CẢI CÁCH CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

ZHOU FANGSHENG [1] –  WANG XIAOLU [2]

Cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở Trung Quốc là một bộ phận chủ yếu của cải cách kinh tế đã tiến hành được 24 năm, kể từ năm 1978. DNNN được chuyển đổi từ tư cách là các cơ quan giúp việc của Chính phủ theo cơ chế kế hoạch hoá tập chung sang các doanh nghiệp hoạt động độc lập theo cơ chế thị trường.

Đây là một quá trình khó khăn, phức tạp qua nhiều thăm dò và thử nghiệm từ những bài học và kinh nghiệm thu lượm được. Không có một mô hình sẵn có nào có thể áp đặt cho những quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam, những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Chúng ta phải tìm con đường cải cách riêng cho chính mình dựa trên điều kiện thực tiễn của mình. Tuy nhiên, do hai nước có nhiều đặc điểm rất chung và những khó khăn tương tự nhau nên có nhiều chủ đề chung có thể cùng thảo luận và nhiều thông tin có thể trao đổi với nhau.

1. Tóm lược lịch sử cải cách DNNN ở Trung Quốc

Cải cách DNNN ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978, được chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn đầu tiên của cải cách là nỗ lực nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp về cơ bản vẫn dựa trên khung thể chế của cơ chế kế hoạch hoá tập chung. Mục tiêu chính của cải cách trong giai đoạn này là nhằm điều chỉnh mối quan hệ Chính phủ doanh nghiệp theo hướng quản lí doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh tự do hơn và nhằm lại động lực cho các nhà quản lí và người lãnh đạo trong doanh nghiệp. Tháng 10 năm 1978, có 6 DNNN đầu tiên ở Tứ xuyên, trong đó có Công ty Gang thép Trùng khánh được chọn để thực hiện thí điểm cải cách. Ngay sau khi có việc thí điểm này, chính quyền và Thành uỷ tỉnh Tứ Xuyên đã đưa ra 14 biện pháp chính sách nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các DNNN. Các kinh nghiệm của tỉnh Tứ Xuyên về mở rộng quyền tự chủ cho các DNNN được Uỷ ban Kinh tế Nhà nước, Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước khác áp dụng thí điểm đối với 8 DNNN ở Bắc kinh, Thiên tân và Thượng hải vào tháng 5/1979, trong đó có Công ty Gang thép Thủ đô, nhằm tiếp tục thực hiện thí điểm cải cách DNNN. Tháng 7/1979, Hội đồng Nhà nước ban hành “Một số quy định về mở rộng quyền tự chủ trong quản lí ở các DNNN” nhằm mở rộng thí điểm trên phạm vi toàn quốc. Cho đến tháng 6/1980, việc thí điểm mở rộng quyền tự chủ cho các DNNN được áp dụng đối với 6600 DNNN quy mô lớn và vừa, các doanh nghiệp này chiếm 14% tổng “ngân sách” trong các DNNN, 60% tổng giá trị sản lượng công nghiệp và 70% tổng lợi nhuận công nghiệp[3].

Việc mở rộng quyền tự chủ cho các DNNN đã có một số tác động nhằm khuyến khích các DNNN gia tăng sản lượng và lợi nhuận. Tuy nhiên do những hạn chế về ngân sách mềm nên đầu vào cho các doanh nghiệp này cũng tăng rất nhanh, điều này dẫn tới sự thâm hụt ngân sách và lạm phát. Để giải quyết vấn đề này, việc tiếp tục thí điểm cơ chế phân chia lợi nhuận giữa nhà nước và doanh nghiệp (được gọi là hệ thống trách nhiệm kinh tế) đã được thực hiện đối với một số DNNN trong ngành công nghiệp. Tháng 11/1981 Hội đồng nhà nước đã phê chuẩn “Đề xuất một số vấn đề trong việc thực hiện hệ thống trách nhiệm kinh tế”. Đến cuối năm 1981, hầu hết các DNNN công nghiệp đã áp dụng hệ thống này. Việc áp dụng cơ chế này đã đưa đến tác động tức thời cho việc cải thiện tổng thu ngân sách. Và cũng đến cuối năm 1981, tổng thu ngân sách đã vượt quá 2,8% so với kế hoạch đề ra.

Tuy nhiên, cơ chế phân chia lợi nhuận dẫn đến định hướng lợi nhuận cục bộ ngắn hạn ở các DNNN và điều đó dẫn tới sự gia tăng nhanh chóng sự mất kiểm soát về mức lương trong các DNNN và tiếp theo là vấn đề lạm phát. Vào đầu năm 1983 Hội đồng nhà nước quyết định bãi bỏ cơ chế phân chia lợi nhuận và thực hiện cải cách mới nhằm thay đổi toàn bộ cơ chế kiểm soát lợi nhuận cùa các DNNN sang cơ chế thuế định mức. Tháng 4/1983, Hội đồng nhà nước đã thông qua báo cáo của Bộ Tài chính về biện pháp cải cách này. Giai đoạn đầu của cải cách bắt đầu từ 6/1983 cho phép việc cùng tồn tại cả hai cơ chế cũ và mới. Giai đoạn tiếp theo của cải cách bắt đầu từ 10/1984 đã hoàn chỉnh cơ chế thuế định mức mới.

Văn bản ”Các quy định tạm thời về việc mở rộng hơn nữa quyền tự chủ cho các doanh nghiệp nhà nước” do Hội đồng Nhà nước ban hành tháng 5/1984 đã khẳng định việc cho phép các DNNN có quyền tự chủ hơn. Theo văn bản này, quyền tự chủ của các DNNN được thực hiện trong một số lĩnh vực sau: sản xuất và kế hoạch hoá hoạt động của các doanh nghiệp, tiếp thị, định giá, mua các nguyên liệu đầu vào, sử dụng các quỹ, bán tài sản, quyết định cơ cấu quản lí, tuyển dụng và sa thải lao động, sử dụng quỹ lương và vấn đề hợp tác kinh doanh.

Theo cơ chế thuế mới bắt đầu được áp dụng từ năm 1983, Các DNNN phải trả thuế lợi tức cao bằng 55% lợi nhuận chịu thuế. Cơ chế này tốt hơn so với cơ chế cũ, cơ chế bắt buộc các DNNN nộp toàn bộ hoặc thường là một phần rất lớn lợi nhuận của họ. Tuy nhiên, gánh nặng về thuế vẫn rất lớn, và vì vậy, không đủ mang lại động lực cho các doanh nghiệp. Cũng tại thời điểm đó, do gánh nặng về thuế của DNNN lớn hơn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (ví dụ đối với các doanh nghiệp hợp tác xã tỷ lệ thuế lợi tức là 30%) nên dẫn đến điều kiện cạnh tranh không bình đẳng giữa DNNN và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD). Năm 1986, khi chính sách thắt chặt kinh tế vĩ mô được thực hiện thì cả lợi nhuận của các DNNN lẫn tổng thu ngân sách nhà nước đều bị giảm sút nghiêm trọng.

Giai đoạn thứ hai của cải cách DNNN đó là thực hiện Hệ thống trách nhiệm của doanh nghiệp (hay Hệ thống hợp đồng doanh nghiệp) bắt đầu từ năm 1986. Để tăng thêm động lực cho các DNNN, tháng 12/1986 Hội đồng Nhà nước đã ban hành “Một số quy định về việc đưa cải cách doanh nghiệp đi vào chiều sâu và việc tăng thêm sức mạnh của các DNNN” nhằm khuyến khích việc chấp nhận nhiều mức trong hệ thống trách nhiệm của doanh nghiệp (ERS) đối với các DNNN. Cho đến tận cuối năm 1987, hệ thống ERS đã được áp dụng tại 78% số DNNN có 100% vốn ngân sách. Đến tháng 2/1988, Hội đồng Nhà nước ban hành “pháp lệnh tạm thời về việc thực hiện hợp đồng hệ thống trách nhiệm trong các DNNN công nghiệp” tổng kết hệ thống ERS có hai nội dung: nội dung thứ nhất là đưa quyền tự chủ trong hoạt động của các doanh nghiệp có hiệu quả và bảo vệ các quyền hợp pháp của các doanh nghiệp; thứ hai là đặt ra mục tiêu đóng thuế tối thiểu cho các DNNN và đặt ra tỷ lệ cho việc phân chia mục tiêu lợi nhuận giữa nhà nước và doanh nghiệp. Đối với các DNNN không thực hiện đủ mục tiêu lợi nhuận thì phải trang trải các khoản thuế bằng chính các quỹ của mình. Đến cuối năm 1998, trên 90% các DNNN trong ngành thương mại và công nghiệp có 100% vốn nhà nước đã áp dụng hệ thống ERS. Đối với các DNNN có quy mô vừa và lớn, tỷ lệ áp dụng hệ thống này đạt trên 95%.

Hệ thống ERS là bước thay đổi thụt lùi so với hệ thống thuế định mức. Có tình trạng đó là do trên thực tế mức thuế có thể thương lượng được, vì vậy nên không ổn định và rõ ràng. Tuy nhiên trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, khi không có sự thay đổi về cơ cấu sở hữu của các DNNN và ngân sách nhà nước phụ thuộc rất lớn vào thuế lợi tức của các DNNN thì điều đó là không tránh khỏi. Chỉ sau một thời gian ngắn áp dụng hệ thống ERS, xu hướng lợi nhuận của các DNNN giảm liên tục trong 20 tháng trước đây đã chấm dứt, cả lợi nhuận lẫn ngân sách nhà nước đều tăng. Tuy nhiên cùng với quá trình thị trường hoá và phát triển nhanh chóng của khu vực ngoài quốc doanh thì những hạn chế của hệ thống ERS ngày càng thể hiện rõ hơn:

Thứ nhất, các DNNN vẫn còn phụ thuộc vào nhà nước, chưa thực sự là doanh nghiệp độc lập. Thứ hai, điều kiện hợp đồng phụ thuộc vào những thoả thuận giữa từng doanh nghiệp và Chính phủ, điều đó dẫn tới điều kiện không bình đẳng trong cạnh tranh trên thị trường giữa các doanh nghiệp. Thứ ba, thời hạn của hợp đồng thường là 3-5 năm, trong thời gian này tình hình thực tế trong cung cầu thị trường có thể có nhiều thay đổi làm cho mục tiêu ban đầu của hợp đồng trở nên không thể thực hiện được. Vì vậy điều này đã khuyến khích việc thoả thuận lại hợp đồng và tạo ra sự mềm dẻo về vấn đề hạn chế ngân sách. Thứ tư, để thực hiện hợp đồng trong vài năm, các nhà quản lí doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt và bỏ qua đầu tư và phát triển dài hạn và họ có xu hướng khai thác quá mức và làm hư hỏng các trang thiết bị của doanh nghiệp. Cuối cùng là các hợp đồng cố định hạn chế việc hợp nhất, thôn tính và các hình thức khác trong cải cách DNNN.

Trong khi phần lớn các DNNN được áp dụng hệ thống ERE vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90, thì một số thí điểm với doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn cũng được thực hiện ở một số vùng, ví dụ như việc áp dụng cơ chế bán cổ phần và cho thuê hoặc bán các DNNN có quy mô nhỏ.

Giai đoạn thứ ba của Cải cách DNNN bắt đầu vào năm 1992, sau bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi ở các tỉnh phái nam Trung Quốc. Vào tháng 10/1992, Đại hội lần thứ 14 Đảng cộng sản Trung Quốc đã đưa ra mục tiêu mới đối với cải cách kinh tế là nhằm thiết lập cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này chỉ ra thời hạn cuối cùng mà cơ chế mới và cơ chế cũ phải đoạn tuyệt với nhau và việc bắt đầu giai đoạn mới cho việc hình thành cơ chế kinh tế thị trường. Cải cách DNNN đi đến giai đoạn phân cấp quyền kiểm soát hành chính đối với các DNNN và bắt đầu giai đoạn mới trong cải cách sở hữu trong các DNNN quy mô nhỏ và việc thành lập hệ thống doanh nghiệp hiện đại đối với các DNNN quy mô vừa và lớn.

Cải cách sở hữu đối với các DNNN quy mô nhỏ tạo ra một sự cải cách nhanh chóng từ năm 1992. Theo một cuộc điều tra các doanh nghiệp tại 19 tỉnh vào cuối năm 1999, có 75% các DNNN có quy mô nhỏ vừa áp dụng nhiều cơ chế mới bao gồm cả việc bán cho tư nhân. Người ta hy vọng rằng hầu hết các DNNN quy mô nhỏ sẽ được chuyển thành công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân,… trong một vài năm tới. Cùng thời gian đó, những cải cách đối với DNNN quy mô vừa và lớn sẽ bị chậm lại. Trọng tâm vẫn là việc thay đổi cơ chế quản lí và xa hơn nữa là đưa cơ chế tự chủ của DNNN vào thực tiễn.

Tháng 11/1993, Uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc thông qua “Quyết định của Uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốcvề một số vấn đề thiết lập cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” đặt ra mục tiêu nhằm “thiết lập hệ thống doanh nghiệp hiện đại với quyền và trách nhiệm về tài sản được xác định rõ ràng; tách bạch DNNN khỏi quản lí nhà nước với cơ cấu quản lí hiện đại để phù hợp với nền kinh tế thị trường” Tháng 12/1993 “Luật Công ty của nước Cộng hoà nhân dân Trung hoa” được quốc hội thông qua.

Vào tháng 11/1994, 100 DNNN vừa và lớn được lựa chọn để thí điểm thành lập hệ thống doanh nghiệp hiện đại. Những ý tưởng chính của việc thí điểm nhằm: cơ cấu lại quyền tài sản và xác định rõ cơ quan đầu tư cho doanh nghiệp; chuyển đổi các DNNN sang công ty TNHH; đánh giá lại và cung cấp đầy đủ tài sản cho DN; và giảm bớt gánh nặng các khoản nợ không xác định được nguyên nhân trong quá khứ của doanh nghiệp. Thí điểm này kết thúc vào cuối năm 1997 đã đưa lại những kinh nghiệm mới cho quá trình cải cách DNNN. Trong khi đó việc thí điểm chuyển DNNN thành công ty cổ phần cũng được mở rộng một cách nhanh chóng. Những thử nghiệm này cơ bản đã tái xác định quyền tài sản của doanh nghiệp; tách doanh nghiệp ra khỏi cơ quan quản lí nhà nước; hình thành đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, và thiết lập cơ chế quản lí công ty được chuẩn hoá. Cơ chế bán cổ phần nhằm tăng cường cơ chế giám sát của chủ sở hữu. Sự thay đổi về giá cổ phần trên thị trường, việc giám sát của các cổ đông và cơ chế kiểm toán độc lập cùng nhau làm cho những hành vi của doanh nghiệp được hợp lý hoá.

Trong quá trình thí điểm đã phát hiện ra một số vấn đề chung. Ở nhiều doanh nghiệp việc áp dụng cơ chế mới bị tụt lùi; sự vận hành của các cơ chế mới chưa được chuẩn hoá, hoạt động của các doanh nghiệp dưới mức mong muốn, phương thức quản lí hành chính nhà nước thay đổi không đáng kể, vì vậy nó làm chậm lại hoạt động bình thường của các công ty mới. Một số biện pháp cải cách không được thực hiện một cách đồng bộ và những gánh nặng tài chính đối với doanh nghiệp vẫn còn lớn.

Tháng 7/1997, Đại hội Đảng lần thứ 15 đặt ra mục tiêu 3 năm sẽ đưa phần lớn các DNNN quy mô vừa và lớn thoát khỏi tình trạng thua lỗ qua các công cụ cải cách như cơ cấu lại, xây dựng lại và cải thiện quản lí doanh nghiệp và cơ bản hình thành hệ thống doanh nghiệp hiện đại ở hầu hết các DNNN quy mô vừa và lớn. Để đạt được những mục tiêu này, các biện pháp sau đây cần được tập trung thực hiện. Thứ nhất là hoàn thiện quản lí của các DNNN lớn và giải phóng những DNNN nhỏ, thứ hai, khuyến khích sát nhập các DNNN, chuẩn hoá thủ tục phá sản doanh nghiệp, sa thải lao động dôi thừa trong các DNNN và khuyến khích việc tuyển dụng lại lao động; thứ ba, khuyến khích việc đổi mới công nghệ và phát triển các sản phẩm mới; thứ tư, thiết lập lại quản lí tốt DNNN, và thứ 5 phối hợp tốt hơn các chính sách cải cách doanh nghiệp.

2. Những khó khăn chủ yếu trong cải cách DNNN.

Dựa vào những điều kiện trong quá khứ và điều kiện hiện tại, với điều kiện duy trì hướng cải cách hiện tại, chúng tôi có thể tin tưởng vào sự thành công của cải cách các DNNN quy mô nhỏ trong tương lai. Những khó khăn chính xuất hiện trong quá trình cải cách các DNNN quy mô vừa và lớn bao gồm:

(1) Làm thế nào để giải quyết những gánh nặng của các DNNN, phần lớn do cơ chế cũ để lại. Ví dụ các khoản nợ khó đòi lớn, vấn đề lao động dôi dư, những hoạt động dịch vụ nội bộ không cần thiết, và bằng cách nào để cải thiện hoạt động của khu vực ngân hàng và thiết lập hệ thống đảm bảo xã hội mới trong khi nhiều khó cũ vẫn còn tồn tại.

(2) Thiết lập cơ chế quản lí tài sản nhà nước như thế nào? Ai là người đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DNNN là vấn đề trọng tâm trong cải cách DNNN. Trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ không nên đóng vai trò “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Một tình trạng đang tranh luận là Chính phủ với vai trò là chủ sở hữu của DNNN nên được tách bạch khỏi vai trò là Chính phủ, trong khi bất kỳ ai đóng vai trò là chủ sở hữu cũng phải đặt vấn đề lợi ích lên trên hết.

(3) Làm thế nào để giải quyết vấn đề điều chỉnh cơ cấu chiến lược của khu vực nhà nước? Nhà nước tái tập trung vào những ngành sản xuất hàng hoá công cộng với ảnh hưởng ngoại lai lớn, những ngành độc quyền tự nhiên hoặc những ngành liên quan đến an ninh quốc gia và sự rút lui khỏi những ngành mang tính cạnh tranh cao. Trong quá trình này, nhiều khó khăn được tạo ra liên quan đến việc tái điều chỉnh và tạo ra một sự cân bằng tổng thể và những mỗi quan hệ về lợi ích giữa nhiều nhóm người và các tổ chức công cộng trong xã hội. Gần đây, những hành động điều chỉnh được bắt đầu từ những khu vực dễ nhất và sau đó phát triển ra những khu vực khó hơn, từ các DNNN quy mô nhỏ sang các DNNN lớn, từ các DNNN hoạt động có hiệu quả sang các DNNN hoạt động kém, từ các DNNN địa phương đến các DNNN trung ương, từ các nhà quản lí đến người lao động, từ các DNNN 100% vốn nhà nước đến các doanh nghiệp có cổ phần nước ngoài.

(4) Làm thế nào để chuyển DNNN chỉ có một chủ sở hữu thành các công ty cổ phần? Điều này có thể đạt được thông qua việc bán các cổ phẩn, sát nhập, mua, đầu tư lẫn nhau, thuê hoặc khoán doanh nghiệp. Các DNNN không có khả năng tồn tại cần áp dụng hình thức phá sản doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty TNHH, các HTX cổ phẩn, các công ty hợp danh và các doanh nghiệp tư nhân là những hình thức chính được áp dụng. Nhà nước nên dần rút lui khỏi việc quản lí đối với hầu hết các DNNN vừa và nhỏ. Còn đối với các DNNN quy mô lớn, cải cách nên chủ yếu theo cách bán cổ phần cho các nhà quản lí, các công ty nước ngoài, các doanh nghiệp tư nhân, các quỹ khác nhau và các tổ chức khác, một số doanh nghiệp có thể tham gia vào thị trường chứng khoán. Tất cả các doanh nghiệp này phải thiết lập một cấu trúc quản lí công ty với quy trình hoạt động được chuẩn hoá. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để tìm ra được người mua cổ phần, làm thế nào để chuẩn hoá hoạt động của doanh nghiệp mới, làm thế nào để ngăn chặn những tổn thất tài sản nhà nước trong quá trình cơ cấu lại, và làm thế nào để hợp nhất các doanh nghiệp bị giải thể, không có khả năng cạnh tranh, quy mô kinh tế nhỏ thông qua việc cơ cấu lại.

(5) Làm thế nào để thiết lập một cơ cấu quản lí công ty được chuẩn hoá cho các DNNN đã được cơ cấu lại? Đây là một vấn đề khó khăn vì những doanh nghiệp này vẫn đang thiếu một cơ cấu hợp lí có thể hạn chế được những hành vi lợi ích riêng lẻ của từng nhóm lợi ích – có nghĩa là định hướng lợi ích khác nhau của các nhà quản lí, người lao động, các chủ sở hữu phi nhà nước và những người đại diện chủ sở hữu nhà nước- và chuyển thành mục tiêu duy nhất là hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp trong số này vẫn còn mang những đặc trưng giống DNNN cũ. Việc xác định vai trò của tổ chức đảng và tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp cũng là một vấn đề khó khăn.

(6) Những khó khăn trong việc phân chia, sát nhập, mua lại, tái cơ cấu tài sản và sát nhập các DNNH. Vấn đề chính nhằm tránh sự can thiệp của nhà nước và thực hiện các giao dịch thông thường qua thị trường. Các trung gia thị trường như: các kế toán, kiểm toán viên, các luật sư, các ngân hàng đầu tư, các công ty tư vấn và những nhà đầu cơ chứng khoán là những người đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch này, do đó họ phải là những người được phát triển đầu tiên. Một điều quan trọng đối với nhà nước là xác lập các vai trò rõ ràng, công bằng và minh bạch đối với những giao dịch và phải khuyến khích việc tái phân bổ các nguồn lực trong khi ngăn chặn được sự độc quyền hoá trong các ngành thông qua những giao dịch trên thị trường.

(7) Trong cơ chế cũ, nhiều DNNN vẫn cung cấp các dịch vụ như trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, bệnh viện và các cửa hàng, trong khi vẫn có các phòng hỗ trợ nhằm phục vụ cho sản xuất chính của doanh nghiệp, ví dụ bảo dưỡng thiết bị, sửa chữa máy móc, máy phát điện, giao thông, cung cấp các linh kiện, bộ phận sản phẩm,… Những dịch vụ này là một phần nguyên nhân dẫn đến kém hiệu quả của các DNNN. Để tăng hiệu quả của các doanh nghiệp thì phần lớn các dịch vụ này cần được chuyển ra khỏi doanh nghiệp. Một số các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và các phòng hỗ trợ nên độc lập với các doanh nghiệp nhưng nhiều bộ phận khác cần bán hoặc đóng cửa. Điều này sẽ cần đến các sắp xếp lại, sa thải lao động và tái tạo việc làm.

(8) Cải cách Chính phủ là điều kiện cận nhưng là một nhiệm vụ rất khó khăn của cải cách DNNN. Chính phủ cần phải thay đổi chức năng chính của mình, chuyển từ chức năng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, phân bổ các đầu vào và các nguồn quỹ, ban hành các hướng dẫn cho các DNNN sang chức năng quản lí các công việc công cộng. Chính phủ vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ sở hữu hoặc vai trò của cổ đông trong một số DNNN trong khi tránh sự can thiệp không mong muốn đối với quản lí của doanh nghiệp.

(9) Cơ chế tuyển dụng lao động tại các DNNN phải được điều chỉnh lại. Các công việc được đảm bảo lâu dài ở các DNNN trước đây cần thay thế bằng cơ chế hợp đồng lao động, các DNNN cần chấm dứt ngay việc đảm bảo phúc lợi cho người lao động và các nhân viên của mình thay vào đó là việc thiết lập một hệ thống bảo đảm xã hội chung. Trước khi những vấn đề này được thực hiện hoàn chỉnh, những cải cách về cơ cấu lao động sẽ phải đụng chạm đến lợi ích của nhiều người và đó là một vấn đề khó giải quyết. Việc đền bù cho những người lao động bị mất việc vì vậy là cần thiết. Trong khi đó việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cần được coi là một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước.

Để giải quyết những khó khăn trên không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. May thay, sau hơn 20 năm thực hiện cải cách, nền kinh tế Trung quốc đã do những lực lượng thị trường thống trị, khu vực ngoài quốc doanh định hướng thị trường đã lớn mạnh. Điều này tạo nên nền tảng vững chắc cho những cải cách sâu rộng hơn và tạo nhiều khoảng trống hơn để giải quyết những vấn đề này.

3. Thảo luận về một số vấn đề liên quan đến cải cách DNNN

(1) Vai trò của DNNN và doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế Trung quốc

Trước thời kỳ cải cách, khu vực DNNN giữ vai trò chủ đạo trong khu vực phi nông nghiệp của nền kinh tế Trung quốc. Tuy nhiên trong hai thập kỷ qua, khu vực ngoài quốc doanh đã có bước tăng trưởng nhanh chóng trong khi khu vực DNNN lại có mức tăng trưởng tương đối chậm trong bối cảnh cải cách kinh tế. Bên cạnh đó, cũng kể từ thập niên 1990, một số DNNN được chuyển thành doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vì vậy tầm quan trọng của khu vực nhà nước đã giảm đi đáng kể. Năm 1980, khu vực DNNN chiếm 76% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, những con số này đã giảm xuống chỉ còn 28% trong năm 1999 (xem Bảng 1). Khu vực DNNN bao gồm các công ty cổ phần và các liên doanh có có cổ phần chi phối của nhà nước (được hiểu như trên, trừ khi có giải thích khác)[4]. Định nghĩa thống kê về tổng giá trị sản xuất công nghiệp đã thay đổi từ năm 2000 và không bao gồm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh quy mô nhỏ có doanh thu hàng năm từ 5 triệu nhân dân tệ (NDT) trở xuống. Tuy nhiên, nếu sử dụng cùng định nghĩa, thì tỷ trọng của khu vực DNNN đã giảm từ 48,9% xuống còn 47,3% trong năm 2000. Hiện nay, không có số liệu thống kê về đóng góp của khu vực DNNN hoặc khu vực ngoài quốc doanh vào tổng sản phẩm trong nước. Tuy nhiên, theo tính toán thì tỷ trọng của khu vực nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước đã giảm đáng kể từ vị trí chi phối (khoảng 60% trong năm 1980) (40% còn lại thuộc về các hợp tác xã nhân dân trong khu vực kinh tế nông thôn và các doanh nghiệp hợp tác ở thành thị) xuống chỉ còn 36% tổng sản phẩm trong nước vào năm 1999 (Wang, sắp xuất bản).

 

Presentation1

Đến nay, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu hoạt động trong những ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, hàng sử dụng hàng ngày, hàng lâu bền, (như vô tuyến, máy vi tính, tủ lạnh, điều hoà không khí) và các sản phẩm điện tử khác, máy móc, vật liệu xây dựng, xây dựng, vận tải đường bộ, bán lẻ, cung cấp thực phẩm, các dịch vụ hàng ngày khác v.v… Đồng thời, các DNNN vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các ngành công nghiệp nặng đòi hỏi nhiều vốn như dầu mỏ, sản xuất điện, luyện kim,k hoá chất. Các DNNN cũng giữ vai trò chủ đạo trong một số ngành dịch vụ như tài chính, bảo hiểm, vận tải đường sắt và hàng không, viễn thông và dịch vụ y tế. Bởi vậy, hoạt động của các DNNN vẫn có tác động quan trọng đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, một số ngành công nghiệp như công nghiệp ô tô, viễn thông, ngân hàng và bảo hiểm đang được mở cửa cho nước ngoài, sẽ có cạnh tranh gay gắt giữa DNNN với các hãng nước ngoài và hàng hoá nhập khẩu.

Trong khi tỷ lệ đóng góp của khu vực DNNN vào tổng sản phẩm trong nước đã giảm đi đáng kể, tỷ trọng của DNNN trong đầu tư (như lao động và đầu tư) tuy đã giảm nhưng vẫn giữ ở mức cao trong thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90. Các DNNN sử dụng đến 76% lao động thành thị vào năm 1980 và vẫn giữ vị trí chủ đạo (59%) cho đến tận năm 1995. Tuy nhiên, tỷ trọng của DNNN trên thị trường lao động đã giảm mạnh trong những năm cuối của thập niên 90, xuống chỉ còn 38% vào năm 2000. Việc giảm tỷ trọng của DNNN trong tổng đầu tư vào tài sản cố định cũng diễn ra chậm. Năm 1985, tỷ lệ này là 66% và giảm xuống 54% vào năm 1995 và 50% vào năm 2000 (xem Bảng 2 và Bảng 3).

 

Presentation2

 

Presentation4

Trong thời kỳ cải cách, các khoản vay của ngân hàng vẫn chủ yếu được dành cho các DNNN. Hay lấy Ngân hành Công thương quốc doanh – ngân hàng thương mại lớn nhất ở Trung quốc làm ví dụ. Vào giữa năm 1999, 79,1% tổng dư nợ cho vay ngắn hạn được giành cho các DNNN, trong khi chỉ có 20,9% là dành cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Trong số này, các doanh nghiệp sở hữu tập thể là đối tượng hưởng lợi chủ yếu. Các cuộc điều tra cho thấy, các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ gặp nhiều khó khăn hơn do hạn chế về nguồn tài chính, trong khi, các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, các công ty cổ phần, doanh nghiệp nước ngoài và trước đây là doanh nghiệp tập thể có thuận lợi hơn trong việc vay vốn ngân hàng (Wang,2000). Do vậy, các khoản vay không sinh lời của các ngân hàng quốc doanh phần lớn được giành cho DNNN đã tồn đọng với số lượng lớn buộc Chính phủ phải xoá phần lớn những khoản vay này vào cuối thập niên 90.

(2) Cải cách DNNN

Những thay đổi về chính sách và tình hình cải cách DNNN đã được tóm tắt tại phần 1. Trong phần này, chúng tôi sẽ tóm lược về quá trình diễn ra cải cách DNNN.

Các biện pháp cải cách trước đây chủ yếu dưới hình thức phân quyền là cần thiết đối với các DNNN trong khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, kinh nghiệm vừa qua cho thấy việc tạo ra một môi trường thị trường cạnh tranh thông qua việc nới lỏng quản lí là không đủ để hồi sinh các DNNN, do đa số các DNNN không có động lực để chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Hơn nữa, Chính phủ với tư cách là người sở hữu các DNNN, lại thất bại trong việc đóng vai trò giám sát, quản lí doanh nghiệp như các chủ doanh nghiệp thường làm. Mặt khác, những cuộc cải cách mới đây đã tỏ ra có hiệu quả hơn nhờ việc đã giảm bớt gánh nặng lao động dôi dư của các DNNN và quan trọng hơn là cho phép thay đổi cơ cấu sở hữu DNNN bằng cách chấp nhận sở hữu tư nhân.

(3) Địa vị pháp lí của DNNN

Trước đây, các DNNN được gọi là doanh nghiệp sở hữu toàn dân hay doanh nghiệp quốc doanh hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước nhưng do các cấp chính quyền khác nhau quản lí (từ trung ương đến tỉnh, thành phố và huyện), với sự tham chiếu của nhiều bộ ngành khác nhau của Chính phủ. (Trước đây có các bộ và cục khác nhau tham gia quản lí DNNN hoạt động trong các ngành khác nhau). Hiện nay DNNN đã được xác định lại bao gồm các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ và các doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát (ở các doanh nghiệp này, nhà nước nắm giữ trên 50% cổ phiếu hoặc ít hơn 50% nhưng vấn nắm giữ nhiều cổ phiếu nhất). Cổ phiếu của nhà nước chia làm hai loại: Cổ phiếu do Chính phủ sở hữu trực tiếp và cổ phiếu của DNNN sở hữu toàn bộ.

Trước đây, quản lí Chính phủ đối với các DNNN được thực hiện thông qua các bộ hay các cục của Chính phủ. Các cơ quan này có nhiệm vụ quản lí các ngành nghề khác nhau ở địa phương và trung ương. Phần lớn các bộ và cục này đã được giải tán và tái cơ cấu lại như một công ty nắm vốn cổ phần hoặc các tập đoàn lớn. Vai trò của các tổ chức này đã thay đổi từ vai trò hành chính chuyển sang vai trò giám sát sở hữu nhà nước.

Đối với các doanh nghiệp nhỏ hơn, các công ty quản lí tài sản nhà nước các cấp được chuyển thành các đại diện của chủ sở hữu là Chính phủ đối với doanh nghiệp.

Với vai trò là chủ sở hữu công đối với các công ty cổ phần, chính phủ cử đại diện để tham gia vào cuộc họp của đại hội đồng và có quyền bầu giám đốc. Hội đồng quản trị bổ nhiệm người quản lí công ty.

Theo quy mô, các DNNN được chia ra thành các loại doanh nghiệp có quy mô rất lớn, lớn, vừa và nhỏ. Các định nghĩa trước đây được áp dụng khác nhau cho các ngành khác nhau theo năng lực sản xuất và giá trị tài sản cố định. Các định nghĩa mới đây được sử dụng cho 4 loại doanh nghiệp dựa trên tổng doanh thu hay tổng tài sản, cụ thể là DNNN có tổng doanh thu hoặc tổng tài sản trên 5 tỷ nhân dân tệ được xếp vào hạng doanh nghiệp rất lớn, từ 500 triệu đến 5 tỷ nhân dân tệ là các doanh nghiệp lớn, từ 50 tới 500 triệu nhân dân tệ là các doanh nghiệp vừa và các doanh nghiệp nhỏ có doanh thu hoặc tổng tài sản dưới 50 triệu nhân dân tệ.

Xét theo hình thức tổ chức, các DNNN được phân thành các doanh nghiệp độc lập và các tập đoàn. Doanh nghiệp độc lập thường có hệ thống quản lí từ trên xuống dưới tức là có trụ sở chính, các nhà máy và các phân xưởng. Bộ máy quản lí bao gồm phòng nhân sự, tài chính, thiết bị, sản xuất, cung ứng và thị trường, công nghệ, nghiên cứu và triển khai. Một tập đoàn bao gồm một công ty mẹ và các công ty con; nhiều tập đoàn còn có các công ty con cấp 3. Một số tập đoàn rất lớn có các văn phòng khu vực và các phòng chuyên trách từng lĩnh vực sản xuất.

(4) Công ty hoá các DNNN chuyển thành các công ty hoàn toàn thuộc vốn nhà nước.

Luật công ty đã được ban hành năm 1993. DNNN phải chuyển dần thành công ty TNHH và công ty cổ phần. Mục đích của việc chuyển đổi này là thành lập một hệ thống DNNN hiện đại hoạt động đượctiêu chuẩn hoá trên thị trường. Sau đó, quy định về việc đăng ký thành lập công ty đã được ban hành. Pháp luật quy định rằng công ty TNHH chuyển đổi từ DNNN phải có từ hai chủ sở hữu trở lên. Sau khi đã tiến hành kiểm kê tài sản, thông qua điều lệ công ty và được cuộc họp của các chủ sở hữu cho phép, doanh nghiệp được đăng ký là công ty TNHH. Trong một vài trường hợp, với giấy phép của hội đồng nhà nước, một doanh nghiệp nhà nước có thể chuyển đổi thành công ty TNHH do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn chẳng hạn như Công ty Dầu mỏ Trung quốc và Công ty Viễn thông Trung quốc.

Cho đến nay, phần lớn các công ty TNHH và công ty cổ phần được chuyển đổi từ DNNN hoặc là công ty nhà nước sở hữu hoàn toàn vốn hoặc là công ty hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước nhưng có nhiều cổ đông, hoặc nhà nước chi phối và có một số lượng cổ phần nhỏ không thuộc sở hữu nhà nước. Những doanh nghiệp này thường có địa vị pháp lý chung như các công ty khác. Tuy nhiên, do không có thay đổi cơ bản về cơ cấu sở hữu, phương thức và cơ cấu quản lí vẫn còn giống với các DNNN.

(5) Tập đoàn

Tập đoàn là một liên hiệp các doanh nghiệp do một số pháp nhân thành lập và có cơ cấu tổ chức bao gồm một công ty mẹ và các công ty con. Tập đoàn được thành lập trên cơ sở một doanh nghiệp lớn làm nòng cốt và kết hợp với một số các doanh nghiệp khác có quan hệ góp vốn và các quan hệ khác chẳng hạn như quan hệ trong quá trình sản xuất, kỹ thuật, hợp đồng v.v…

Một tập đoàn có những đặc điểm sau đây:

· Các doanh nghiệp thành viên được liên kết với nhau trên cơ sở quan hệ góp vốn;

· Tập đoàn được tổ chức theo mô hình công ty mẹ-công ty con;

· Tập đoàn không phải là một pháp nhân duy nhất nhưng được đăng ký trước pháp luật; và

· Tập đoàn có quy mô lớn.

Theo chức năng, tập đoàn có các hình thức sau đây:

a. Tập đoàn hình thành nhằm mục tiêu tăng cường hiệu quả quản lí. Trong trường hợp này, tập đoàn chủ yếu thực hiện chức năng kinh doanh vốn và quản lí về chiến lược mà không trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất. Thay vào đó, các hoạt động sản xuất do các công ty con thực hiện. Ví dụ về mô hình này bao gồm Công ty Dầu khí Trung Quốc hay Công ty Điện lực Trung Quốc v.v…

b. Tập đoàn hình thành trên cơ sở kết hợp các hoạt động kinh doanh đa ngành nghề và quản lí vốn. Bản thân trụ sở chính của các tập đoàn được tổ chức theo hình thức này là một công ty mệ, ví dụ Tập đoàn Gang thép Bảo sơn và Đệ nhất Tập đoàn Ôtô Trung Quốc v.v…

Mục đích chính của việc thành lập các tập đoàn là tranh thủ lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thế của sự chuyên môn hoá với hoạt động kinh doanh đa dạng.

Việc thành lập các tập đoàn chủ yếu được thực hiện bằng ba phương pháp:

a. Chính phủ chủ động ra quyết định thành lập tập đoàn bằng biện pháp mệnh lệnh, hành chính. Theo phương thức này, Chính phủ trở thành một hoặc một số sở hữu chủ yếu hoặc duy nhất.

b. Một số DNNN nòng cốt đầu tư vào các doanh nghiệp khác.

c. Thông qua hoạt động mua bán và sát nhập giữa các doanh nghiệp.

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành hàng loạt chính sách để khuyến khích việc thành lập các tập đoàn. Những chính sách này bao gồm một số biện pháp ưu đãi trong việc huy động vốn, cấp giấy phép xuất-nhập khẩu, cho phép thành lập các công ty tài chính, cho phép đầu tư, phát triển sản phẩm mới và các ưu đãi về thuếv.v..

Các công ty con của tập đoàn bao gồm những công ty do công ty mẹ sở hữu toàn bộ vốn hay sở hữu số cổ phần chi phối, hay những công ty có các quan hệ sản xuất với công ty mẹ và các công ty con khác nhưng không có quan hệ góp vốn lẫn nhau. Các công ty thành viên tập đoàn là các pháp nhân có năng lực pháp luật như nhau. Một tập đoàn phải có hội đồng quản trị.

Nhờ những lợi thế về quy mô, tập đoàn đóng vai trò quan trọng trong một số ngành kinh tế. Tuy nhiên, một số tập đoàn được thành lập bằng các biện pháp hành chính và do đó lại gặp phải những bất lợi vốn có hay sự can thiệp hành chính. Kết quả là những tập đoàn này có kết quả kinh doanh không mấy khả quan.

(6) Chuyển đổi các DNNN thành công ty cổ phần.

Định hướng chủ yếu của cải cách DNNN là xây dựng một cơ cấu sở hữu hỗn hợp, tức là thiết lập sở hữu phi nhà nước đối với các DNNN. Quyền sở hữu phi nhà nước bao gồm việc sở hữu cổ phần của các cán bộ quản lí doanh nghiệp và người lao động, nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức tư nhân bên ngoài. Có hai phương pháp chủ yếu để dẫn đến việc đa dạng hoá sở hữu nhà nước. Đó là bán cổ phần nhà nước và phát hành cổ phiếu mới.

Khó khăn chủ yếu trong việc chuyển đổi các DNNN thành các công ty cổ phần là tìm ra các nhà đầu tư tư nhân. Những DNNN có thể thu hút được các nhà đầu tư bên ngoài phải có kết quả kinh doanh tốt hay triển vọng thu lãi. Tuy nhiên, số lượng các DNNN thuộc loại này không nhiều. Kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệp của Trung quốc trong những năm thực hiện cải cách vừa qua đã cho thấy điểm mấu chốt là phải có sự tham gia năm giữ cổ phần của các cán bộ quản lí doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở để thu hút thêm các nhà đầu tư mới.

Để chuyển các DNNN thành các công ty cổ phần, việc kiểm toán và định giá tài sản là hết sức cần thiết. Những điều kiện để bán cổ phiếu được căn cứ theo hợp đồng và dựa trên giá trị tài sản đã qua thẩm định hay thông qua bán đấu giá hay được xác định trên thị trường chứng khoán.

Để trở thành công ty cổ phần, cần phải có ít nhât 5 cổ đông sáng lập. Số vốn đăng ký tối thiểu là 10-30 triệu NDT đối với tương ứng doanh nghiệp không có vốn nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Để thành lập một công ty cổ phần, cần có sự chấp thuận của một cơ quan của Chính phủ trung ương hay chính quyền tỉnh (bao gồm chính quyền đặc khu tự trị hay chính quyền thành phố trực thuộc trung ương). Chỉ có công ty cổ phần mới được niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Việc bán cổ phần trong các DNNN cho các nhà đầu tư nước ngoài phải phù hợp với các quy định của Chính phủ, cụ thể là “Hướng dẫn về đầu tư nước ngoài” và các chính sách công nghiệp khác. Chẳng hạn, chính sách phát triển công nghiệp ô tô quy định rằng nhà đầu tư nước ngoài không được nắm giữ quá 49% số cổ phần trong một nhà máy lắp ráp ô tô.

Các DNNN đã được chuyển đổi thành công ty cổ phần đã đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn so với các DNNN không được chuyển đổi thành công ty cổ phần. Trong khi đó, một số công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng hoạt động của những công ty cổ phần có cổ phần chi phối của nhà nước nói chung kém hơn so với các công ty cổ phần do khu vực phi nhà nước chi phối.

(7) Cho thuê DNNN.

Hệ thống hợp đồng trước đây (hệ thống trách nhiệm doanh nghiệp) giữa Chính phủ với DNNN được áp dụng từ năm 1985 đến năm 1995. Đó là một giải pháp cải cách tạm thời và còn có nhiều tồn tại. Do đó, giải pháp này đã bị huỷ bỏ từ năm 1995.

Trong thập kỷ 90, một số DNNN vừa và nhỏ đã cho các nhà thầu tư nhân thuê (thường là các nhà quản lí doanh nghiệp trước đây). Trong nhiều trường hợp, giải pháp này đã giúp cải thiện được kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, người ta thường coi việc cho thuê là bước đầu tiên để tiến tới bán doanh nghiệp.

(8) Quản lí tài sản nhà nước

Các công ty quản lí vốn nhà nước là những doanh nghiệp được Chính phủ uỷ quyền làm đại diện cho Chính phủ nắm cổ phần của nhà nước tại DNNN hoặc công ty cổ phần. Các cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm về quản lí vốn của nhà nước có trách nhiệm vận hành những công ty này.

Các công ty quản lí vốn của nhà nước tham gia vào việc quản lí vốn, thông thường không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Các công ty này thường có các bộ phận sau: nhân sự, tài sản, tài chính, pháp chế, vận hành và quản lí, vốn nhân lực và văn phòng công ty.

(9) Bài học về cải cách DNNN

Giải pháp cải cách ban đầu, chủ yếu là phân quyền, là cần thiết đối với DNNN trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, kinh nghiệm quá khứ cho thấy, để thiết lập một môi trường thị trường cạnh tranh bằng cách bãi bỏ các quy định là không đủ để phục hồi các DNNN, bởi vì phần lớn các DNNN đang thiếu động lực để đạt được mức cạnh tranh thị trường. Hơn nữa, Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu DNNN, đã thất bại trong việc thực hiện vai trò là người giám sát quản lí doanh nghiệp như các chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân thường làm. Mặt khác, công cuộc cải cách gần đây nhất làm giảm bớt gánh nặng của DNNN về lao động dôi dư và quan trọng hơn cả là những thay đổi cho phép trong cấu trúc sở hữu của DNNN bằng việc chấp nhận sở hữu tư nhân có vẻ hiệu quả hơn. Để thảo luận sâu hơn về việc tại sao lại là như vậy, cần có sự đánh giá về những vấn đề mà các DNNN đã phải đối mặt trong quá khứ.

a. Sự can thiệp của Chính phủ. Có quá nhiều sự giám sát và can thiệp đối với DNNN và đã gây ra hiệu quả thấp. Đây là một vấn đề lớn trong quá khứ, nhưng về cơ bản đã và đang được giải quyết bằng việc bãi bỏ các quy định trong suốt giai đoạn cải cách. Hầu hết những nhà quản lí DNNN hiện nay có đủ quyền tự chủ trong việc gia quyết định và vận hành doanh nghiệp trên thị trường.

b. Động lực khuyến khích, Tiền lương, tiền thưởng cho cả nhà quản lí và người lao động trong DNNN đã được quy định và thường không tương xứng với kết quả làm việc của họ. Việc quyết định mức lương trong DNNN đã trở nên linh hoạt hơn sau khi cải cách mặc dù nhiều nhà quản lí DNNN vẫn được trả lương ở mức thấp hơn so với những nhà quản lí làm việc cho các công ty tư nhân hoặc công ty nước ngoài hoặc được trả cao hơn nhưng vẫn không tương xứng với sự đóng góp của họ vào doanh nghiệp. Các khu vực khác nhau có tình trạng khác nhau. Theo báo cáo của Cơ quan Thống kê Quốc gia Trung Quốc năm 1999, mức lương của Ban giám đốc cao nhất trong DNNN gấp 200 lần mức lương bình quân của người lao động ở Tỉnh Tứ Xuyên, trong khi đó ở Tỉnh Hà nam chỉ gấp 5 lần. Một ví dụ khác, một công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trong năm 1998 đã thu lãi ròng 553 triệu tệ nhưng mức lương hàng năm của Ban giám đốc chỉ là 33.000 tệ. Trong khi đó, một công ty chứng khoán khác, năm 1998 đã phát sinh lỗ là 97 triệu tệ, nhưng mức lương của Ban giám đốc là 430.000 tệ, cao hơn rất nhiều so với mức lương bình quân. Một phân tích tương quan cho thấy các mức lương của giám đốc và Ban giám đốc của 919 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán trong năm 1999 là không tương quan hoặc chỉ tương quan rất ít tới hiệu quả hoạt động của các công ty này (Zhang, 2001).

c. Hình thức phat. Trước đây, công việc được đảm bảo dài hạn cho cả người lao động và nhà quản lí DNNN. Điều này làm cho họ không quan tâm đến hiệu quả công việc và tương lai của doanh nghiệp. Đối với người lao động trong mấy năm gần đây, suy nghĩ này đã thay đổi bởi vì một số lượng lớn người lao động trong DNNN bị cho thôi việc. Tuy nhiên, đối với người quản lí doanh nghiệp, thực tế họ gặp rất ít rủi ro về công việc khi họ quản lí yếu kém và điều này đã ủng hộ thái độ thiếu trách nhiệm của họ. Do thiếu cơ chế phạt nên hiệu quả hoạt động của DNNN phụ thuộc chủ yếu vào tính cách cá nhân của các nhà quản lí doanh nghiệp.

d. Vấn đề giám sát. Cùng với quá trình bãi bỏ các quy định trong giai đoạn cải cách, việc giám sát của sở hữu đối với quản lí DNNN cũng bị buông lỏng nên đã tạo điều kiện cho tình trạng tham nhũng và không làm tròn nhiệm vụ của các nhà quản lí. Một số nguyên nhân còn tiềm ẩn đằng sau. Thứ nhất, còn thiếu chuẩn mực, thủ tục, các quy tắc kiểm toán và giám sát hiệu quả. Thứ hai, như một số tác giả đã chỉ ra, chủ sở hữu là Chính phủ còn thiếu thông tin về quản lí DNNN (Lin và Cai, 1997). Điều này cũng liên quan đến liệu một số DNNN có ngoài tầm kiểm soát có hiệu quả của Chính phủ không?. Thứ ba, không giống như các chủ sở hữu tư nhân, các quan chức Chính phủ chịu trách nhiệm về DNNN không có quyền lợi cá nhân liên quan đến hiệu quả hoạt động của DNNN dưới sự giám sát của họ. Thực tế, liệu họ có quan tâm đến hiệu quả hoạt động của DNNN không phụ thuộc vào tính cách cá nhân của họ. Thứ tư, thái độ tìm kiếm – thuê mướn của các quan chức Chính phủ đang làm giảm khả năng cạnh tranh của DNNN. Có một câu hỏi đặt ra là Chính phủ tự cư xử như thế nào cho phải phép nếu như họ là một chủ sở hữu thiếu trách nhiệm đối với DNNN và hơn nữa điều này còn liên quan đến việc làm thế nào để giám sát được các quan chức Chính phủ.

e. Thái độ đầu tư của Chính phủ. DNNN hoạt động yếu kém phần lớn là do việc Chính phủ đầu tư quá mức vào nhiều lĩnh vực sản xuất. Chính quyền địa phương, từ cấp tỉnh đến thị xã, đều thích đầu tư vào sản xuất và cạnh tranh với nhau mà ít quan tâm đến rủi ro đầu tư. Điều này đã dẫn đến tình trạng dư thừa quá mức khả năng sản xuất. Năm 1995, việc sử dụng năng lực sản xuất của các nhà sản xuất (tức là tổng sản phẩn trên tổng khả năng sản xuất) của quá nửa trong số 900 sản phẩm công nghiệp là dưới mức 60%. Năm 1998, ở Trung Quốc có tổng số 120 nhà sản xuất ô tô, hầu hết là DNNN, với tổng sản lượng hàng năm là 1,6 triệu ô tô. Trong đó, chỉ có một doanh nghiệp đạt được quy mô kinh tế tối thiểu là 150.000 xe ô tô/năm. Cũng trong năm này, ở Trung Quốc có 3.500 lò nấu thép và sắt, cũng hầu hết là DNNN, chỉ 5 trong số đó đạt được mức sản lượng 4 triệu tấn (Liu, 2001). Tình trạng vượt quá công suất và dưới mức quy mô kinh tế cho thấy, so với các nhà đầu tư tư nhân, các nhà đầu tư Chính phủ có vẻ mạo hiểm hơn trong đầu tư và không quan tâm đến rủi ro và hiệu quả[5]. Điều này cũng chỉ ra việc thiếu cơ chế phá sản DNNN và hợp nhất các DNNN dưới sự quản lí của các tỉnh, địa phương và chính quyền thị xã hoặc giữa DNNN và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Những vấn đề được đề cập trên đây có thể tóm tắt thành hai vấn đề chính sau: 1) Nhu cầu thiết lập hệ thống giám sát để đánh giá chính xác hiệu quả quản lí DNNN và cớ chế khuyến khích tạo động lực và cơ chế phạt, và 2) Sự cần thiết phải điều chỉnh hành vi của chủ sở hữu của DNNN. Trong môi trường cạnh tranh, DNNN có thể tái sinh nếu như đáp ứng được các nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên, kinh nghiệm quá khứ cho thấy trong khuôn khổ sở hữu đang tồn tại thì điều này rất ít khi thành công. Trong trường hợp này,nhu cầu thứ ba trở nên cần thiết: để thay thế chủ sở hữu nhà nước duy nhất của DNNN bằng cơ cấu đa sở hữu hỗn hợp hoặc tư nhân hoá hoàn toàn. Nghĩa là chuyển DNNN thành công ty cổ phần, công ty liên doanh, hợp tác xã và công ty tư nhân. Những giải pháp cải cách này có vẻ giúp ích cho việc phá bỏ sự trì trệ của DNNN.

Cũng có rất nhiều khó khăn và tốn kém đối với quá trình tư nhân hoá. Đặc biệt để tư nhân hoá DNNN lớn, một vấn đề chung là không có đủ người mua trong nước, trong khi đó việc giám sát của người nước ngoài trong hầu hết các doanh nghiệp lớn về mặt chính trị là không thể chấp nhận được. Một hệ thống nắm cổ phần bị phân tán do nhiều chủ sở hữu nhỏ nắm giữ có thể giúp vượt qua khó khăn này nhưng có thể lại không giải quyết được vấn đề giám sát. Thực tế, tài sản nhà nước thường được bán cho các nhà quản lí DNNN và những người khác ở mức giá rất thấp, như những món quà không phải trả tiền. Đây có thể là một trong những giải pháp ít nhất cũng giải quyết được vấn đề hiệu quả, mặc dù giải pháp này không thực hiện được vấn đề phấn phối lại tài sản công một cách công bằng nên rất dễ gây ra xung đột xã hội và liên quan đến tham nhũng. Hơn nữa, tư nhân hoá không được áp dụng đối với những DNNN sản xuất sản phẩm công ích hoặc có ảnh hưởng ngoại lai mạnh. Để tránh vấn đề này, một cơ cấu sở hữu hỗn hợp có thể vẫn là lựa chọn tốt nhất trong quá trình cải cách DNNN lớn.

Một khi sở hữu công còn tồn tại, ngay cả khi sở hữu tư nhân có trong cơ cấu sở hữu của DNNN, thì vẫn cần một hệ thống giám sát tốt hơn từ Chính phủ và những đại diện có kỷ cương của Chính phủ đối với sở hữu công. “ Hệ thống uỷ quyền quản lí tài sản nhà nước” đã được vận dụng mấy năm gần đây sẽ hữu hiệu nếu như xác định rõ vai trò của tổ chức được uỷ quyền này và có hệ thống đánh giá rõ ràng minh bạch.

Một vấn đề nữa là hệ thống an ninh xã hội không hoàn hảo. Để có hệ thống việc làm linh hoạt trong DNNN, hệ thống an ninh xã hội là điều kiện đầu tiên để giảm bớt những ảnh hưởng xấu đến người lao động bị mất việc làm để giảm bớt chi phí xã hội của quá trình cải cách. Hệ thống an ninh xã hội nên được hình thành càng sớm càng tốt.

(10) Khả năng cạnh tranh của DNNN và DNNQD.

Giai đoạn từ 1993 đến 1998 có sự giảm liên tục về lợi nhuận của DNNN. Xu hướng này đã thay đổi trong giai đoạn 1998-2000, khi lợi nhuận của DNNN trong ngành công nghiệp tăng từ 53 tỷ tệ lên 241 tỷ tệ tăng gấp 4 lần. Tổng lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh tăng đáng kể, từ 93 tỷ tệ lên 199 tỷ tê[6], mặc dù những cải thiện trong DNNN lớn hơn so với DNNQD (xem Cơ quan Thống kê Quốc gia Trung Quốc, 2001).

Có những nhân tố bên ngoài tác động tới việc cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp giai đoạn 1998-2000 (Wang, 2002)L:

Thứ nhất, lãi xuất đã giảm đáng kể, giúp giảm chi phí của doanh nghiệp (cả DNNN và DNNQD) có vay vốn ngân hàng. Một tính toán cho thấy việc giảm lãi suất từ năm 1998 đến 2000 đã giúp DNNN tăng 52 tỷ tệ lợi nhuận, chiếm 28% tổng số lợi nhuận tăng lên. Cũng trong giai đoạn này, cắt giảm lãi suất giúp DNNQD tăng lợi nhuận 30 tỷ tệ, chiếm 29% tổng lợi nhuận tăng lên của DNNQD.

Thứ hai, sự tăng lên của giá dầu trên thị trường thế giới và trong nước, làm cho ngành dầu khi thu được nhiều lợi nhuận hơn. Lợi nhuận trong ngành chiết khấu dầu (gần như toàn bộ là sở hữu nhà nước) năm 1998 và 2000 tương ứng là 14 và 115 tỷ tệ, tăng 101 tỷ tệ. Dự kiến sơ bộ cho thấy 37 tỷ tệ là do cắt giảm lãi suất. Do vậy, 97 tỷ tệ còn lại cơ bản là do sự thay đổi giá dầu. Cũng trong thời gian này, sự tăng lên về giá dầu cũng làm tăng chi phí sản xuất trong các DNNN và do đó cũng ảnh hưởng không tốt đến lợi nhuận của DNNN trừ những công ty dầu. Những ảnh hưởng này tính được là 18 tỷ tệ. Do vậy, việc tăng giá dầu thực tế làm tăng lợi nhuận của DNNN lên 79 tỷ tệ, chiếm 42% tổng lợi nhuận tăng thêm của DNNN công nghiệp.

Thứ ba, trong giai đoạn 1998-2000, 148,7 tỷ tệ nợ khó đòi trong DNNN đã được khoanh nợ (theo Li, 2001). 30 tỷ tệ được dự kiến chuyển cho cơ quan nắm giữ cổ phần thuộc 4 cơ quan nhà nước. Điều này cũng làm giảm chi phí thanh toán lãi suất của DNNN là 10 tỷ tệ, chiếm 5,4% tổng lợi nhuận tăng của DNNN.

Như vậy, 75% lợi nhuận tăng lên của DNNN có thể là do sự thay đổi của cácnhân tố bên ngoài. 25% còn lại, hay 47 tỷ tệ, là do các nhân tố bên trong DNNN tạo lên. Kết quả tổng lợi nhuận tăng lên thực tế là 89%, từ 53 tỷ tệ năm 1998 lên 99 tỷ năm 2000. Cũng trong giai đoạn này, lợi nhuận thực tế của DNNQD tăng lên 117%, từ 93 tỷ lên 203 tỷ (sau khi khấu trừ những tác động tích cực và tiêu cực của các nhân tố bên ngoài như mức lãi suất thấp hơn và giá dầu cao hơn). Nếu chúng ta sử dụng lợi nhuận sau khi khấu trừ những nhân tố ảnh hưởng bên ngoài để tính tỷ xuất sinh lợi của tài sản trong năm 2000 thì tỷ xuất sinh lợi của tài sản DNNN tăng từ 0,7% lên 1,3% trong giai đoạn 1998-2000 và từ 2,8% lên 4,8% đối với các DNNQD. Những kết quả này được minh hoạ trong Bảng 4.

Những tính toán trên đây cho thấy đã có sự cải thiện trong thành quả của DNNN, hàm ý rằng cải cách DNNN từ năm 1998 đến nay đã có hiệu quả mặc dù hiệu quả chưa được như mong muốn. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của DNNN vẫn thấp hơn so với DNNQD. Hình 1 cho thấy, trong năm 2000, những nhóm ngành công nghiệp có tỷ lệ DNNN cao hơn nhìn chung có tỷ suất sinh lợi của tài sản thấp hơn.

 

Presentation5

Tóm lại, cải cách cơ cấu sở hữu trong DNNN đã thu được kết quả ban đầu và cho thấy đây là hướng đúng mặc dù không có giải pháp đơn giản cho cải cách DNNN mà cũng không có giải pháp “liệu sốc mạnh” nào có thể giải quyết vấn đề qua một đêm. Áp dụng câu “Để vượt qua sông phải dò đá” mà tiếp thu kinh nghiệm cải cách trong quá khứ của Trung quốc với việc xem xét cận thận tất cả những ảnh hưởng kinh tế và xã hội, đó vẫn là chiến lược tốt nhất cho cải cách DNNN trong tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Gao, S. Q and Q. X. Yang,2001, Cải cách DNNN ở Trung Quốc, NXB Nhân dân Tế Nam.

2. Li, R. R. (Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Thương mại Nhà nước), 2001, “Hoàn thiện toàn diện công tác kinh tế và thương mại”, Báo Kinh tế và Thương mại Trung Quốc, Số 1, trang 5, Bắc Kinh.

3. Lin, Y. F and F. Cai, 1997, Thông tin đầy đủ và Cải cách DNNN, NXB Sơn Liên, Thượng hải.

4. Liu, Z. L (Nguyên Bộ Trưởng Bộ Tài chính), 2001, “Tầm quan trọng và sự cấp thiết thực hiện chiến lược cơ cấu lại DNNN”, Số 2, Trang5-7, Thế giới quản lí, Bắc Kinh.

5. Wang, X. L., 2000, “Chương 1, Bản chất của sự tăng trưởng kinh tế và sự thay đổi thể chế của Trung Quốc”. Trong Wang and Fan (Chủ biên), trang3-68, Bản chất của sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, NXB Kinh tế và Khoa học, Bắc Kinh.

6. Wang, X. L., 2002, “Cải cách DNNN ở Trung Quốc: liệu có hiệu quả không?” trong Garnaut and Song (Chủ biên): Trung Quốc 2002: Gia nhập WTO và Khủng hoảng Thế giới, NXB Châu Á Thái Bình Dương thuộc Trường Đại học Quốc gia Úc, 2002, Canberra.

7. Wang, X. L., sắp xuất bản, “Sự đóng góp của khu vực ngoài quốc doanh vào phát triển kinh tế Trung quốc” trong Garnaut và Song (Chủ biên), Chuyển đổi kinh tế lần thứ ba của Trung Quốc: Sự nổi lên của Kinh tế Tư nhân, Routledge, London.

8. Zhang, M. Q., 2001, “Điều gì thiếu sót trong hệ thống lương?”, Số 3, Trang 50-51, Cải cách Trung Quốc, Bắc Kinh.


[1] Chuyên viên cao cấp, Viện nghiên cứu khoa học tài chính, Bộ Tài chính Trung Quốc

[2] Phó Viện trưởng, Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia, Quỹ cải cách Trung Quốc

[3] Thông tin không chỉ rõ nguồn được sử dụng trong phần 1 là từ Gao Shangquan và Yang Quixian (2001)

[4] Tuy nhiên, con số này có thể thấp hơn trên thực tế do tổng giá trị công nghiệp của khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt các đơn vị kinh tế tập thể ở nông thôn và các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ được thổi phồng trong những năm 1990.

[5]Mờy năm gần đây, Chính phủ đã giảm tương đối việc đầu tư vào các ngành công nghiệp và chuyển sang đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng. Đây là dấu hiệu tốt để giảm những vấn đề nêu trên.

[6] Con số này không tính đến DNNQD nhỏ với doanh thu nhỏ hơn hoặc bằng 5 triệu tệ

SOURCE: CAICACHHANHCHINH.GOV.VN

Trích dẫn từ:

http://www.caicachhanhchinh.gov.vn/Vietnam/InterExperience/ReformCountries

/234200409301110000/attachments/109_BC_CCDNNN_TQ.doc

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: