. Quốc hội phải bằng việc ban hành nghị quyết để giải thích các quy định của luật trên cơ sở đề nghị giải thích luật của các chủ thể đã được quy định. Phạm vi giải thích pháp luật của Quốc hội còn lại chủ yếu là liên quan đến các luật về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước và các quy định về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước (các quy phạm pháp luật thuộc luật công). Ví dụ, giải thích về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai giữa tòa án và ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai hoặc giải thích về thẩm quyền ban hành VBQPPL của Tổng Kiểm toán Nhà nước theo quy định của khoản 3 Điều 16 của Luật Kiểm toán Nhà nước. Các quy phạm pháp luật cần giải thích này là rất quan trọng và hiện nay cũng không thuộc thẩm quyền của tòa án; do đó, với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội mới là chủ thể có đủ tư cách và thẩm quyền để thực hiện giải thích.

Bên cạnh các sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh như đã đề cập, thì điều kiện đủ để triển khai sự thay đổi đó chính là cần bảo đảm các điều kiện về nhân lực và vật chất.

Tóm lại, giải thích pháp luật là hoạt động làm sáng tỏ về tư tưởng và nội dung của các quy phạm pháp luật. Thông qua hoạt động này, nội dung của các quy phạm pháp luật được hiểu một cách rõ ràng, cụ thể và thống nhất hơn, giúp các chủ thể pháp luật có nhận thức đúng đắn về pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật; đảm bảo việc thực thi và áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh, thống nhất; bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải thích pháp luật là một nhu cầu cần thiết mang tính tất yếu, khách quan đối với bất cứ hệ thống pháp luật của nước nào. Nó còn trở nên thật sự cần thiết hơn khi Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. /.

————————————————————————————–

[1] Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr. 388.

[2] Trang thông tin hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp: http://nghiepvu.moj.gov.vn

[3] GS,TS. Trần Ngọc Đường, Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 186

[4] PGS,TS. Nguyễn Như Phát, Giải thích pháp luật tại Việt Nam – công cụ đảm bảo tính minh bạch của pháp luật.

[5] TS. Hoàng Văn Tú, Thẩm quyền của UBTVQH về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tạp chí NCLP số 5/2002.

[6] TS. Nguyễn Văn Thuận. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH”,  Hà Nội, 1999. Tr.3.

[7] GS,TS. Trần Ngọc Đường, Tập 1 Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, tr. 265.

[8]  Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL.

[9]  Nghị quyết số 746/2005/NQ-UBTVQH11, ngày 12/01/2005 về việc giải thích điểm c, khoản 2, Điều 241 Luật Thương mại; NQ 1053/2006/NQ/UBTVQH ngày 10/11/2006 về việc giải thích khoản 6, Điều 19 Luật Kiểm toán Nhà nước.

[10] TS. Nguyễn Văn Thuận. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH”, Hà Nội, 1999.

[11] GS, TS. Trần Ngọc Đường. Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật. tr 367.

[12] TS. Nguyễn Văn Thuận. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH”,  Hà Nội, 1999.

[13] GS, TS. Trần Ngọc Đường, Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật,  tr.368.

[14] Điều 106, Luật Hiến pháp Liên bang Nga

[15] GS, TS. Trần Ngọc Đường, Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật. tr.368

[16] Nguyễn Đức Lam: Thẩm quyền của các cơ quan bảo hiến ở các nước trên thế giới, Tạp chí NCLP tháng 9/2001

[17]  Theo từ điển pháp luật Blacks Law Dictionary của tác giả Henry Campbell Black, M.A

[18] TS. Đinh Văn Mậu và TS. Phạm Hồng Thái. Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tổng hợp Đà Nẵng, tr 396-397.

[19] Xem: Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 02 NQ/UBTVQH9 của UBTVQH ban hành ngày 17/10/1992 quy định về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội và  Khoản 7 Điều 2 Nghị quyết số 369/2003/NQ-UBTVQH11 của UBTVQH , ban hành ngày 17/3/2003 về việc thành lập Ban Công tác lập pháp.

[20] Xem Công văn số 201/VIAC ngày 26/7/2004 và Công văn 2018/PTM-PC ngày 21/9/2004

[21] GS, TSKH. Đào Trí Úc, Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Báo Nhân dân ngày 8/8/2006.

[22] Có thể tham khảo theo quan điểm của TSKH Lê Cảm, trong Đề tài cấp Đại họcQuốc gia “Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (do TSKH Lê Cảm chủ trì);

[23] Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr.1071

[24] Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002

[25] Điều 5 Luật tổ chức Toà án nhân dân 2002

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 10 (126) VÀ SỐ 11 (127) NĂM 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: