Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NÂNG TẦM DOANH NHÂN – TRÍ THỨC TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. LÊ THANH BÌNH – Học viện Ngoại giao

1. Những khái niệm liên quan từ góc nhìn văn hóa – truyền thông

Văn hóa doanh nghiệp hiểu theo nghĩa chung nhất, là tổng thể các hoạt động, các biểu hiện dưới dạng sáng tạo vật chất, tinh thần; còn hiểu theo nghĩa tương đối cụ thể là những truyền thống trong các cấu trúc, bí quyết kinh doanh, triết lý – đạo đức kinh doanh, tầm trí thức nhân văn, nhân cách doanh nhân – trí thức chân chính… tạo lập nên một thương hiệu với những quy tắc ứng xử riêng đối với nội bộ và môi trường bên ngoài, gắn kết được các thành viên trong tổ chức doanh nghiệp nhằm kinh doanh hiệu quả, phát triển chính các doanh nghiệp đó, góp phần làm cho cộng đồng và xã hội trở nên văn minh, phát triển bền vững.

Học giả Lê Quý Đôn đã tổng kết: “Phi trí bất hưng, phi thương bất hoạt”. Đại thể điều đó có nghĩa là không có trí thức, đất nước không hưng thịnh được; không có kinh doanh – hoạt động thương mại, xã hội ngưng trệ không hoạt động được. Doanh nhân là người làm doanh nghiệp, coi kinh doanh (sản xuất và các dịch vụ thương mại) là nghiệp của mình. Doanh nhân khác với nhà buôn, “con buôn” bởi hoạt động của họ chỉ thuần túy vì lợi nhuận, nhiều khi là sự buôn bán “chụp giật”, vì lợi ích bản thân là chính. Còn doanh nhân là phải làm sao xây dựng, duy trì, phát triển thương hiệu của mình, có tên tuổi, phấn đấu có chỗ đứng lâu dài trong quốc gia và quốc tế; làm giàu chân chính; kết hợp hài hòa các mục đích kinh tế, xã hội, nhân văn. Muốn thế, doanh nhân lớn phải có chiều kích của trí thức lớn mới có thể kinh doanh bài bản, có tầm, đủ sức cạnh tranh lành mạnh với doanh nghiệp trên thương trường quốc gia và quốc tế trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.

Còn trí thức là người có học vấn, có văn hóa, có nhân cách phát triển; chủ yếu lao động trí óc (sáng tạo, tự do, tư tưởng, hướng thiện…); hướng theo các tư tưởng tiến bộ để tìm tòi, suy nghĩ, phản biện, tìm giải pháp, phát minh… nhằm bảo vệ niềm tin, chính kiến vì lợi ích xã hội, cộng đồng (quốc gia, dân tộc, nhân loại). Họ là những người dũng cảm, trung thực, khiêm tốn, kiên định trong thiên chức, sứ mệnh của mình, không ngại các áp lực; phấn đấu vì niềm tin ở chân lý, hạnh phúc con người, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên.

Rõ ràng, doanh nhân muốn thành danh, thành đạt thì phải có trí thức, nhất là ở thời đại kinh tế tri thức ngày nay. Ngược lại, người trí thức muốn đưa được tri thức của mình vào đời sống thực tiễn; muốn hiểu rõ và đúng nhu cầu đời sống; muốn cảnh báo sự lệch pha giữa con người với thiên nhiên, môi trường, cần phải hiểu văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân, để từ đó doanh nhân có thể hợp đồng, tài trợ trí thức. Như vậy, giữa trí thức và doanh nhân cần một mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, nâng cánh cho nhau để giúp nhau đạt được mục tiêu chính đáng của mình và có vị thế nhất định trong xã hội.

Bên cạnh đó, lĩnh vực truyền thông đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng, thâm nhập vào các ngóc ngách đời sống, đem lại nhiều lợi ích cho con người. Vì thế, khi cả doanh nhân và trí thức đều gắn với xã hội thông tin thì đòi hỏi họ phải có khả năng chuyên sâu (kể cả tri thức về quản lý, kinh doanh, công nghệ thông tin, quan hệ công chúng, quảng cáo báo chí..); có tính trách nhiệm, lương tri cao hơn nữa.

Trên thế giới, người ta không chỉ quan tâm sử dụng những doanh nhân có học vấn, tri thức cao mà hơn thế, nhiều doanh nghiệp đã thiết kế chức danh Giám đốc quản trị tri thức (Chief Knowledge Officer – CKO). Bởi tài sản trí thức trong một doanh nghiệp chính là huyết mạch của doanh nghiệp đó. Nói cách khác, nằm giữa tất cả yếu tố quản trị doanh nghiệp là sợi chỉ đỏ trí thức (gồm việc cải tiến, sáng tạo, chia sẻ và ứng dụng tri thức) xuyên suốt quá trình kinh doanh, mở mang doanh nghiệp và cũng được coi là một thành tố mới của văn hóa doanh nghiệp.

Tri thức, kiến thức mới mẻ là nguồn nguyên liệu đầu vào đặc biệt cho những phát minh, sáng kiến, ý tưởng mới của doanh nghiệp. Trong quản trị tri thức, có 3 đặc trưng chính dẫn đến sự thành công của doanh nghiệp là: khoa học công nghệ được khai thác, ứng dụng và chia sẻ ở mức độ nào; tổ chức xúc tiến quy trình quản lý tri thức như thế nào cho hiệu quả nhất; tạo dựng mối tương tác giữa con người với thiên nhiên, môi trường sống như thế nào cho phù hợp.

Ở Việt Nam, nhiều người hiểu “tri thức là chìa khóa để mở cửa đi vào con đường hiện đại hóa doanh nghiệp”. Nhưng theo số liệu điều tra của các tổ chức chuyên môn, số chủ doanh nghiệp có trình độ sau đại học ở nước ta chỉ mới chiếm khoảng 4% trong tổng số những người đứng đầu doanh nghiệp; số chủ doanh nghiệp có trình độ cao đẳng trở lên đã qua đào tạo về quản trị kinh doanh, am hiểu kiến thức kinh tế – thương mại chỉ xấp xỉ 30%; số chủ doanh nghiệp tư nhân chưa tốt nghiệp cấp 3 có đến hơn 74%, còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn tỷ lệ này là khoảng 38-39%… Đây là thực trạng rất đáng lo ngại trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay.

Tại Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) từ ngày 9 đến ngày 17-7-2008, Đảng ta đã thông qua các nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trí thức, thanh niên. Qua đó, có thể thấy, mối quan hệ giữa doanh nhân và trí thức, giữa văn hóa doanh nghiệp và văn hóa dân tộc đã trở thành những vấn đề lớn, rất cần được nghiên cứu, phân tích, làm rõ và có những giải pháp khả thi thích ứng với những lĩnh vực, hoạt động cụ thể.

2. Làm cách nào đề nâng cao tầm doanh nhân – trí thức trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay?

Hiện nay, nước ta đã là thành viên của WTO, nhưng hệ thống tổ chức quản lý kinh tế còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm về nhiều mặt như trong ký kết hợp đồng với đối tác, vẫn có những sơ hở, phải chịu thiệt thòi; hiểu biết pháp luật kinh doanh quốc tế còn yếu; văn hóa kinh doanh chưa mạnh, chưa đủ tầm cạnh tranh với các đối tác nước ngoài… Điều đó khiến giới doanh nghiệp, do mới tham gia thị trường quốc tế, phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn. Qua đó cũng cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đang cần sự ủng hộ hết mức của Nhà nước cũng như của nhân dân để từng bước vững tiến ra “biển lớn”.

Về phương diện văn hóa kinh doanh cũng như văn hóa doanh nghiệp, sự thành tín luôn là một trong các yếu tố hàng đầu đối với doanh nhân – trí thức, nên các cơ quan chức năng và doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ nghiêm các cam kết đã ký khi gia nhập “sân chơi” WTO.

Về phía Nhà nước, cần định hướng sâu sắc cho mọi ban, ngành và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng một cách hiệu quả nhất để sao cho toàn xã hội cùng có chung nhận thức về vai trò, cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp hiện nay và trong tương lai. Cần nâng tầm trí thức nhân văn, nâng cao bản lĩnh dám làm, dám chịu, dám nhìn thẳng vào vị trí của mình, xem vị trí của mình ở đâu trong đẳng cấp kinh doanh quốc tế để trau dồi học vấn, văn hóa, tri thức kinh doanh, vươn lên nhanh chóng. Nhà nước cũng cần bổ sung, ban hành thêm các văn bản pháp luật để tạo hành lang kinh doanh thông thoáng, hợp lý, hiệu quả cho doanh nghiệp. Trong các văn bản này nên có cả hình thức chế tài hay định hướng về chuẩn mực đạo lý kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, trí thức nhân văn và các điều khoản mang tính phổ quát đối với doanh nghiệp quốc tế hiện nay…

Về phía các doanh nghiệp, cần chủ động và nỗ lực hơn để làm xuất hiện nhiều gương sáng như “Bạch Thái Bưởi”, “Trịnh Văn Bô”, “Nguyễn Sơn Hà”… trong thời đại mới. Các doanh nghiệp phải thấy rằng, thời của mình với những sứ mệnh mới đã tới.

Riêng về văn hóa doanh nghiệp, từng doanh nghiệp cần có chiến lược, lộ trình cụ thể để xây dựng văn hóa cho doanh nghiệp mình – văn hóa đó gắn với văn hóa của dân tộc và quốc tế. Tuy nhiên, cần có ý thức biến văn hóa doanh nghiệp thành một sức mạnh mềm trong cạnh tranh quốc tế. Muốn vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải hiểu lợi thế so sánh trong cạnh tranh của mình ở khâu nào. Chẳng hạn, cần hiểu rằng, trong thời kinh tế tri thức, tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, hay các dịch vụ đi kèm, liên quan đều có thể mang lại lợi nhuận, thậm chí, các lĩnh vực thuộc về truyền thông đại chúng như quảng cáo, phim ảnh, quan hệ công chúng… có tác dụng kích thích việc xuất hiện các nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ vui chơi giải trí đều có thể được doanh nghiệp lựa chọn làm nghề kinh doanh chuyên nghiệp. Mặt khác, cũng cần thấy một thực tế là, trong xu thế cạnh tranh toàn cầu, yếu tố đặc sắc riêng của từng dân tộc, hàm lượng tri thức – văn hóa cao, tinh xảo, mẫu mã hấp dẫn, thân thiện môi trường, rất dễ được thế giới đón nhận, tiêu thụ và khẳng định được thương hiệu nhanh chóng.

Xây dựng văn hóa doanh nghiệp là hoạt động khoa học – nghệ thuật mang tính chuyên nghiệp cao, lâu dài, liên tục và biện chứng. Chúng đòi hỏi tầm trí thức cao, tri thức chuyên nghiệp sâu. Xin được nêu một vài nội dung cần tính đến trong chiến lược xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong thời gian tới:

Một là, trong khi các cơ quan chức năng nhà nước xây dựng thương hiệu quốc gia bằng cách thức của mình thì các doanh nghiệp nước ta phải xây dựng được thương hiệu riêng. Thương hiệu ở đây bao gồm từ tên gọi, triết lý kinh doanh, uy tín doanh nghiệp, bí quyết sản xuất – kinh doanh, văn hóa của cả tổ chức/công ty, v..v. Ví dụ người ta hay nói đến ô tô Nhật Bản, phim ảnh Mỹ, thời trang Pháp, du lịch I-ta-li-a; hàng tiêu dùng giá rẻ Trung Quốc… Việt Nam cũng phải sớm khẳng định thương hiệu của một mặt hàng hay dịch vụ nào đó trên thị trường thế giới.

Hai là, xây dựng, giáo dục, lan truyền và tổ chức gìn giữ, tiếp nối truyền thống văn hóa trong từng doanh nghiệp; xây dựng nề nếp, kỷ luật lao động thời công nghiệp hóa; xây dựng, giáo dục tính tự giác, trách nhiệm vì cộng đồng cao và phát huy tính sáng tạo của mọi thành viên.

Ba là, trong chiến lược kinh doanh, lãnh đạo doanh nghiệp phải luôn chú trọng các mắt xích: kế hoạch, nhân sự/nhân lực lao động, vật tư – các nguồn vật chất, kỹ thuật – phương tiện khoa học – công nghệ, tài chính. Phải xây dựng được quan hệ đúng mức giữa các cấp lãnh đạo doanh nghiệp với nhau và với mọi thành viên để thực hiện trôi chảy các mắt xích của công việc chung đó. Doanh nghiệp lãnh đạo cần rèn luyện để có đủ trí thức, nhân cách; hình thành ở mình một phông văn hóa tiêu biểu để tạo được niềm tin, sự kính trọng cho toàn tập thể.

Bốn là, xây dựng chính sách khả thi, sát thực trong phát hiện, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh người giỏi, có đủ tâm, tài, tầm, tri thức trong doanh nghiệp; có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiệu quả, cập nhật cho các cán bộ ở vị trí khác nhau trong doanh nghiệp.

Năm là, doanh nghiệp biết chú trọng công tác quan hệ công chúng (PR), áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành công nghệ thông tin – truyền thông (Information Communication Technology – ICT) và truyền thông đại chúng trong xây dựng, phát triển văn hóa doanh nghiệp và các hoạt động khác.

Tiêu chí căn bản của văn hóa doanh nghiệp là đem lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội để doanh nghiệp phát triển bền vững, đóng góp xứng đáng cho quốc gia và cộng đồng rộng. Một số ngành, địa phương ở nước ta đã phát động phong trào chống bệnh thành tích giả, tệ giả dối – sĩ diện, lợi ích cục bộ. Đối với văn hóa doanh nghiệp, những thứ đó cũng trở nên nguy hại. Nên chăng, trên bình diện Nhà nước, chúng ta cũng phát động sâu rộng đối với mọi ngành, mọi cấp, mọi người, toàn xã hội, hãy lấy thước đo “hiệu quả” làm tiêu chí đóng góp cho dân, cho nước, thay cho một số hoạt động mang nặng tính hình thức, cách đánh giá giá trị công việc chưa hoàn thiện ở nhiều khâu, nhiều tổ chức, kể cả nhiều tổ chức doanh nghiệp nước ta. Hãy đưa khẩu hiệu “Hiệu quả” vào văn hóa doanh nghiệp nước nhà, giống như sau chiến tranh thứ hai, Nhật Bản lấy khẩu hiệu “Kaizen” (Tiến bộ không ngừng) làm chuẩn mực cho mọi hành động, suy nghĩ của mỗi người.

Cần nghiên cứu các xu hướng phát triển của văn hóa thế giới, các thành tựu trong phát minh, nghiên cứu của các nhà khoa học – các trí thức trên thế giới (đã được ứng dụng và chưa ứng dụng). Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể hiểu thêm sự vận động biện chứng trong xu hướng phát triển của văn hóa nhân loại, sự liên thông của những phát kiến khoa học trong thời đại kinh tế tri thức; thấy được hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng đa dạng (kể cả trong kinh tế, thương mại) và biết cách lợi dụng thời cơ đó trong hoạt động kinh doanh hay xây dựng thương hiệu của mình.

Điểm chính là các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng văn hóa doanh nghiệp của mình, sao cho nó vừa phát huy được bản sắc tốt đẹp trong truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, lại vừa tương thích với dòng chảy chung của văn hóa thế giới. Bởi vì, do tác động của tiến bộ khoa học – công nghệ, sự tham gia mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, thế giới ngày càng “phẳng”, nên bất cứ doanh nghiệp của quốc gia nào cũng không thể “chơi theo luật riêng” (dù được nhà nước mình bảo hộ); hơn nữa, chúng ta đang “buôn bán” trong một “phường lớn” có hơn 150 bạn – đối tác và hàng triệu doanh nghiệp năm châu, trong đó có những doanh nghiệp cự phách với thương hiệu – văn hóa doanh nghiệp nổi tiếng. Thúc đẩy việc nâng cao phẩm chất trí thức trong doanh nhân, nắm vững các dòng chủ đạo của văn hóa thế giới, doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể định hướng ngành nghề kinh doanh phù hợp với các lợi thế của mình và của thương hiệu quốc gia (mà văn hóa doanh nghiệp là một lợi thế quan trọng).

Sự toàn cầu hóa đã phần nào làm cho chúng ta tiến tới một trạng thái có tính “toàn cầu”, ý thức về vị trí địa lý không còn nguyên nghĩa “tĩnh” như trước kia. Chẳng hạn, một doanh nghiệp Việt Nam có thể tương hợp, hợp tác lâu dài với doanh nghiệp khác – ở tận “trời Tây”, nhiều cá nhân hay nhiều nhóm người không cùng không gian địa lý (không ở cùng một quốc gia, không có văn hóa doanh nghiệp nền tảng của một dân tộc – quốc gia), nhưng lại có những lợi ích, mục đích, mối quan tâm, sở thích, trình độ học vấn, kiến thức văn hóa, phẩm chất trí thức… tương đồng, bởi nhờ gặp gỡ trực tiếp hay qua các phương tiện thông tin đại chúng như In-tơ-nét, blog, truyền thông di động, hoặc các phương tiện hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân, công nghệ thông tin – truyền thông….

Thời phong kiến, mọi công dân, kể cả doanh thương luôn cùng chung sống trong một đất nước, khả năng xuất ngoại để làm ăn rất khó, nhất là đối với cư dân có văn hóa “làng xã” như người Việt, vì vậy họ phải gắn bó, đoàn kết hết mực mới có thể chống được thiên tai, địch họa, bảo vệ được tính mạng, tài sản của mình. Ngày nay, nhờ các phương tiện truyền thông kể trên trong đó có nhiều phương tiện liên tục được cải tiến, hoàn thiện, mọi cư dân, mọi doanh nghiệp có thể quan hệ làm ăn, hợp tác, mở rộng thị trường ở bất cứ nơi nào trên thế giới, với bất kỳ đối tác nào. Có điều, họ không nên quên cội nguồn, gốc rễ của mình, vì đó mới là sức mạnh sâu xa, bản sắc văn hóa của chính dân tộc và cũng là một phẩm chất chủ yếu của người doanh nhân – trí thức Việt Nam./.

SOURCE: TẠP CHÍ  CỘNG SẢN SỐ 19 (163) NĂM 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: