SUY NGẪM 25

image Nguồn nhân lực là một trong những sức mạnh cạnh  tranh nhất của Việt Nam (sau môi trường đầu tư), vì:

– Rẻ? Một số nhà đầu tư nước ngoài cho rằng lao động Việt Nam không còn rẻ và yếu tố lao động rẻ cũng không còn yếu tố quyết định;

– Nguồn nhân lực có trình độ cao? Việt Nam đang trong cơn “khát” yếu tố này;

– Thông minh và khéo léo? Đúng, nhưng kiến thức của người lao động còn mang tính chất cá nhân, dao động, thiếu cách xử lý vấn đề và suy nghĩ mang tính toàn cầu để mang nhiều tính ứng dụng thực tiễn;

– Có tính cộng đồng và hợp tác? Thực tế người lao động Việt Nam khi làm việc theo nhóm, tập thể, tính hợp tác rất kém.

– Người lao động tôn trọng người sử dụng lao động và được bảo vệ quyền lợi tốt?Đình công, đấu tranh tự phát đã trở thành thói quen của người lao động Việt Nam.

. . . . .

Sức mạnh cạnh tranh của Việt Nam có thể bị tác động bởi những yếu tố trên trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế???

CIVILLAWINFOR tổng hợp từ vietnamnet.vn, laodong.com.vn, anninhthudo.vn

Advertisements

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BẮC NINH BIẾN VIỆC "DỄ" THÀNH "KHÓ"

image NGÂN HÀ

Một vụ án không quá phức tạp, án tuyên rõ ràng, bên phải thi hành có tài sản nhưng đã 4 năm trôi qua, người được thi hành án (THA) vẫn không nhận được tài sản như bản án đã tuyên. Nguyên nhân chính khiến việc THA bị kéo dài là ở khâu định giá của cơ quan THADS TP.Bắc Ninh quá cao dẫn tới việc tài sản không bán được (về vấn đề này trong năm 2007, ĐS&PL đã từng có bài viết phản ánh – PV). Những tưởng sau khi cơ quan THADS tỉnh Bắc Ninh “vào cuộc” thì vấn đề này sẽ được “khai thông” nhưng…thay vì giải quyết vụ việc, cơ quan này lại ra quyết định “Trả lại đơn yêu cầu thi hành án” cho đương sự!

“Tự làm khó” khi định giá quá cao

Theo bản án phúc thẩm số 15/DSPT ngày 29.4.2004 của TAND tỉnh Bắc Ninh, ông Nguyễn Việt Hòa ở Niềm Xá, phường Kinh Bắc, TP.Bắc Ninh phải trả cho bà Nguyễn Thị Thúy (cùng ở phường Kinh Bắc) số tiền là 318.800.000 đồng. Nhận đơn yêu cầu THA của ông Trần Thanh (được bà Thúy uỷ quyền), cơ quan THADS TP.Bắc Ninh đã tiến hành kê biên nhà, đất của ông Hòa tại khu Niềm Xá để bán đấu giá. Lúc đầu, cơ quan THA định giá khối tài sản phải THA là 2, 5 triệu đồng/m2. Sau đó, mức giá được định lại còn 1, 2 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, trong tất cả những lần thông báo bán đấu giá tài sản (do Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bắc Ninh thực hiện) đều không có người hỏi mua. Lý do mức giá khởi điểm đưa ra quá cao so với giá đất thực tế tại địa phương!

Tiếp tục đọc

MÔ HÌNH TÒA ÁN MỚI: TÒA NÀO XỬ SƠ THẨM

HỒ KHẢI HÀ

Người nói án sơ thẩm nên để cho tòa sơ thẩm khu vực “ôm” hết, người lại bảo tòa cấp trên cũng có quyền “trị” án này…

Trong hội thảo về mô hình tổ chức tòa án khu vực do Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp tổ chức mới đây, ngoài việc lựa chọn mô hình tòa án ba hay bốn cấp, vấn đề thẩm quyền giải quyết án của các tòa cũng còn gây nhiều tranh cãi.

Phúc thẩm san sẻ các vụ sơ thẩm…

Theo Phó Chánh tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM Phạm Hùng Việt, tòa sơ thẩm khu vực nên xử một số án sơ thẩm như tòa cấp huyện hiện nay. Ông Việt lựa chọn mô hình tòa bốn cấp (tòa sơ thẩm khu vực, tòa phúc thẩm, tòa thượng thẩm, tòa tối cao) nên theo ông, tòa phúc thẩm sẽ “làm” một số án sơ thẩm như tòa cấp tỉnh hiện nay.

Ý kiến này được nhiều tòa án địa phương ủng hộ. Theo họ, hiện tại tòa sơ thẩm khu vực chỉ nên xử những án hình sự có khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, cao hơn thì chuyển cho tòa phúc thẩm. Nói gì thì nói, đối với những án đặc biệt nghiêm trọng thì trình độ thẩm phán tòa sơ thẩm khu vực vẫn chưa kham nổi! Chưa kể nếu tòa cấp trên không san sẻ thì lượng án đổ dồn về tòa sơ thẩm khu vực có thể sẽ gây quá tải. Chánh án TAND tỉnh Long An Huỳnh Công Lý còn nói các án dân sự, kinh doanh thương mại liên quan đến nước ngoài rất phức tạp. Ngay cả tòa cấp tỉnh hiện cũng còn lúng túng, nếu đẩy về cho tòa sơ thẩm khu vực hết sẽ rất căng!

Tiếp tục đọc

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: DƯỚI BẢO RÕ, TRÊN NÓI CHƯA

HỮU KHÁ

Cấp sơ thẩm lấy bờ tường nhà bị đơn làm ranh giới giữa hai bất động sản nhưng là bờ tường của tầng trệt hay tầng lầu? Nhà ông T. (một trệt, một lầu) ở gần nhà ông X. (một trệt, hai lầu) tại quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Nếu phần trệt giữa hai nhà cách nhau 3 cm thì phần lầu của nhà ông X. lại lấn qua không gian của nhà ông T. Do không thỏa thuận được nên ông T. đã khởi kiện ông X. ra tòa với yêu cầu ông X. phải vạt bỏ phần tường xây lấn.

Ngày 2-5-2008, TAND quận Hải Châu đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của hai bên đương sự theo hướng lấy bờ tường nhà của ông X. theo phương thẳng đứng làm ranh giới giữa hai căn nhà. Ông X. có nghĩa vụ cắt bỏ phần kiến trúc đã xây vượt khỏi ranh giới và lấn sang nhà ông T. Đồng thời, ông T. phải trả cho ông X. 50 triệu đồng chi phí cắt bỏ phần kiến trúc đã nêu.

Sau khi quyết định này có hiệu lực, ông T. đã tự nguyện nộp tiền cho ông X. kèm theo đề nghị ông X. thi hành án. Ông X. cũng đã nhận tiền và có đơn cam kết thực hiện đúng quyết định của tòa. Song sau đó, ông T. đã nộp đơn khiếu nại ông X. vi phạm cam kết. Vì lẽ ra phải lấy chuẩn là bờ tường tầng trệt để cắt bỏ tất cả các phần kiến trúc xây lấn của cả lầu một và lầu hai thì ông X. lại lấy chuẩn là bờ tường lầu một để vạt bớt lan can của lầu hai.

Phía ông X. khăng khăng “án tuyên sao, tôi làm y vậy”. Theo ông X., quyết định của tòa phải được hiểu là vật kiến trúc ở đâu thì lấy bờ tường ở đó làm ranh giới theo phương thẳng đứng để cắt bỏ. Ông X. từ chối đập bỏ một phần tường của lầu một.

Tiếp tục đọc

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: VỤ KIỆN MUA NHÀ TẠI SỐ 2 LÒ ĐÚC, VÌ SAO ÁN CÓ HIỆU LỰC BỊ TRÌ HOÃN THI HÀNH

QUỐC LUẬT

Vụ án dân sự có nguyên đơn là ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị La cùng trú tại số 4 Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, bị đơn là ông Hoàng Tiến Lân Hưng và bà Phạm Thị Phấn cùng trú tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Theo đơn khởi kiện, ông Giai có nhu cầu mua nhà để ở và biết ông Hoàng Tiến Lân Hưng có nhu cầu bán nhà nên ngày 06.5.2004 hai bên đã làm Hợp đồng đặt cọc mua nhà đất với nội dung: Ông Hoàng Tiến Lân Hưng đã nhận của ông Giai số tiền đặt cọc là 112 triệu đồng để mua lại “Hợp đồng thuê nhà Nhà nước” của ông Hưng tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và hẹn đến ngày 16.6.2004 ông Giai sẽ thanh toán đủ số tiền 438 triệu đồng (tổng số tiền là 550 triệu đồng) còn lại cho ông Hưng và nhận nhà.

Hợp đồng có ghi: Nếu ông Hưng đã nhận tiền đặt cọc nhưng không bán nhà nữa hoặc không thực hiện đúng với các điều khoản đã ghi trong hợp đồng này thì ông Hưng phải thanh toán lại toàn bộ số tiền mà ông Giai đã đặt cọc đồng thời phải nộp phạt cho ông Giai số tiền bằng số tiền đã đặt cọc. Hợp đồng đã được cả bốn người nêu trên cùng ký. Đến ngày 24.5.2004 ông Giai giao tiếp số tiền 38 triệu đồng đặt cọc cho ông Hưng, ngày 25.5.2004 bản khai chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước giữa ông Giai và ông Hưng được UBND phường Phạm Đình Hổ xác nhận.

Tiếp tục đọc

TRAO ĐỔI LẠI “QUAN NIỆM THẾ NÀO VỀ LÃI SUẤT TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM?”

ANH TUẤN

Trong bài viết với tiêu đề nêu trên đăng trong Tạp chí Ngân hàng số 20 tháng 10/2008, tác giả Minh Tâm đã phân tích sự liên quan giữa cơ chế “Lãi suất thỏa thuận” hay “tự do hóa lãi suất” với tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Bằng việc đưa ra các số liệu về mức tăng chỉ số giá tiêu dùng hàng năm (từ năm 1999 đến 2005), tác giả kết luận cơ chế lãi suất thỏa thuận (áp dụng tại Việt Nam từ tháng 06/2002) là “một trong những nguyên nhân làm cho chỉ số giá cả hàng hóa – dịch vụ tiêu dùng liên tục tăng lên”.

Ở đây, tôi không bàn về các nội dung kinh tế của bài viết, tôi cũng không nghi ngờ gì về khả năng có thể có sự liên quan giữa hai yếu tố là cơ chế lãi suất và chỉ số giá tiêu dùng mà tác giả đã phân tích. Tôi chỉ xin được nêu một vài ý kiến nhỏ về phương pháp phân tích của tác giả. Trong nội dung bài báo trên, tác giả chỉ căn cứ vào một chuỗi chỉ số giá tiêu dùng trong các năm từ 1999 – 2005 (số liệu lần lượt là: 0,1%; -0,6%; -0,2%; 4%; 3%; 8,4%; 9,5%), và kết luận rằng cơ chế “lãi suất thỏa thuận” bắt đầu áp dụng từ năm 2002 là một nguyên nhân làm tăng chỉ số giá tiêu dùng. Về mặt cảm tính, đúng là có vẻ như có sự liên hệ nào đó giữa việc tự do hóa lãi suất với mức tăng chỉ số giá tiêu dùng, vì số liệu mà tác giả đã dẫn phần nào nói lên điều đó. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào dãy số liệu đó mà kết luận ngay, thì tôi cho rằng chưa đủ cơ sở khoa học.

Việc chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2002 – 2005 tăng lên cao bắt đầu từ khi Việt Nam áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận (như bảng số liệu mà tác giả đã dẫn) rất có thể chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Để làm rõ điều này, chúng ta hãy xem xét số liệu trong một giai đoạn dài hơn: Số liệu thống kê cho thấy từ năm 1991 đến 1998 (là giai đoạn Việt Nam đang áp dụng cơ chế “trần lãi suất”), chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam lần lượt là: 67,4%; 17,5%; 5,3%; 14,4%; 12,7%; 4,5%; 3,6%; 9% (giai đoạn trước năm 1998 tại Việt Nam sử dụng “chỉ số giá bán lẻ hàng hóa”.

Tiếp tục đọc

BÀN VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN – PHÂN BIỆT CHỨC NĂNG QUẢN LÝ CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VỀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN ĐĂNG KÝ

TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN – Đại học Luật Hà Nội

I. ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

1. Khái niệm đăng ký bất động sản

Các nước trên thế giới cho dù xác lập mô hình sở hữu đất đai theo hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu cộng đồng (sở hữu tập thể) hay sở hữu tư nhân … đều tiến hành việc đăng ký bất động sản nhằm xác lập hiện trạng và lý lịch pháp lý của một thửa đất. Vậy đăng ký bất động sản là gì? Và việc đăng ký bất động sảnnhằm mục đích gì?

Theo GS. Matsumoto Tsuneo – Đại học Hitotsubashi (Nhật Bản): “Đăng ký bất động sảnlà việc một cơ quan nhà nước tiến hành ghi lưu và nắm giữ thông tin về tình trạng bất động sản, người có quyền đối với bất động sản, nội dung quyền và tình trạng thay đổi” [1];

Theo Luật đăng ký nhà nước đối với các quyền về bất động sản và các giao dịch về bất động sản năm 1997 của Cộng hòa Liên bang Nga:

“1. Đăng ký nhà nước đối với các quyền về bất động sản và các giao dịch về bất động sản là sự kiện pháp lý công nhận và chứng thực bởi Nhà nước, sự phát sinh, hạn chế, chuyển dịch hoặc chấm dứt các quyền về bất động sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự Liên bang Nga.

Đăng ký nhà nước là chứng cứ duy nhất về sự tồn tại của quyền đăng ký. Quyền đăng ký đối với bất động sản chỉ có thể bị tranh chấp theo thủ tục thông qua Tòa án.

Tiếp tục đọc

NHẬN CẦM CỐ/ THẾ CHẤP SỔ TIẾT KIỆM DO NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH PHẢI CHĂNG ĐÃ RẤT AN TOÀN?

ĐỖ THẾ MÃI

Hiện nay, sổ tiết kiệm được xem là một trong những tài sản đảm bảo có tính an toàn cao nhất đối với các ngân hàng. Nhiều ngân hàng có thể cho vay với giá trị khoản vay bằng 100% giá trị sổ tiết kiệm (khi thời hạn của khoản vay ngắn hơn thời hạn của sổ tiết kiệm, tổng lãi tiền gửi từ sổ tiết kiệm lớn hơn hoặc bằng tổng lãi của khoản vay và khoản vay phải đáo hạn trước sổ tiết kiệm – trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).

Hầu hết trong các trường hợp, các ngân hàng chỉ ký kết hợp đồng cầm cố/thế chấp mà không cần các thủ tục công chứng hay đăng ký giao dịch bảo đảm. Biện pháp quản lý tài sản cầm cố duy nhất là giữ bản chính sổ tiết kiệm. Biện pháp quản lý khoản vay hầu như không cần thiết hoặc thực hiện hết sức lơi lỏng bởi khi xảy ra rủi ro, ngân hàng có thể xử lý sổ tiết kiệm ngay để thu hồi nợ mà không gặp nhiều trở ngại. Chính vì vậy, nhiều người thường cho rằng cho vay nhận tài sản đảm bảo là sổ tiết kiệm do chính ngân hàng mình phát hành thì rủi ro gần như không có.

Tuy nhiên, thực tế lại không hẳn như vậy!

Theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm (Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006), một tài sản có thể được dùng để đảm bảo thực nhiều nghĩa vụ dân sự tại một hoặc nhiều tổ chức tín dụng khác nhau, giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (trừ trường hợp nhà ở – đã được quy định tại luật nhà ở hoặc pháp luật có quy định khác). Tiết d Khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 quy định, trường hợp thế chấp một tài sản để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự thì hợp đồng đảm bảo đó bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm (cần lưu ý việc đăng ký giao dịch đảm bảo ở đây là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo đảm). Pháp luật cũng không bắt buộc bên bảo đảm phải chuyển giao tài sản/giấy tờ sở hữu tài sản bảo đảm (bản chính hoặc bản sao) cho bên nhận bảo đảm. Như vậy, khi các bên ký kết hợp đồng bảo đảm mà tài sản bảo đảm là sổ tiết kiệm thì việc có giao sổ tiết kiệm cho ngân hàng hay không (hoặc chỉ giao bản sao) là do các bên thỏa thuận (nếu có chuyển giao bản chính sổ tiết kiệm thì là hợp đồng cầm cố, không chuyển giao là hợp đồng thế chấp).

Tiếp tục đọc

VẤN ĐỀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG LÀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NHÌN TỪ MỘT VỤ ÁN

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Nguyễn Thị A (ngụ tại thành phố (TP) Vũng Tàu) là chủ sở hữu 3 tàu đánh cá (số hiệu: BV-9244-TS, BV-9342-TS, BV-5741-TS) và đã thế chấp cho Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT) Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu (cho 3 hợp đồng tín dụng (HĐTD) với tổng nợ gốc 2.250 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng và 60 tháng) theo các hợp đồng thế chấp số 0612.0278 ngày 24/11/2006, số 0612.0299 ngày 28/12/2006 và số 0744.0003 ngày 10/01/2007 (các hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm tại TP. Hồ Chí Minh).

Trong tháng 4/2007, Nguyễn Thị A cùng 4 đồng phạm khác dùng 3 tàu trên đi biển để cắt cáp viễn thông. Khi bị khởi tố hình sự, cơ quan điều tra đã kê biên và giao 3 tàu cá cho gia đình A quản lý. Tại bản án sơ thẩm số 83/2008/HS-ST ngày 04/04/2008, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên: Nguyễn Thị A và các đồng phạm khác phạm vào tội “phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, với các mức án từ 3 đến 12 năm tù; xét thấy: trước khi các bị cáo sử dụng 3 tàu đánh cá làm phương tiện phạm tội thì 3 tàu này đã được thế chấp hợp pháp cho ngân hàng nên bản án đã giao cho NHCT Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu cùng Thi hành án và gia đình bà A thanh lý trước hạn 3 HĐTD, xử lý bán 3 tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay, phần giá trị còn lại, nếu có, tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngày 18/04/2008, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có kháng nghị số 210/VKS đề nghị Toà phúc thẩm căn cứ Điều 41 Bộ luật Hình sự (BLHS) tuyên xử tịch thu 3 chiếc tàu để sung quỹ nhà nước (các bị cáo cũng có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt).

Giao dịch bảo đảm hợp pháp cũng trở nên vô nghĩa!

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 19/9/2008, đại diện VKSND tối cao giữ nguyên kháng nghị và Hội đồng xét xử đã tuyên: bác các kháng cáo và chấp nhận kháng nghị về việc xử lý tịch thu 3 tàu cá là vật chứng, với nhận định: mặc dù 3 tàu cá được thế chấp hợp lệ nhưng việc thế chấp không làm mất đi quyền sở hữu (của A với 3 tàu cá) nên vẫn đủ điều kiện tịch thu. Phán quyết này đã đẩy các khoản nợ vay có tài sản bảo đảm hợp pháp của bà A tại ngân hàng trở thành các khoản nợ không có bảo đảm, giao dịch bảo đảm trên thực tế cũng trở nên vô nghĩa. Và không ai khác, chính ngân hàng – người đã làm tất cả những việc mà luật quy định phải làm, là người phải gánh chịu một tình huống rủi ro vốn không thể lường định.

Tiếp tục đọc

MỘT SỐ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC CẦN KHẮC PHỤC TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

VĨNH LINH

Hoạt động giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án.

. Do đó, công tác giám định tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết các vụ án, tranh chấp được đảm bảo khách quan, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội. Mặc dù, ngày 29/9/2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Giám định tư pháp và Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này nhưng việc triển khai hoạt động giám định tư pháp trên thực tế vẫn còn những bất cập, vướngmắc sau đây:

– Nghị định số 67/2005/NĐ-CP quy định Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với các Sở, ngành chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước một số công việc trong lĩnh vực giám định tư pháp nhưng chưa quy định rõ ràng về cơ chế, đầu mối quản lý, trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện hoạt động giám định tư pháp. Bởi vì, các tổ chức giám định và người giám định không thuộc quyền quản lý của Sở Tư pháp, trong khi đó, Bộ Tư pháp chưa có Thông tư hướng dẫn cụ thể nên việc phối hợp tham mưu trong lĩnh vực này gặp rất nhiều khó khăn, không sâu sát và thực hiện không kịp thời, nhất là các quy định về việc trình bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; lựa chọn người giám định tư pháp theo vụ việc. Hiện nay, chỉ có Bộ Y tế là đã ban hành Thông tư hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên pháp y và giám định viên pháp y tâm thần, các bộ, ngành khác chưa có hướngdẫn cụ thể.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: