TĂNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỂ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN HOẠT ĐỘNG LÀNH MẠNH, MINH BẠCH HƠN

NGUYỄN MINH PHONG – ĐẶNG CẨM THÚY – NGUYỄN MINH LONG

Tính đến hết tháng 9-2008, Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 152 công ty niêm yết; Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội: 133 công ty. Có khoảng 80 công ty chứng khoán với hơn 32.000 tài khoản của các cá nhân và tổ chức được mở và đang thực hiện giao dịch tại hai sàn. Tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán khoảng gần 27% GDP. Thực tiễn cho thấy, trong số các nhân tố tác động đến sự hoạt động minh bạch và lành mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam, thì công tác thông tin và giám sát xử phạt các vi phạm hành chính có ý nghĩa ngày càng quan trọng …

1- Kinh doanh chứng khoán và vai trò của thông tin

Sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK)  là đặc trưng và thước đo sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là công cụ đắc lực để huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội của một nước, một khu vực, thậm chí toàn cầu. Như tất cả các hoạt động đầu tư kinh doanh khác, kinh doanh chứng khoán cũng nhằm mục đích cuối cùng và cao nhất là đem lại lợi nhuận (từ nguồn lợi tức hoặc chênh lệch giá giữa khi mua và bán chứng khoán), hoặc nhằm thoả mãn những lợi ích riêng nào đó của các nhà đầu tư (chẳng hạn, việc tìm kiếm quyền kiểm soát một công ty hoặc gây tổn hại, thậm chí phá sản cho một công ty cạnh tranh đối địch…).

TTCK có những tính chất nội tại trong cơ chế hoạt động của mình như tính gián tiếp của loại hình đầu tư; tính trung gian của hoạt động mua – bán chứng khoán; tính tương đối trong việc đánh giá chất lượng hàng hoá (chứng khoán) thông qua xác định hệ số tín nhiệm của công ty; tính phong phú, đa dạng của các cách thức mua bán chứng khoán (hiện tại, tương lai, thanh toán ngay, thanh toán chậm…); tính dễ thoát ly giữa cung – cầu về chứng khoán và ngay bản thân giữa “cầu thực” với “cầu ảo”; tính nhanh chóng, tức thì của các giao dịch chứng khoán và sự phản ánh tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của các giao dịch này đến động thái chứng khoán chung trên thị trường chứng khoán; tính nhạy cảm – đòn bẩy của các quyết định đầu tư từ các nhà đầu tư lớn – thủ lĩnh đến động thái thị trường và tính chất dễ lan toả của các xu hướng và tâm lý mua – bán từ các nhà đầu tư này đến tuyệt đại đa số các nhà đầu tư nhỏ, ăn theo khác; tính đa chiều, khi lên, khi xuống của biểu đồ thị giá chứng khoán, khác với nhiều thị trường hàng hoá – dịch vụ thông thường chỉ có hoặc đi lên, hoặc xuống (tất nhiên, trừ phi công ty phát hành chứng khoán bị phá sản). Do vậy, kinh doanh trên TTCK có đặc điểm nổi bật là sự may rủi và tính đầu cơ rất cao bên cạnh tính đột biến về lợi nhuận thu được trên TTCK.

Hơn nữa, độ rủi ro kinh doanh chứng khoán còn cao hơn (xét cả về phía các nhà đầu tư chứng khoán, lẫn về phía đời sống kinh tế – xã hội quốc gia), nếu xét đến những bí mật thuộc bản chất cơ chế hình thành cung – cầu và giá cả chứng khoán trên TTCK, đặc biệt là xu hướng luôn có sự tách rời khá xa giữa giá trị thực và giá trị “ảo” được tạo nên bởi những ngộ nhận xuất phát từ suy đoán lôgích, mang đậm tính kinh nghiệm (trong khi hoạt động của TTCK khá phi lôgích); từ những giả định mang tính hy vọng, ước nguyện, chủ quan và cả từ sự phổ biến của cái gọi là “tâm lý đám đông”. Điều này bộc lộ rõ nhất ở những TTCK mới thành lập, nơi các thành viên tham dự “cuộc chơi” trên TTCK còn non về nhận thức, kinh nghiệm; nơi những quy luật chung, đặc trưng của TTCK địa phương chưa kịp định hình vững chắc; nơi mà các thiết chế cần thiết cho cơ chế kinh tế thị trường nói chung, cho TTCK nói riêng chưa phát triển đồng bộ và hoàn thiện…

Như vậy, chất lượng các thông tin về chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng để giúp các nhà kinh doanh chứng khoán hiểu đúng chất lượng chứng khoán, nắm bắt đúng xu hướng biến động giá cả, cung – cầu chứng khoán, từ đó hình thành và điều chỉnh các quyết định đầu tư của mình cho phù hợp, bảo đảm tính an toàn và hiệu quả của các hoạt động kinh doanh trên loại thị trường đầy rủi ro này.

2- Những vi phạm về thông tin trong hoạt động của thị trường chứng khoán

Với những đặc điểm trên đây, có thể nói, ở góc độ hẹp, TTCK cũng là thị trường thông tin. Nói các khác, thông tin chiếm vị trí quyết định nhất để một TTCK có thể vận hành an toàn và hiệu quả. Thực tế thế giới cho thấy, hầu hết TTCK ở các quốc gia (nhất là những TTCK còn non trẻ ở châu Á), đều đã từng bị chấn động mạnh, thậm chí sụp đổ chỉ sau thời gian ngắn hoạt động do thiếu hệ thống luật pháp cần thiết, và nhất là, do thiếu sự phát triển của hệ thống thông tin và bảo đảm chất lượng của các thông tin trên thị trường này.

Những thông tin cần thiết để một TTCK hoạt động bình thường và an toàn, nhất thiết phải gồm: Nhóm thông tin về môi trường pháp lý, cơ chế, thể thức vận hành về TTCK nói chung và về TTCK địa phương cụ thể nói riêng; Nhóm thông tin về tình hình kế hoạch và kết quả hoạt động kinh doanh, trạng thái tài chính mà báo cáo tài chính công ty là quan trọng nhất; Nhóm thông tin về động thái cung – cầu và các nhân tố liên quan đến TTCK, bao gồm về cung – cầu của các loại chứng khoán niêm yết trên TTCK trong nước và nước ngoài, xu hướng vận động và những dự báo tương lai… Rộng hơn, có thể còn cần bao hàm cả những thông tin liên quan đến đường lối, chính sách, giải pháp kinh tế vĩ mô của Chính phủ chung cho đất nước, hoặc riêng cho từng ngành, lĩnh vực, mặt hàng, doanh nghiệp. Ngay cả những thông tin về chính sách đối ngoại, đối nội về chính trị – xã hội cũng có dấu ấn riêng trực tiếp và đậm nét trong đời sống hàng ngày trên TTCK; Nhóm thông tin giành cho các nhà đầu tư chứng khoán (nhất là các nhà đầu tư “nghiệp dư”) tham khảo…

Những rủi ro gắn với những vi phạm thông tin trong kinh doanh chứng khoán có thể xuất phát từ các hành vi sau: Thiếu phổ biến thông tin chính xác, cần thiết, đầy đủ, có hệ thống, cập nhật; thông tin bị bóp méo, “làm đẹp”, bị cắt xén, làm “chậm lại”, và thậm chí, bị đánh tráo khi đưa ra công chúng…; thông tin bị sử dụng làm công cụ cạnh tranh (tung tin giả, tin nhiễu), gây thiệt hại cho doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh, khiến nhà kinh doanh chứng khoán lúng túng, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư sai lầm; thông tin “gốc” bị khai thác cho các mục đích thu lợi thông qua các mánh khoé như mua bán nội gián, bán khống, cho vay chứng khoán, lũng đoạn thị trường, thâu tóm và sáp nhập doanh nghiệp…

Những rủi ro từ kinh doanh chứng khoán dưới góc độ thông tin, cũng chính là khuyết tật đồng hành, cố hữu của TTCK, mà các nhà đầu cơ thường triệt để khai thác với các thủ đoạn cả tinh vi và trắng trợn: phao tin, gian lận thông tin, gây căng thẳng hoặc ảo giác lợi nhuận giả tạo làm rối loạn lòng tin, nâng giá, ép giá chứng khoán, mua bán nội gián, mua bán khống…

3- Một số vi phạm hành chính điển hình trên thị trường chứng khoán

Ngoài những vi phạm trong lĩnh vực thông tin nêu trên, trong hoạt động của TTCK đang có xu hướng gia tăng các vi phạm hành chính khác, điển hình là:

Thứ nhất, phát hành chứng khoán “chui” và các vi phạm phát hành chứng khoán khác của công ty đại chúng…

Kiểu phát hành chứng khoán “chui” này thường phổ biến ở dạng các công ty cổ phần (công ty đại chúng) thực hiện chào bán thêm cổ phần ra công chúng mà không xin phép Ủy ban Chứng khóan nhà nước; không thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, thậm chí, không có cả phương án phát hành chứng khoán theo pháp luật quy định. Có công ty đã được cấp phép nhưng vẫn không thực hiện bán cổ phiếu ra công chúng theo thời gian qui định. Có công ty chào bán chứng khoán riêng lẻ, hoặc bán theo đối tượng lựa chọn, không tuân theo quy định pháp luật. Cá biệt, một số công ty chưa triển khai hoạt động, thậm chí chưa có trụ sở đã tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng, thậm chí “lách” luật, biến tướng các chứng khoán này dưới tên gọi “tù mù”, “gần nghĩa” như “quyền mua cổ phiếu”, hoặc “phiếu ưu tiên mua cổ phần”…Thậm chí, có công ty phạm nhiều lỗi cùng lúc.

Năm 2007 những vi phạm này khá nhiều và có chiều hướng gia tăng của các công ty niêm yết. Theo con số thống kê chưa đầy đủ, trong năm 2007 có khoảng 30 công ty vi phạm lỗi này trên tổng số 80 công ty vi phạm bị xử lý hành chính phạt tiền. Riêng 6 tháng đầu năm 2008 những vi phạm loại này là 44 vụ, chiếm 81,5% tổng số vụ vi phạm bị phạt tiền. Điều đáng nói ở đây là, các dạng và mức độ vi phạm rất khác nhau, còn mức phạt theo quy định lại rất nhẹ và mức chênh lệch không đáng kể, nên nhiều công ty “vui vẻ” chấp nhận mức phạt để tiếp tục vi phạm.

Chính sự bất cập trong xử phạt này đã dẫn tới tình trạng bùng nổ và lạm dụng huy động vốn bất hợp pháp trên TTCK thông qua phát hành cổ phiếu tăng vốn Điều lệ, vi phạm các quy định pháp luật, kế hoạch và hiệu quả sử dụng nguồn vốn huy động để đảm bảo lợi ích lâu dài cho cổ đông, giữ gìn thương hiệu công ty. Đây cũng là một nguyên nhân rất quan trọng góp kéo giá cổ phiếu các công ty đã niêm yết trên hai sàn sụt giá trong thời gian qua. Điều này cũng dẫn đến nghịch lý cay đắng cho các nhà đầu tư chứng khoán là, họ dường như bị các công ty phát hành cổ phiếu bỏ rơi, lợi dụng và rũ bỏ trách nhiệm, để mặc quyền lợi của nhà đầu tư lên xuống theo trào lưu đầu cơ thị trường, các công ty vẫn ung dung bởi sự lên xuống giá cả các cổ phiếu của công ty trên TTCK lúc này không có nhiều ý nghĩa đối với họ nữa…

Thứ hai, vi phạm các quy định về hoạt động kinh doanh chứng khoán, đăng ký, lưu ký chứng khoán, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán.

Các nhân viên của các công ty chứng khoán khi thực hiện giao dịch chứng khoán thường vô tình hoặc cố ý mắc 1 hoặc cùng lúc các lỗi, như: chèn lệnh, hủy lệnh trong cùng đợt giao dịch, nhập lệnh không đúng quy trình, thậm chí tư vấn kinh doanh chứng khoán cho nhà đầu tư theo “đơn đặt hàng” của tổ chức phát hành, hoặc của các đại gia – nhà đầu cơ lớn. Ngoài ra, còn có một số cá nhân và công ty có hành vi thông đồng trong giao dịch tạo cung – cầu giả, câu kết với nhau liên tục mua, bán một loại chứng khoán để thao túng giá…

Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng năm 2007, có khoảng gần 100 vụ vi phạm, trong đó lỗi hủy lệnh trong cùng đợt giao dịch chiếm khoảng 60% số vụ vi phạm. Đặc biệt, theo thống kê, riêng tháng 10-2007, Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt khoảng 55 trường hợp vi phạm của các công ty chứng khoán, chiếm khoảng 50% số vụ vi phạm trong cả năm 2007. Trong đó, chỉ riêng 2 ngày là 12 và 8-10-2007, Giao dịch Chứng khoán đã ký quyết định xử phạt tới 34 trường hợp vi phạm (chiếm 62% toàn bộ vi phạm của tháng 10-2007). Trong 34 trường hợp này, riêng trong ngày 12-10 có tới 12 trường hợp giao dịch viên ở 10 công ty chứng khóan khác nhau vi phạm lỗi nhập lệnh ATO để giao dịch cổ phiếu mới niêm yết trên sàn, so với tổng số khoảng 18 vụ vi phạm lỗi này trong cả năm 2007 (chiếm 66%). Lỗi hủy lệnh trong cùng đợt khớp lệnh cũng chiếm tỷ trọng lớn trong cả hai ngày (7 vụ); còn lại là lỗi nhập lệnh không đúng quy trình. Đặc biệt, không phải ngẫu nhiên mà những vi phạm đó hoàn toàn trùng khớp với giai đoạn “bùng nổ” sốt nóng trên TTCK với đỉnh cao của VN Index tăng lên là 1.104 điểm vào ngày 12-10-2007.

Tuy nhiên, tất cả đều chịu một hình thức xử lý chung: nhẹ là cảnh cáo (chiếm tới hơn 80% số vụ vi phạm), nặng là đình chỉ giao dịch từ 1 đến 3 tháng. Tổng cộng số tiền phạt nộp vào ngân sách nhà nước năm 2007 là 2,085 tỉ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2008, Thanh tra của Ủy ban Chứng khóan Nhà nước đã ban hành 54 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán tổng cộng là 1,615 tỉ đồng.

Thực tế cho thấy, lạm dụng nghiệp vụ tự doanh và kẽ hở luật pháp, cũng như do thiếu đạo đức nghề nghiệp và chất lượng cán bộ còn nhiều bất cập, khiến một số công ty chứng khóan đã lợi dụng vị thế của mình “tự tung, tự tác”, đặt lệnh trước, hủy lệnh trong cùng đợt khớp lệnh, nhập lệnh ATO với cổ phiếu mới niêm yết… nhằm làm giàu bất chính trên lưng các cổ đông nhỏ lẻ khác. Đây là thực tế đáng báo động vì sự gia tăng cả về lượng, lẫn quy mô tác hại của chúng đến sự minh bạch và lành mạnh trong hoạt động của TTCK Việt Nam.

4- Để góp phần bảo đảm sự minh bạch và lành mạnh của TTCK

Để phòng tránh và giảm thiểu những vi phạm trên, cần tuân thủ các quy định của Nhà nước về hoạt động của TTCK, nhất là những điều cấm trong Luật Kinh doanh chứng khoán. Đặc biệt, cần coi trọng những giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, môi trường pháp lý và cả những định chế cần thiết cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Đặc biệt, cần có những quy định rõ ràng, thống nhất, phù hợp thông lệ quốc tế về chế độ kế toán, kiểm toán và thông tin phục vụ hoạt động của TTCK đối với các công ty có niêm yết cổ phiếu trên TTCK. Phát triển rộng rãi cơ chế và mạng lưới thông tin chuyên đề, chuyên ngành, và thông tin đại chúng về chứng khoán và TTCK. Việt Nam cần bám sát các chuẩn mực kế toán quốc tế do Tổ chức quốc tế các uỷ ban chứng khoán (IOSCO) đã thông qua để “chuẩn hoá và quốc tế hoá” các quy định kế toán cần thiết, tạo thuận lợi cho sự hội nhập của TTCK Việt Nam vào môi trường chung của kinh doanh chứng khoán quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp Việt Nam tại các TTCK nước ngoài.

Thứ hai, cần coi trọng công tác thẩm định chất lượng thông tin từ cơ sở. Bên cạnh các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm phi chính phủ, Nhà nước cần có những quy định và đơn vị của mình có chức năng chuyên về công tác thông tin, đảm bảo cung cấp đầy đủ, rộng rãi, cập nhật, chính xác và minh bạch các thông tin cần thiết phục vụ hoạt động TTCK. Cần phân công trách nhiệm rõ ràng nhằm tránh những chồng chéo về hoạt động của các tổ chức tự quản và cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin chứng khoán.

Thứ ba, tăng cường giáo dục nhận thức và năng lực xử lý thông tin thị trường và khả năng tự bảo vệ mình cho các nhà đầu tư chứng khoán, giúp họ hiểu đúng đắn chất lượng hàng hoá (tức chứng khoán) có trong tay họ, cũng như về đặc điểm của kinh doanh trên TTCK, từ đó tự định hướng, điều chỉnh và giảm thiểu thiệt hại, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán từ những dại dột của chính mình. Đồng thời, tổ chức đào tạo dưới các hình thức thích hợp nhằm không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ về TTCK cho đội ngũ cán bộ quản lý và phục vụ kinh doanh chứng khoán.

Thứ tư, có cơ chế chế tài nghiêm khắc, kịp thời, hiệu quả đối với các sai phạm trong việc bảo đảm chất lượng thông tin và cung cấp các dịch vụ phục vụ kinh doanh chứng khoán. Cần tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát của các ban thanh tra liên ngành (Ủy ban chứng khoán, công an, cơ quan thuế…) đối với việc phát hành cổ phiếu “chui”, huy động vốn một cách tùy tiện, sử dụng vốn thiếu trách nhiệm, kém hiệu quả, thậm chí “ôm” vốn đi đầu tư bất hợp pháp gây thua lỗ cho doanh nghiệp. Tăng cường kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật về chứng khoán – kinh doanh chứng khoán, áp dụng linh hoạt các biện pháp cấp, đình chỉ và thu hồi các loại giấy phép trong lĩnh vực chứng khoán và kinh doanh chứng khoán đối với các đơn vị và cá nhân vi phạm các quy định về phổ biến và bảo đảm chất lượng, an toàn thông tin chứng khoán. Đặc biệt, cần tăng cường mức xử phạt (tịch thu toàn bộ khoản lợi bất chính, và phạt thêm gấp nhiều lần khoản lợi đó, cấm hành nghề vĩnh viễn, thậm chí đưa một số hành vi vi phạm nguy hiểm vào Bộ Luật hình sự để xử lý như những loại tội phạm mới) và thông tin rộng rãi về các đối tượng và hành vi vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm giữ nghiêm kỷ cương trên TTCK.

Thứ năm, không ngừng rút kinh nghiệm các hoạt động nghiệp vụ mà trên thực tế còn hết sức mới mẻ đối với cả người mua, người bán, và người trung gian, cũng như các cơ quan quản lý chứng khoán. Kết hợp học tập kinh nghiệm nước ngoài để ngày càng hoàn thiện môi trường kinh doanh chứng khoán Việt Nam, tìm ra, sử dụng hiệu quả các “thanh hãm” an toàn cho sự vận hành của TTCK Việt Nam.

Ngoài ra, cần nâng cao các tiêu chuẩn thành lập và kiểm tra chất lượng hoạt động của các công ty chứng khóan, đề cao các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, chất lượng dịch vụ và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh, thực hiện triệt để việc tách tài khoản tiền chứng khoán của các nhà đầu tư sang ngân hàng, hạn chế sự lợi dụng tài khoản của nhà đầu tư của một số nhân viên công ty chứng khoán để trục lợi…

TTCK nước ta còn quá nhỏ bé và dễ bị tổn thương, vì thế, tăng cường chất lượng công tác thông tin và giám sát, xử phạt các vi phạm hành chính, củng cố lòng tin cho nhà đầu tư, là việc làm thiết thực và cấp bách để củng cố sự phát triển lành mạnh và vững chắc của TTCK nói riêng, nền kinh tế thị trường Việt Nam nói chung./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 20 (164) NĂM 2008

Advertisements

One Response

  1. Bạn xem lại ở mục:
    1-kinh doanh chứng khoán và vai trò của thông tin.
    Có đoạn nhận định như sau: Sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) là đặc trưng và thước đo sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là công cụ đắc lực để huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội của một nước, một khu vực, thậm chí toàn cầu.
    Nhưng theo tôi TTCK không phải là thước đo cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ví dụ: khi giá CP của một công ty A nào đó , bị giảm giá qua giao dịch trên sàn,xuống dưới giá trị thực của CP của công ty A đó nhưng Cty vẫn đang phát triển tốt ,(nhất là trong giai đoạn này),vậy làm sao gọi TTCK là thước đo cho sự phát triền của nền KT được.
    TTCK chỉ phản ánh bộ mặt của nên kinh tế.
    Hiện nay nó không phải là công cụ đắc lưc để huy động vốn dài hạn (thực tế hiện nay tỷ lệ có đươc vốn dài han còn quá thấp trong kênh CK) Muốn TTCK là công cụ đắc lực… thi luật CKVN phải hoàn thiện hơn nữa.

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: