DOANH NGHIỆP VIỆT NAM QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH NHƯ THẾ NÀO?

PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

Những biến động ngày càng phức tạp của giá cả nguyên liệu, lãi suất, tỷ giá, đã làm cho  rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngày càng trở nên khó lường. Tuy nhiên, liệu điều đó có dẫn đến việc các công cụ phái sinh dùng để phòng ngừa rủi ro tài chính đang được quan tâm nhiều hơn và sử dụng rộng rãi hơn chăng? Để làm sáng tỏ vấn đề này, một cuộc điều tra khảo sát về thực tiễn ứng dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp VN đã được thực hiện.

1. Phương pháp nghiên cứu điều tra và xử lý số liệu

Mô phỏng theo phương pháp nghiên cứu của trường kinh doanh Wharton trong những năm 1995 và 1998 về việc sử dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tài chính ở Mỹ, chúng tôi đã thiết kế bảng câu hỏi điều tra về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng và mối quan tâm đến sản phẩm phái sinh của các doanh nghiệp VN.

Điểm khác biệt so với hai bảng điều tra của Wharton là đưa vào mẫu nghiên cứu cả những doanh nghiệp tài chính, trong khi điều tra của Wharton là không đưa vào mẫu nghiên cứu các doanh nghiệp tài chính. Điều này xuất phát từ thực tiễn của VN trong thời gian qua là biến động lãi suất, tỷ giá đã tác động rất mạnh mẽ đến hệ thống ngân hàng và buộc hệ thống ngân hàng đứng trước những rủi ro tài chính rất lớn. Mặt khác, do đặc thù của VN khác với Mỹ: Trong khi các ngân hàng của Mỹ hầu hết đều sử dụng sản phẩm phái sinh vì đặc điểm kinh doanh của họ và độ chín muồi của thị trường Mỹ thì các ngân hàng VN có thể vẫn không quan tâm đến sản phẩm này mà vẫn chấp nhận rủi ro nhiều hơn với niềm tin rằng thiệt hại là không dễ xảy ra và có thể chấp nhận được.

Bảng câu hỏi điều tra được thiết kế dựa theo những nội dung đã được hỏi trong bảng câu hỏi điều tra của trường kinh doanh Wharton năm 1995 và đã được rút gọn cũng như điều chỉnh cho phù hợp thực tế VN.

Phương pháp xử lý số liệu được thực hiện theo phương pháp  tính bình quân giá trị số tương ứng của các câu trả lời trong toàn mẫu cho từng hạng mục được hỏi và chia nhóm mẫu nghiên cứu có chủ đích để đánh giá khác biệt về điểm số trung bình. Nói cách khác, mỗi lựa chọn cho mỗi câu hỏi trong bảng câu hỏi tương ứng với một mức độ nhất định, được số hóa theo hệ thống phân loại. Sau đó, tính giá trị bình quân các giá trị số đó cho toàn mẫu điều tra. Phương pháp này đã được sử dụng trong nghiên cứu điều tra về lý thuyết và thực tiễn của việc ứng dụng tài chính doanh nghiệp ở Mỹ (Graham & Harvey, 2001).

2. Một số giá trị thống kê về cuộc điều tra

Một số giá trị thống kê về cuộc điều tra được trình bày trong Bảng 1 dưới đây:

Presentation2

Trong Bảng 1 này, có một điểm trùng hợp là số doanh nghiệp có chức danh CFO (giám đốc tài chính) lại trùng hợp với số doanh nghiệp hoạt động trong ngành tài chính. Tuy nhiên, thực tế chỉ có 5 doanh nghiệp tài chính sử dụng chức danh CFO trong tổ chức của mình, chứ sự trùng hợp này không có nghĩa là tất cả 27 doanh nghiệp tài chính tham gia điều tra đều sử dụng chức danh CFO. Thực tế, trong khối các doanh nghiệp tài chính ngoài quốc doanh, nhất là các ngân hàng, vai trò CFO lại thường nằm trong tay của CEO hay phó giám đốc phụ trách hoạt động tài chính hay chức danh tương tự. Điều này phản ánh vai trò khác biệt của mảng kinh doanh và quản trị vốn ở doanh nghiệp với của ngân hàng.

3. Các kết quả điều tra thực nghiệm

Dựa trên phương pháp xử lý của Graham và Harvey (2001) và những chủ đề được đề ra trong bảng câu hỏi, cần tìm hiểu bốn khía cạnh khác nhau của vấn đề sử dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tài chính ở VN. Đó là các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp, sự hiểu biết, mức độ thường xuyên sử dụng và mối quan tâm của doanh nghiệp đến sản phẩm phái sinh.

3.1. Yếu tố tác động đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp

Hình 1: Các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp

Hình 1 thể hiện kết quả đánh giá của các doanh nghiệp về mức độ nghiêm trọng mà yếu tố rủi ro tác động đến doanh nghiệp, với mức 1 là hoàn toàn không có tác động và mức 5 là rất nghiêm trọng. Kết quả cho thấy lãi suất là yếu tố rủi ro doanh nghiệp quan tâm nhất, sau đó là tỷ giá. Điều này là phù hợp với điều kiện hiện nay của nền kinh tế. Mức độ đánh giá trên 2,8, khá gần 3 của các yếu tố tỷ giá và lãi suất cho thấy lãi suất và tỷ giá hiện là các nhân tố tác động khá lớn đến kết quả kinh doanh. Vai trò của rủi ro tài chính xuất phát từ nguồn nguyên liệu cũng không quá thấp.

Hình 2 Các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp – xét riêng nhóm doanh nghiệp xuất khẩu

Tuy nhiên, nếu loại bỏ các doanh nghiệp không có hoạt động xuất nhập khẩu, thì trong nhóm các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến xuất khẩu, yếu tố rủi ro tài chính xuất phát từ giá cả nguyên liệu lại là yếu tố quan trọng nhất, kế đến là tỷ giá (xem Hình 2). Như vậy, điều này gợi ý chúng ta cần chú ý tiến hành các thị trường giao sau để phục vụ cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

3.2 Mức độ am hiểu và mức độ thường xuyên sử dụng của các doanh nghiệp đối với sản phẩm phái sinh

Dựa vào hình 3, có thể nhận thấy mức am hiểu về sản phẩm kỳ hạn là cao nhất, sau đó đến quyền chọn và giao sau. Hoán đổi là sản phẩm ít quen thuộc với doanh nghiệp nhất.

Hình 3: Mức độ am hiểu của các doanh nghiệp đối với sản phẩm phái sinh

Theo số liệu được thể hiện trên Hình 4, hầu như rất ít người sử dụng (mức 1 là hầu như chưa từng sử dụng, 2 là sử dụng chỉ 1 lần). Theo số liệu thể hiện thì bình quân thị trường hầu như không sử dụng. Nếu xét theo tỷ lệ người trả lời thì số doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh chỉ chiếm 27/102, là khoảng 25% số doanh nghiệp tham gia điều tra.

Dựa vào đánh giá mức độ thường xuyên sử dụng sản phẩm trong số 28 doanh nghiệp có sử dụng phái sinh, thì rõ ràng hợp đồng kỳ hạn chiếm ưu thế. Số sử dụng giao sau, phái sinh và hoán đổi chỉ ở mức “xài cho biết” (bình quân gần 2, nghĩa là chỉ sử dụng có 1 lần).

Hình 4: Mức độ thường xuyên sử dụng sản phẩm phái sinh của các doanh nghiệp tham gia điều tra

Hình 5: Mức độ thường xuyên sử dụng sản phẩm phái sinh trong nhóm các doanh nghiệp có sử dụng sản phẩm phái sinh

Mức độ thành công trung bình của các doanh nghiệp dùng phái sinh là 3,21; một mức thành công khiêm tốn, chỉ vượt qua mức 3 một chút. Điều này hợp lý vì theo mẫu điều tra thì doanh nghiệp sử dụng sản phẩm kỳ hạn nhiều hơn các sản phẩm còn lại, do đó thu lợi ích không thể quá lớn được (xét về khía cạnh lợi nhuận).

Nhìn chung, theo số liệu 3,21 này có thể tạm đánh giá tình hình chung của các doanh nghiệp tham gia khảo sát là “tương đối thành công” trong sử dụng sản phẩm phái sinh.

3.3 So sánh giữa nhóm các doanh nghiệp sử dụng và không sử dụng sản phẩm phái sinh

Mô phỏng theo phương pháp của Graham và Harvey (2001) và cách phân tích của báo cáo về sử dụng sản phẩm phái sinh của trường kinh doanh Wharton năm 1995, nhóm mẫu nghiên cứu phân làm hai nhóm: Nhóm có sử dụng và nhóm không sử dụng sản phẩm phái sinh. So sánh giữa nhóm các doanh nghiệp sử dụng và nhóm không sử dụng sản phẩm phái sinh về các chỉ tiêu mức độ am hiểu và mức độ quan tâm đến sản phẩm phái sinh, chúng ta có kết quả sau:

Hình 6: Mức độ am hiểu về sản phẩm phái sinh – So sánh giữa nhóm sử dụng và nhóm không sử dụng

Theo kết quả biểu hiện ở Hình 6, rõ ràng trong số các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh, mức độ am hiểu về sản phẩm kỳ hạn là cao nhất. Còn  nếu so sánh giữa hai nhóm thì nhìn chung, nhóm sử dụng sản phẩm phái sinh có độ am hiểu cao hơn so với nhóm không sử dụng, đặc biệt là với sản phẩm kỳ hạn và hoán đổi. Tuy nhiên, nếu sử dụng các số liệu bình quân này thì có thể không phản ánh một cách chính xác mức độ chênh lệch về sự am hiểu sản phẩm phái sinh giữa hai nhóm. Để khẳng định điều này, cần tiến hành kiểm định thống kê với giả thiết là mức độ am hiểu về sản phẩm phái sinh của hai nhóm là như nhau cho từng loại sản phẩm phái sinh. Kết quả thống kê được thể hiện trong Bảng 2.

Dựa vào Bảng 2, có thể khẳng định mức am hiểu trung bình của nhóm doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh đối với các sản phẩm này cao hơn nhóm doanh nghiệp không sử dụng sản phẩm phái sinh và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê từ 1% đến 10% cho từng loại sản phẩm, có nghĩa là độ tin cậy thấp nhất của kết luận này là 90%.

Kết quả này dẫn tới hai ngụ ý: thứ nhất, vì mức độ am hiểu của doanh nghiệp có sử dụng sản phẩm phái sinh cao hơn doanh nghiệp không sử dụng sản phẩm phái sinh về lợi ích phòng ngừa rủi ro của sản phẩm này nên doanh nghiệp sẽ thường xuyên thực hiện hơn. Nếu đúng như vậy, thì vai trò đào tạo và làm cho doanh nghiệp am hiểu và nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng sản phẩm phái sinh cần được nhấn mạnh.

Bảng 2: Kiểm định thống kê sự khác biệt về mức độ am hiểu giữa nhóm doanh nghiệp có sử dụng sản phẩm phái sinh và nhóm không có sử dụng sản phẩm phái sinh

Presentation3

Ngụ ý thứ hai là việc sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại trừ phụ thuộc vào mức độ hiểu biết của doanh nghiệp, còn phụ thuộc vào mức độ phức tạp và lợi ích của sản phẩm phái sinh. Một điểm đáng chú ý là sự khác biệt giữa mức độ am hiểu trung bình giữa hai nhóm doanh nghiệp đối với sản phẩm quyền chọn là khá thấp, mức ý nghĩa của sự khác biệt về mức độ am hiểu trung bình của quyền chọn chỉ là 10%. Điều này phần nào phản ánh mức độ phổ biến của quyền chọn đối với công chúng do nhiều sản phẩm về quyển chọn vàng, ngoại tệ, v.v. thường xuyên được đề cập trên phương tiện thông tin đại chúng đã có tác động thu hẹp khoảng cách về kiến thức giữa hai nhóm doanh nghiệp, tuy nhiên lại cho thấy chưa hẳn có am hiểu đã có sử dụng. Từ đây đưa ra ngụ ý là am hiểu về sản phẩm phái sinh chỉ mới là điều kiện cần đề thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng sản phẩm, ngoài ra sẽ còn yếu tố khác đưa doanh nghiệp đến quyết định sử dụng, mà trong đó có thể kể đến các yếu tố về qui định luật pháp, vấn đề trách nhiệm, v.v. trong doanh nghiệp sẽ bàn ở bên dưới.

Hình 7: Mức độ quan tâm đến sản phẩm phái sinh trong tương lai – So sánh giữa nhóm sử dụng và nhóm không sử dụng

Bảng 3: Kiểm định thống kê sự khác biệt về mức độ quan tâm giữa nhóm doanh nghiệp có sử dụng sản phẩm phái sinh và nhóm không có sử dụng sản phẩm phái sinh

Presentation4

So sánh về mức quan tâm trong tương lai đến việc sử dụng sản phẩm phái sinh, có sự khác biệt rõ ràng giữa nhóm sử dụng và nhóm không sử dụng (bình quân trên 3 của nhóm sử dụng so với gần 2 của nhóm chưa sử dụng). Hình 7 và Bảng 3 cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt này.

Theo kiểm định thống kê từ Bảng 3 cho thấy mức độ khác biệt về mối quan tâm đến việc sử dụng sản phẩm phái sinh trong tương lai để phòng ngừa rủi ro giữa doanh nghiệp có sử dụng và không sử dụng sản phẩm phái sinh khá rõ ràng (mức ý nghĩa dưới 1% cho tất cả các sản phẩm). Điều này cũng được phản ánh trực quan qua biểu diễn trên đồ thị 6.

Theo số liệu điều tra cho thấy đa phần các doanh nghiệp đã từng sử dụng sản phẩm phái sinh lựa chọn sẽ tiếp tục sử dụng. Đa số các doanh nghiệp đánh giá mức độ thành công trong sử dụng sản phẩm phái sinh của mình là ở mức 3 hoặc 4 nghĩa là có thành công ít hoặc thành công nhiều thì đều chọn mức độ quan tâm đối với ít nhất một loại sản phẩm phái sinh nào đó là 4 trở lên. Điều này phản ánh tâm lý làm “có lời thì làm tiếp” – positive feedback trading. Nhưng mặt khác, nó cũng phản ánh về mặt bằng chung, như thể hiện qua điểm bình quân của mức độ quan tâm là xung quanh 3 đến 3,4; nghĩa là các doanh nghiệp chỉ mới sử dụng sản phẩm phái sinh theo kiểu “du kích”, chứ chưa đưa phòng ngừa rủi ro vào chiến lược của mình và chưa đưa thành qui định khi nào bắt buộc phải sử dụng sản phẩm. Đây sẽ là một trở ngại cho việc thực hiện sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro mang tính chiến lược. Phòng ngừa rủi ro hiện nay chỉ mang tâm lý ngắn hạn và mang tính tình thế. Chúng ta chưa xây dựng một cách tiếp cận quản trị rủi ro công ty (enterprise risk management approach) trong chiến lược kinh doanh.

Còn về nhóm chưa sử dụng sản phẩm phái sinh thì họ chỉ đang dừng lại ở mức có quan tâm sản phẩm và có thể sẽ “dùng thử” nhưng không biết dùng thế nào. Điều này gợi ý cần tiếp tục mở rộng điều tra nguồn thông tin về sản phẩm phái sinh cho doanh nghiệp để định vị hướng quảng bá hiệu quả hơn sản phẩm phái sinh đến doanh nghiệp.

Tóm lại, dựa vào những kết quả điều tra trên, ta có thể kết luận:

  • Lãi suất và tỷ giá là hai rủi ro doanh nghiệp lo ngại nhất trong số các rủi ro tài chính.
  • Thành công đối với việc sử dụng sản phẩm phái sinh còn hạn chế, nhưng cũng có tín hiệu lạc quan.
  • Nếu sử dụng sản phẩm thành công, doanh nghiệp sẽ tiếp tục sử dụng. Điều này gợi ý vai trò tư vấn của nhà cung cấp và vai trò đào tạo cho doanh nghiệp.
  • ° Kỳ hạn là sản phẩm phái sinh được dùng nhiều nhất hiện nay (nghiên cứu này tiến hành năm 2007). Và đây cũng là sản phẩm mà doanh nghiệp am hiểu sâu sắc nhất.
  • Mức độ am hiểu về sản phẩm phái sinh đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định sản phẩm nào sẽ được sử dụng nhiều.
  • Gợi ý tiếp tục tìm hiểu các kênh truyền bá sản phẩm phái sinh hiệu quả đến doanh nghiệp.

3.4 Nguyên nhân khiến sản phẩm phái sinh không phổ biến: Từ kết quả điều tra đến ý kiến chuyên gia

Căn cứ vào kết quả điều tra như thể hiện trên Hình 8, nguyên nhân khiến doanh nghiệp không thực hiện sản phẩm phái sinh hoặc gặp khó khăn trong sử dụng sản phẩm phái sinh nằm ở 3 nguyên nhân chính là:

  • Thiếu am hiểu về sản phẩm phái sinh
  • Thiếu nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của quản trị rủi ro bằng sản phẩm phái sinh
  • Khung pháp lý chưa rõ ràng

Hình 8: Các nguyên nhân ngăn trở việc sử dụng sản phẩm phái sinh

Như đã trình bày, am hiểu về sản phẩm phái sinh là một điều kiện cần quan trọng để sản phẩm phái sinh có thể được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, như được phản ánh qua các xử lý số liệu điều tra. Tuy nhiên, vẫn còn có những điều kiện đủ để doanh nghiệp có thể thành công áp dụng sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro cho mình. 

Một trong những vấn đề được đề cập nhiều đó chính là khung pháp lý. Khung pháp lý bao gồm cả những yếu tố thể chế như Nhà nước chưa có biện pháp khuyến khích thực hiện một cách mạnh mẽ, và khung pháp lý cũng bao hàm một số nhân tố chồng lấn sang cả hai yếu tố là hạch toán bất lợi và tâm lý ngại trách nhiệm. Như vậy, điều này cho thấy chính sách nhà nước cũng không khuyến khích một cách công khai việc sử dụng phái sinh

° Thiếu đào tạo thực tế về sản phẩm phái sinh. Đây là một thực trạng đang tồn tại ở VN vì những chuyên gia đào tạo về sản phẩm phái sinh thực tiễn còn khá ít ỏi do sản phẩm này khá mới ở VN và số đơn vị cung cấp và số đơn vị tham gia thực hiện sản phẩm phái sinh rất ít. Vì vậy, số chuyên gia có cơ hội tiếp cận với thực tiễn ứng dụng sản phẩm phái sinh ở VN là rất hạn chế. Nhiều người có thể đã được đào tạo hoặc học tài liệu của nước ngoài về sản phẩm phái sinh nhưng những cọ xát thực tế về sản phẩm phái sinh là hoàn toàn không nhiều (nếu không nói là không có gì).

° Phí thực hiện sản phẩm phái sinh cao. Đây là một điều hạn chế doanh nghiệp đến với sản phẩm phái sinh. Tuy là kỳ hạn và giao sau không có phí nhưng quyền chọn thì lại có phí và phí quyền chọn là “khá cao” theo đánh giá của nhiều cá nhân và doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh. Điều này là vì nhiều đối tượng sử dụng sản phẩm phái sinh dựa trên kỳ vọng là sẽ tạo ra lợi nhuận chứ không nhắm vào phòng ngừa rủi ro. Họ hoàn toàn không nghĩ sử dụng sản phẩm phái sinh là trả một khoản tiền để mua một giấc ngủ ngon cho mình, để chủ động trong các kế hoạch kinh doanh hay ước tính được chi phí của mình một cách chính xác hơn.

° Doanh nghiệp không có nhân sự có năng lực về sản phẩm phái sinh.Đây thật sự là một trở ngại khá lớn đối với các doanh nghiệp.

° Thông tin về sản phẩm phái sinh khó tiếp cận. Khái niệm khó tiếp cận này qua tìm hiểu thì liên quan đến mức độ “khó hiểu” và không đầy đủ của các hướng dẫn về sản phẩm phái sinh của tổ chức cung cấp sản phẩm phái sinh và các tài liệu của các tổ chức giáo dục đào tạo về sản phẩm phái sinh. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do chủ đề về sản phẩm phái sinh là một chủ đề khó, đòi hỏi trình độ chuyên môn đáng kể và VN vẫn còn thiếu lượng chuyên gia am hiểu sâu về sản phẩm phái sinh có thể giải thích một cách đơn giản dễ hiểu vấn đề này cho doanh nghiệp.

Hai yếu tố về việc thiếu nhận thức và thiếu am hiểu về sản phẩm phái sinh còn dẫn đến một vấn đề là doanh nghiệp nhầm lẫn lợi ích của sản phẩm phái sinh đến từ đầu cơ kiếm lời chứ không phải từ chuyện phòng ngừa rủi ro. Mục tiêu sử dụng phái sinh là ở lợi ích của việc phòng ngừa rủi ro.

4. Đề xuất nào được doanh nghiệp đồng thuận cao nhất?

Trong 4 giải pháp gồm khuôn khổ pháp lý, qui định hạch toán có lợi, nâng cao nhận thức và trình độ của doanh nghiệp trong việc sử dụng sản phẩm phái sinh và nâng cao năng lực tư vấn của hệ thống ngân hàng trong kinh doanh sản phẩm phái sinh thì rõ ràng nhóm giải pháp về nâng cao nhận thực và trình độ doanh nghiệp được đánh giá là quan trọng nhất. Nhóm giải pháp về kế toán và thuế là ít quan trọng nhất. Vì vậy, vấn đề doanh nghiệp không được khấu trừ thuế đối với phí quyền chọn không phải là một vấn đề quá lớn trong việc dùng sản phẩm phái sinh. Hai vấn đề khung pháp lý và nâng cao năng lực tư vấn của nhà cung cấp sản phẩm phái sinh có tầm quan trọng ngang nhau. Nhìn chung kết quả này không có gì bất ngờ và nó khẳng định lại những vấn đề đã phân tích ở trên.

Hình 9 Các giải pháp nào được doanh nghiệp đồng thuận nhiều nhất?

Theo những phân tích kết quả khảo sát tình hình sử dụng sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính đã trình bày ở trên, những vấn đề nổi cộm đáng quan tâm chủ yếu là: Doanh nghiệp VN hiện nay vẫn còn ít sử dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro, mức độ thành công của việc sử dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro còn hạn chế và doanh nghiệp chưa am hiểu cũng như chưa ý thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng sản phẩm phái sinh trong việc bảo vệ mình trước những rủi ro tài chính. 

Những phân tích thống kê và bảng biểu cho thấy việc sử dụng sản phẩm phái sinh theo tư duy tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn là phòng ngừa rủi ro, và họ sẽ tiếp tục sử dụng nếu sản phẩm phái sinh nếu lần đầu tiên sử dụng đem lại lợi ích cho họ. Những phát hiện này này gợi ý nhiều về vai trò của việc đào tạo và tư vấn trong việc sử dụng sản phẩm phái sinh. Rõ ràng theo các kiểm định thống kê là các doanh nghiệp có am hiểu nhiều về phái sinh hơn sẽ quan tâm sử dụng hơn.

Ngoài vấn đề trình độ am hiểu của doanh nghiệp, các vấn đề về khung pháp lý, trình độ nhân lực của doanh nghiệp và tâm lý ngại trách nhiệm cũng là những rào cản nổi bật hạn chế doanh nghiệp tìm đến với sản phẩm phái sinh. Ngoài ra, một yếu tố chủ quan không được đề cập nhiều trong các nghiên cứu trước đây và trong các bài viết trên báo chí là khả năng marketing của đơn vị chào bán sản phẩm phái sinh cho doanh nghiệp cũng là một điểm cần cải thiện nếu muốn việc sử dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro trở nên phổ biến hơn ª

Chú thích:

[1]  1995 Wharton survey of derivatives usage by US non-financial firms.

[2] 1998 Wharton survey of financial risk management by US non-financial firms.

[3] Graham, J.R, Harvey C.R, (2001). ‘The Theory and Practice of Corporate Finance: Evidence from the field’, Journal of Financial Economics, 60, 187-243.

Tài liệu tham khảo:

1. Wharton survey of derivatives usage by US non-financial firms, 1995.

2. Wharton survey of financial risk management by US non-financial firms,1998.

3. Graham, J.R, Harvey C.R, (2001). ‘The Theory and Practice of Corporate Finance: Evidence from the field’, Journal of Financial Economics, 60, 187-243.

4. Nguyễn Thị Ngọc Trang, Quản trị rủi ro tài chính, NXB Thống kê, 2007.

5. Trần Ngọc Thơ, Tài chính doanh nghiệp hiện        đại, NXB Thống kê, 2006.

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ (SỐ PHÁT HÀNH CHƯA XÁC ĐỊNH)

Advertisements

2 Responses

  1. Tôi đã được đọc qua bài viết “Doanh nghiệp việt nam quản trị rủi ro tài chính như thế nào” của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang bài viết rất hay và mang tính khoa học cao. Tuy nhiên khi xem bài này tôi thấy bài chưa nêu rõ các số liệu sử dụng phân tích trong bài là số liệu điều tra của năm nào? Các hình đồ thị thì chưa có đơn vị. Hình 1 và hình 2 điều tra 2 nhóm khác nhau như số liệu và hình đồ thị giống nhau như đúc. Hình đồ thị 4 và hình đồ thị 5 cũng giống nhau như khi diễn giải thì số liệu lại khác. Bảng 1: tổng số có 102 mẫu hợp lệ được xử lý như tổng số doanh nghiệp ở phần dưới là 27+46+27=100. Nếu được xin quý cô trả lời giúp các thắc mắc của tôi dùm theo địa chỉ email: luongtranphong@gmail.com. Mong sớm nhận được sự giải đáp giúp. Chân thành cảm ơn!

  2. Em chào cô.
    Em đọc qua bài viết của cô và thấy nó rất hay và bổ ích. Cô có thể cho em xin bài viết chi tiết của cô để tham khảo cho bài khóa luận tốt nghiệp của em được không ạ. Em cảm ơn cô…

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: