DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

Dự thảo 0 (ngày 29/06/2008)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Nhằm tạo điều kiện cho các bên dân sự giải quyết tranh chấp nhanh chóng, kip thời và thuận lợi;

Luật này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh (sửa đổi)

Luật này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự theo sự thoả thuận của các bên.

Điều 2. Giải thích từ ngữ (sửa đổi)

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Luật này quy định.

2. Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên nhằm giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh liên quan đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên dân sự bao gồm tranh chấp phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng.

3. Các bên dân sự là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có quyền thỏa thuận về trọng tài trong các giao dịch nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự của mình, kể cả tranh chấp giữa nhà đầu tư với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam theo quy định của Luật Đầu tư.

4. Tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong giao dịch dân sự mà một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài.

5. Trọng tài viên là người có đủ các điều kiện quy định tại Điều 20 của Luật này, được các bên chọn hoặc Tổ chức Trọng tài hoặc Tòa án có thẩm quyền chỉ định để giải quyết vụ tranh chấp.

6. Hội đồng trọng tài do các bên thành lập là hình thức Trọng tài do các bên thành lập để giải quyết từng vụ tranh chấp mà họ yêu cầu. Sau khi vụ việc đã được giải quyết xong, Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập sẽ tự giải tán.

7. Tổ chức Trọng tài là hình thức trọng tài hoạt động thường xuyên, có tổ chức, có điều lệ, quy tắc tố tụng riêng, có bản danh sách trọng tài viên. Tên gọi của Tổ chức Trọng tài có thể là Trung tâm trọng tài, Hiệp hội, Viện trọng tài, Ủy ban trọng tài hoặc các tên gọi hợp pháp khác.

8. Những người thân thích là những người thuộc ba hàng thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự.

9. Hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính riêng tư, trong đó hòa giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh chấp đạt được một sự thỏa thuận.

Điều 3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (sửa đổi)

1. Khi giải quyết tranh chấp, trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư, phải tuân thủ pháp luật và tôn trọng thoả thuận của các bên.

2. Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp không công khai, hoạt động phi lợi nhuận, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm.

Điều 4: Điều kiện và hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (sửa đổi)

1. Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thoả thuận trọng tài. Trong trường hợp các bên đã có thoả thuận trọng tài nhưng một bên chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực và được thi hành bởi người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

2. Tranh chấp giữa các bên được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do Tổ chức Trọng tài thành lập hoặc tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập theo quy định của Luật này.

Điều 5. Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài (sửa đổi)

Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.

Điều 6. Các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (mới)

1. Trước khi khởi kiện ra trọng tài, các bên tranh chấp có thể giải quyết bất đồng của mình thông qua thương lượng hoặc hoà giải. Trường hợp thương lượng hoặc hòa giải không thành, nếu có thoả thuận trọng tài, tranh chấp có thể được giải quyết theo quy định của Luật này.

2. Trong quá trình thương lượng hoặc hoà giải, nếu một bên đưa tranh chấp ra trọng tài thì việc thương lượng hoặc hoà giải đó mặc nhiên chấm dứt.

3. Trong trường hợp hòa giải không thành, hòa giải viên sẽ không được chỉ đinh trọng tài viên, không được làm người đại diện, nhân chứng, luật sư của bất cứ bên nào trong vụ kiện đó tại trọng tài, trừ trường hợp tất cả các bên chấp thuận bằng văn bản.

4. Các thỏa thuận đạt được trong hòa giải hoặc thương lượng sẽ không được coi là chứng cứ tại trọng tài.

Điều 7: Xác định Tòa án đối với Trọng tài (mới)

1. Tòa án có thẩm quyền đối với trọng tài là Tòa án cấp tỉnh thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a. Tòa án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài tiến hành phiên xét xử;

b. Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý;

c. Tòa án cấp tỉnh nơi có tài sản tranh chấp.

d. Tòa án cấp tỉnh do các bên thỏa thuận;

2. Trong trường hợp tài sản, người làm chứng và các chứng cứ ở nước ngoài thì ngoài các trường hợp được quy định tại khoản 1 điều này, tòa án có thẩm quyền đối với trọng tài được xác định theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tương trợ tư pháp.

Điều 8: Phạm vi hỗ trợ và giám sát của Toà án trong tố tụng trọng tài (mới)

Tòa án chỉ thực hiện những biện pháp hỗ trợ và giám sát đối với quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong những trường hợp được quy định bởi Luật này

Điều 9: Trách nhiệm hỗ trợ và giám sát của toà án đối với trọng tài (mới)

Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ và giám sát đối với trọng tài trong các trường hợp sau đây:

1. Thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng cứ theo điều 41 của Luật này;

2. Lưu giữ hồ sơ trọng tài theo quy định tại điều 59 của Luật này;

3. Tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo quy định tại điều 18 của Luật này;

5. Xác định thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài theo điều 38 của Luật này;

4. Công nhận, thi hành phán quyết trọng tài theo điều 68 của Luật này và quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

5. Giải quyết yêu cầu bác phán quyết trọng tài theo các điều 60, điều 61, điều 62, điều 63 và điều 64 của Luật này;

6. Đảm bảo sự có mặt của người làm chứng theo điều 43 của Luật này;

7. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo các điều 43, điều 44, điều 45 và điều 46 của Luật này;

8. Chỉ định, thay đổi trọng tài viên theo các điều 34, điều 35 của Luật này;

Điều 10. Pháp luật áp dụng giải quyết tranh chấp (sửa đổi)

1. Đối với tranh chấp giữa các bên Việt Nam, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Việc lựa chọn pháp luật nước ngoài và việc áp dụng pháp luật nước ngoài không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

3. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về luật áp dụng thì Hội đồng Trọng tài sẽ quyết định áp dụng pháp luật phù hợp nhất.

Điều 11. Ngôn ngữ (mới)

1. Ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt.

2. Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên có quyền thỏa thuận về ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài. Nếu các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt. Các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài cung cấp phiên dịch và phải trả chi phí.

Điều 12. Cách thức gửi thông báo và trình tự gửi thông báo (mới)

1. Các bản giải trình, văn thư giao dịch và các tài liệu khác do mỗi bên gửi phải được gửi tới Hội đồng Trọng tài với số bản đủ để mỗi thành viên trong Hội đồng Trọng tài có một bản, cho bên kia một bản và một bản lưu tại Tổ chức Trọng tài, nếu vụ việc được giải quyết tại Tổ chức Trọng tài, hoặc tại tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại điều 7 của Luật này, nếu vụ việc được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập.

2. Các thông báo, tài liệu gửi cho các bên sẽ được Hội đồng Trọng tài gửi đến địa chỉ cuối cùng của các bên hoặc gửi cho đại diện của các bên theo đúng địa chỉ do các bên thông báo.

Các thông báo, tài liệu có thể được Hội đồng Trọng tài gửi bằng phương thức giao trực tiếp, thư bảo đảm, thư thường, fax, telex, telegram hoặc bất kỳ phương thức nào khác có ghi nhận việc gửi này.

3. Các thông báo, tài liệu do Hội đồng Trọng tài gửi được coi là đã nhận được vào ngày mà các bên hoặc đại diện của bên đó đã nhận, hoặc được coi là đã nhận nếu thông báo, tài liệu đó đã được gửi phù hợp với khoản 2 Điều này.

4. Thời hạn quy định trong điều này bắt đầu được tính từ ngày tiếp theo ngày mà thông báo, tài liệu được coi là đã nhận được theo quy định tại khoản 3 Điều này. Nếu ngày tiếp theo đó là ngày lễ chính thức hoặc ngày nghỉ theo quy định của nước, vùng lãnh thổ nơi mà thông báo, tài liệu đã được nhận thì thời hạn này bắt đầu được tính từ ngày làm việc đầu tiên tiếp theo. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn này là ngày lễ chính thức hoặc ngày nghỉ theo quy định của nước, vùng lãnh thổ nơi mà thông báo, tài liệu được nhận thì ngày hết hạn sẽ là cuối ngày làm việc đầu tiên tiếp theo.

Điều 13. Trọng tài nước ngoài (mới)

1. Một trọng tài được coi là trọng tài nước ngoài nếu:

(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau hoặc có nơi cư trú tại các nước khác nhau; hoặc

(b) Một trong những địa điểm sau đây mà các bên có trụ sở kinh doanh hoặc có nơi cư trú được đặt ở ngoài lãnh thổ Việt Nam:

(i) Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài. Quy định này không áp dụng với tranh chấp được Trọng tài Việt Nam xử tại nước ngoài theo khoản 3 điều này.

(ii) Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ dân sự được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;

(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước.

2. Cũng thuộc trọng tài nước ngoài theo qui định của khoản 1 điều này đối với các vấn đề sau đây:

a. Trong trường hợp một bên có nhiều trụ sở kinh doanh, trụ sở kinh doanh sẽ là nơi có quan hệ chặt chẽ nhất với thoả thuận trọng tài.

b. Trong trường hợp một bên không có trụ sở kinh doanh, nơi cư trú thường xuyên sẽ được dẫn chiếu tới.

3. Trường hợp vụ tranh chấp được trọng tài Việt Nam xử tại nước ngoài, phán quyết của trọng tài Việt Nam xử tại nước ngoài vẫn được coi là phán quyết của trọng tài trong nước. Phán quyết của trọng tài Việt Nam xử tại nước ngoài tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam.

Điều 14. Áp dụng điều ước quốc tế (sửa đổi)

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

CHƯƠNG II
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

Điều 15. Hình thức thoả thuận trọng tài (sửa đổi)

Thỏa thuận trọng tài được coi là bằng văn bản khi đáp ứng được một trong các điều kiện sau đây:

1. Bằng văn bản được các bên ký kết;

2. Cũng được coi là văn bản nếu:

a. Qua trao đổi giữa các bên bằng telex, điện tín… hoặc các hình thức trao đổi dữ liệu điện tử.

b. Thỏa thuận thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản;

c. Được thể hiện qua trao đổi các đơn kiện và bản tự bảo vệ trong đó sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài được một bên viện dẫn mà bên kia không phản đối;

d. Thỏa thuận được chứng minh bằng văn bản nếu thỏa thuận được một trong các bên hoặc người thứ ba được ủy quyền ghi chép lại.

e. Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như vận đơn đường biển, hợp đồng thuê tàu, điều lệ công ty… và những tài liệu tương tự khác.

Điều 16. Quyền khước từ trọng tài của người tiêu dùng (mới)

1. Trong trường hợp có tranh chấp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ hoặc bất kỳ sản phẩm khác được cung cấp cho tiêu dùng cá nhân, thỏa thuận trọng tài sẽ không được viện dẫn để chống lại người tiêu dùng.

2. Người tham gia vào hợp đồng được coi là người tiêu dùng nếu người đó không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và bên kia cua hợp đồng tham gia với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

3. Thỏa thuận trọng tài được coi là có thể chống lại người tiêu dùng chỉ nếu:

(a) Người tiêu dùng, thông qua thỏa thuận bằng văn bản riêng biệt, xác nhận rằng đã đọc và hiểu thỏa thuận trọng tài, người tiêu dùng đồng ý ràng buộc với thỏa thuận đó; và

(b) Thỏa thuận bằng văn bản riêng rẽ được đề cập trong trường hợp (a) nêu rõ rằng tất cả hoặc bất kỳ điều khoản nào của thỏa thuận đó đều không áp dụng với thỏa thuận trọng tài.

Điều 17: Những tranh chấp sau đây không thuộc thẩm quyền của trọng tài (mới)

1. Tranh chấp liên quan đến các quyền nhân thân, tranh chấp liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2. Tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính.

Điều 18. Thoả thuận trọng tài vô hiệu (sửa đổi)

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong những trường hợp sau đây:

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài theo quy định của điều 17 Luật này;

2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

3. Một trong các bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

4. Thoả thuận trọng tài không được lập theo quy định tại Điều 15 của Luật này;

5. Một trong các bên của thoả thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe doạ và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu;

Điều 19. Sự độc lập của thoả thuận trọng tài (sửa đổi)

Thoả thuận trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không thể thực hiện được hoặc hợp đồng vô hiệu không ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài.

CHƯƠNG III
TRỌNG TÀI VIÊN

Điều 20. Điều kiện của Trọng tài viên (sửa đổi)

1. Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan, đáp ứng một trong các điều kiện sau đây có thể là Trọng tài viên:

a. Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên;

b. Thương nhân có kinh nghiệm kinh doanh từ năm năm trở lên.

2. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án không được làm Trọng tài viên.

3. Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức đang công tác tại Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án không được làm Trọng tài viên.

Điều 21. Quyền, nghĩa vụ của Trọng tài viên (sửa đổi)

1. Trọng tài viên có các quyền:

a. Chấp nhận hoặc từ chối giải quyết vụ tranh chấp;

b. Độc lập trong việc giải quyết vụ tranh chấp;

c. Từ chối cung cấp các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp;

d. Hưởng thù lao.

2. Trọng tài viên có các nghĩa vụ:

a) Từ chối giải quyết vụ tranh chấp trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này;

b) Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết;

c) Tuân thủ quy tắc đạo đức Trọng tài viên.

CHƯƠNG IV
TỔ CHỨC TRỌNG TÀI (SỬA ĐỔI)

Điều 22. Điều kiện thành lập Tổ chức Trọng tài (sửa đổi)

1. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, T chc Trọng tài được thành lập tại một số địa phương theo quy định của Chính phủ khi có đề nghị của một Hiệp hội chuyên ngành. Sau khi được Hội Luật gia Việt Nam xem xét giới thiệu bằng văn bản, Bộ trưởng Bộ tư pháp xem xétt, cấp Giấy phộp thành lập Tổ chức Trọng tài.

2. Hồ sơ đề nghị thành lập Tổ chức Trọng tài gồm :

a. Đơn đề nghị thành lập;

b. Dự thảo Điều lệ của Tổ chức Trọng tài;

c. Văn bản giới thiệu của Hội Luật gia Việt Nam.

3. Trong thời hạn 45 ngày, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp giấy phép thành lập Tổ chức Trọng tài và phê chuẩn điều lệ. Trong trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản.

Điều 23. Đăng ký hoạt động của Tổ chức Trọng tài

Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được giấy phép thành lập, Tổ chức Trọng tài phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Sở Tư pháp), nơi Tổ chức Trọng tài đặt trụ sở. Hết thời hạn này mà Tổ chức Trọng tài không đăng ký thì giấy phép bị thu hồi.

Điều 24. Công bố thành lập Tổ chức Trọng tài (sửa đổi)

1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Tổ chức Trọng tài phải đăng báo hàng ngày của trung ương hoặc báo địa phương nơi đăng ký hoạt động trong ba số liên tiếp về những nội dung chủ yếu sau đây:

a. Tên, địa chỉ trụ sở của Tổ chức Trọng tài;

b. Lĩnh vực hoạt động của Tổ chức Trọng tài;

c. Số Giấy đăng ký hoạt động, cơ quan cấp, ngày, tháng, năm cấp;

d. Thời điểm bắt đầu hoạt động của Tổ chức Trọng tài.

2. Tổ chức Trọng tài phải niêm yết tại trụ sở những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này và danh sách trọng tài viên của Tổ chức Trọng tài.

Điều 22. Tư cách pháp nhân và cơ cấu của Tổ chức Trọng tài (sửa đổi)

1. Tổ chức Trọng tài có tư cách pháp nhân, hoạt động phi lợi nhuận, có con dấu và tài khoản riêng.

2. Tổ chức Trọng tài được miễn thuế đối với các khoản thu được từ phí trọng tài.

3. Trong quá trình hoạt động, Tổ chức Trọng tài được lập các chi nhánh, văn phòng đại diện.

4. Tổ chức Trọng tài có Ban điều hành và các trọng tài viên. Ban điều hành Tổ chức Trọng tài gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó chủ tịch, có thể có Tổng Thư ký do người đứng đầu Tổ chức Trọng tài bổ nhiệm. Người đứng đầu Tổ chức Trọng tài có quyền ban hành các quy định nội bộ về hoạt động của Tổ chức Trọng tài.

5. Tổ chức Trọng tài có Danh sách Trọng tài viên.

Điều 25. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ chức Trọng tài (sửa đổi)

Tổ chức Trọng tài có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Xây dựng Điều lệ và Quy tắc tố tụng của Tổ chức Trọng tài, nhưng không được trái với những quy định của Luật này;

2. Mời những người có đủ điều kiện quy định tại Điều 20 của Luật này làm trọng tài viên;

3. Chỉ định trọng tài viên để thành lập Hội đồng Trọng tài theo quy định của Luật này;

4. Cung cấp các dịch vụ hành chính, văn phòng cho các Hội đồng Trọng tài giải quyết các vụ tranh chấp;

5. Thu phí trọng tài, trả thù lao cho trọng tài viên theo Điều lệ của Tổ chức Trọng tài;

6. Tổ chức rút kinh nghiệm, bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng giải quyết tranh chấp của trọng tài viên;

7. Báo cáo định kỳ hàng năm hoạt động của Tổ chức Trọng tài với Bộ Tư pháp, Hội Luật gia Việt Nam và Sở Tư pháp nơi Tổ chức Trọng tài đăng ký hoạt động;

8. Xóa tên trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Tổ chức Trọng tài khi trọng tài viên vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật này và Điều lệ của Tổ chức Trọng tài;

9. Lưu trữ hồ sơ, cung cấp các bản sao quyết định trọng tài theo yêu cầu của các bên hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

10. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 26. Chấm dứt hoạt động của Tổ chức Trọng tài (sửa đổi)

1. Hoạt động của Tổ chức Trọng tài chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a. Các trường hợp quy định tại Điều lệ của Tổ chức Trọng tài;

b. Bị thu hồi Giấy phép thành lập Tổ chức Trọng tài.

2. Khi chấm dứt hoạt động, Tổ chức Trọng tài phải nộp lại Giấy phép thành lập Tổ chức Trọng tài cho cơ quan đã cấp giấy phép.

3. Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục chấm dứt hoạt động của Tổ chức Trọng tài.

CHƯƠNG V
KHỞI KIỆN, THỤ LÝ VỤ TRANH CHẤP (MỚI)

Điều 27. Đơn kiện (sửa đổi)

1. Để giải quyết vụ tranh chấp tại Tổ chức Trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi đến Tổ chức Trọng tài. Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi cho bị đơn.

2. Đơn kiện gồm có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Ngày, tháng, năm viết đơn;

b) Tên và địa chỉ của các bên;

c) Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;

d) Các yêu cầu của nguyên đơn;

e) Trị giá tài sản mà nguyên đơn yêu cầu;

g) Tên trọng tài viên của Tổ chức Trọng tài mà nguyên đơn chọn, nếu việc giải quyết tranh chấp được tiến hành tại Tổ chức Trọng tài hoặc tên Trọng tài viên mà Nguyên đơn chọn hoặc yêu cầu của Nguyên đơn về việc người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho mình. Trường hợp chọn Trọng tài viên ngoài Danh sách Trọng tài viên, Nguyên đơn phải thông báo cho Tổ chức Trọng tài họ tên và địa chỉ liên lạc của Trọng tài viên mà Nguyên đơn chọn. Trường hợp Nguyên đơn yêu cầu người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định Trọng tài viên, người đứng đầu Tổ chức Trọng tài sẽ chỉ định một Trọng tài viên có tên trong Danh sách Trọng tài viên.

3. Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn phải minh chứng về thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao tài liệu chứng cứ. Bản sao phải có chứng thực hợp lệ.

4. Trong trường hợp tranh chấp dược giải quyết tại Tổ chức Trọng tài, tố tụng trọng tài được bắt đầu khi Tổ chức Trọng tài nhận được đơn kiện của bi đơn. Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, tố tụng trọng tài được bắt đầu từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn.

5. Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết tại Tổ chức Trọng tài, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ khi đơn kiện được coi là hợp lệ và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, Tổ chức Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 28. Thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài (sửa đổi)

1. Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật có quy định thời hiệu khởi kiện thì thực hiện theo quy định đó của pháp luật.

2. Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm kể từ ngày người bị vi phạm biết hoặc có nghĩa vụ phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, trừ trường hợp bất khả kháng. Không tính vào thời hiệu khởi kiện thời gian tính từ ngày xảy ra sự kiện bất khả kháng cho đến khi không còn sự kiện bất khả kháng theo quy định của Bộ Luật dân sự.

Điều 29. Phí trọng tài (sửa đổi)

1. Nguyên đơn phải nộp tạm ứng phí trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giải quyết vụ tranh chấp tại Tổ chức Trọng tài thì Ban điều hành Tổ chức Trọng tài ấn định phí trọng tài theo Điều lệ của Tổ chức. Trong trường hợp giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập thì phí trọng tài do Hội đồng Trọng tài ấn định.

3. Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc Hội đồng Trọng tài có quyết định khác về nghĩa vụ chịu chi phí trọng tài.

Điều 30. Địa điểm tiến hành trọng tài (sửa đổi)

Các bên có quyền thoả thuận địa điểm giải quyết vụ tranh chấp; nếu không có thoả thuận thì Hội đồng Trọng tài quyết định.

Điều 31. Bản tự bảo vệ (sửa đổi)

1. Đối với vụ tranh chấp mà các bên đã chọn Tổ chức Trọng tài để giải quyết, nếu các bên không có thoả thuận thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Tổ chức Trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho Tổ chức Trọng tài bản tự bảo vệ.

2. Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, nếu các bên không có thoả thuận thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Luật này, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bảo vệ và tên trọng tài viên mà mình chọn.

3. Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung chủ yếu sau đây:

a. Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;

b. Tên và địa chỉ của bị đơn;

c. Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đó bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện của nguyên đơn.

4. Ngoài nội dung quy định tại điểm này, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài, không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong bản tự bảo vệ.

5. Theo yêu cầu của bị đơn, thời hạn bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn ba mươi ngày nhưng không quá 60 ngày, nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp theo quy định tại Điều 38 của Luật này.

CHƯƠNG VI:

THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI (MỚI)

Điều 32. Thành phần Hội đồng Trọng tài (mới)

1. Các bên tranh chấp có toàn quyền lựa chọn trọng tài viên để giải quyết tranh chấp của họ.

2. Thành phần Hội đồng Trọng tài do các bên lựa chọn. Trong trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn một trọng tài viên duy nhất thì Trọng tài viên duy nhất đó làm nhiệm vụ như một Hội đồng Trọng tài.

Điều 33. Thành lập Hội đồng Trọng tài tại Tổ chức Trọng tài (sửa đổi)

1. Trường hợp các bên không có thoả thuận khác, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện hợp lệ, Tổ chức Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và các tài liệu kèm theo cùng với danh sách các trọng tài viên. Nếu các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo do Tổ chức Trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn trọng tài viên cho mình và báo cho Tổ chức Trọng tài biết hoặc yêu cầu người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định trọng tài viên. Hết thời hạn kể trên, nếu bị đơn không chọn trọng tài viên hoặc không yêu cầu người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định trọng tài viên, trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn quy định tại khoản 1 này, người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định trọng tài viên có tên trong danh sách trọng tài viên của Tổ chức Trọng tài cho bị đơn.

2. Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn trọng tài viên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tổ chức Trọng tài về việc chọn trọng tài viên. Số lượng trọng tài viên do các bị đơn chọn phải bằng số lượng trọng tài viên do nguyên đơn chọn. Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được trọng tài viên, trong thời hạn bảy ngày làm việc, người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định trọng tài viên có tên trong Danh sách trọng tài viên của Tổ chức Trọng tài cho các bị đơn.

3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày các trọng tài viên được các bên chọn hoặc được người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định, các trọng tài viên này chọn một trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn kể trên mà việc chọn này không thực hiện được, thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn, Chủ tịch Hội đồng Trọng tài sẽ do người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định.

4. Trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được trọng tài viên, thì theo yêu cầu của một bên và trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, trọng tài viên duy nhất sẽ do người đứng đầu Tổ chức Trọng tài chỉ định trọng tài viên duy nhất cho các bên.

Điều 34. Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập (sửa đổi)

1. Trường hợp các bên không có thoả thuận khác, trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết trọng tài viên mà mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên trọng tài viên mà mình chọn, nguyên đơn có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 điều 7 của Luật này chỉ định trọng tài viên cho bị đơn. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một Thẩm phán chỉ định trọng tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên.

2. Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn trọng tài viên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo. Số lượng trọng tài viên do các bị đơn chọn phải bằng số lượng trọng tài viên do nguyên đơn chọn. Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được trọng tài viên, trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án giao cho một Thẩm phán chỉ định trọng tài viên theo yêu cầu của nguyên đơn và thông báo cho các bên.

3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày các trọng tài viên được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định, các trọng tài viên này chọn một trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn kể trên mà việc chọn này không thực hiện được, thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án theo quy định tại điều 7 của Luật này giao cho một Thẩm phán chỉ định trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài và thông báo cho các bên.

4. Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết, nhưng không chọn được trọng tài viên thì theo yêu cầu của một bên, Chánh án Toà án theo quy định tại khoản 1 điều 7 của Luật này giao cho một Thẩm phán chỉ định trọng tài viên cho các bên trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên.

Điều 35. Thay đổi Trọng tài viên (sửa đổi)

1. Trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong các trường hợp sau đây:

a. Trọng tài viên là người thân thích của một bên hoặc đại diện của bên đó;

b. Trọng tài viên có lợi ích trong vụ tranh chấp;

c. Có căn cứ rõ ràng cho thấy trọng tài viên không vô tư, khách quan.

2. Khi được chọn hoặc được chỉ định và trong quá trình tố tụng trọng tài, trọng tài viên phải thông báo công khai và kịp thời những tình tiết có thể ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư của mình.

3. Việc thay đổi trọng tài viên do các trọng tài viên trong thành phần Hội đồng Trọng tài quyết định. Trong trường hợp không quyết định được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất tự từ chối giải quyết vụ tranh chấp, việc thay đổi trọng tài viên được quy định như sau:

a. Đối với vụ tranh chấp do Tổ chức Trọng tài giải quyết, người đứng đầu Tổ chức Trọng tài quyết định về việc thay đổi trọng tài viên;

b. Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng Trọng tài được các bên thành lập giải quyết, theo yêu cầu của một bên, Chánh án Toà án cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 điều 7 của Luật này giao cho một Thẩm phán quyết định. Quyết định của Toà án là chung thẩm.

4. Trong quá trình tố tụng trọng tài, nếu có Trọng tài viên không thể tiếp tục tham gia thì việc thay đổi Trọng tài viên sẽ được tiến hành theo thủ tục quy định tại các điều 27, điều 33 hoặc điều 34 của Luật này.

5. Trường hợp cần thiết, sau khi tham khảo ý kiến của các bên, Hội đồng Trọng tài mới thành lập có thể xem xét lại những vấn đề đã được đưa ra tại các phiên họp giải quyết tranh chấp trước.

Điều 36. Sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện (sửa đổi)

Nguyên đơn có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc rút đơn kiện trước khi Hội đồng Trọng tài ra phán quyết trọng tài.

Điều 37. Đơn kiện lại (sửa đổi)

1. Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn.

2. Đơn kiện lại phải được gửi cho Hội đồng Trọng tài, đồng thời được gửi cho nguyên đơn trước ngày mở phiên họp của Hội đồng Trọng tài giải quyết đơn kiện của nguyên đơn.

3. Nguyên đơn phải có bản trả lời đơn kiện lại trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện lại. Bản trả lời phải được gửi cho bị đơn và Hội đồng Trọng tài.

4. Thủ tục giải quyết Đơn kiện lại được tiến hành như thủ tục giải quyết Đơn kiện của Nguyên đơn và do chính Hội đồng Trọng tài giải quyết Đơn kiện của Nguyên đơn giải quyết đồng thời với Đơn kiện của Nguyên đơn.

CHƯƠNG VII

THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI (MỚI)

Điều 38. Phạm vi thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài (sửa đổi)

1. Hội đồng trọng tài có thể tự xem xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình, xem xét khiếu nại liên quan đến thỏa thuận trọng tài hoặc giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài.

2. Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu có khiếu nại của một bên về việc: Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền; vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu, thì Hội đồng Trọng tài có trách nhiệm xem xét, quyết định những vấn đề trên.

3. Đơn khiếu nại về việc Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền sẽ phải đưa ra không muộn hơn với việc nộp bản tự bảo vệ. Không thể ngăn cản bên đưa ra đơn khiếu nại này chỉ vì đã chỉ định trọng tài viên hoặc tham gia việc chỉ định trọng tài viên. Khiếu nại về việc Hội đồng Trọng tài vượt quá phạm vi thẩm quyền phải được đưa ra ngay khi phát hiện sự kiện được cho là vượt quá thẩm quyền. Trong những trường hợp này, Hội đồng trọng tài có thể chấp nhận khiếu nại nếu thấy hợp lý.

4. Hội đồng trọng tài có thể quyết định về đơn yêu cầu chỉ ra ở khoản 3 của điều này như là vấn đề mở đầu hoặc giải quyết tại quyết định về nội dung tranh chấp. Nếu Hội đồng trọng tài giải quyết như là một vấn đề mở đầu đồng thời cũng là Hội đồng có thẩm quyền xét xử, thì bất kỳ bên nào cũng có thể, trong vòng 30 ngày sau khi nhận được thông báo về quyết định này, đề nghị toà án được xác định tại khoản 1 điều 7 của Luật này quyết định vấn đề này. Quyết định của tòa án trong trường hợp này là chung thẩm.

5. Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng Trọng tài về nội dung nêu tại khoản 2 Điều này, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng Trọng tài, các bên có quyền yêu cầu Toà án cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 điều 7 của Luật này nơi Hội đồng Trọng tài đã ra quyết định xem xét lại quyết định của Hội đồng Trọng tài. Bên có yêu cầu phải đồng thời thông báo việc này cho Hội đồng Trọng tài.

6. Đơn yêu cầu phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

a. Ngày, tháng, năm viết đơn;

b. Tên và địa chỉ của bên yêu cầu;

c. Nội dung yêu cầu.

7. Đơn yêu cầu phải kèm theo các bản sao đơn kiện, thoả thuận trọng tài, quyết định của Hội đồng Trọng tài. Các bản sao phải có chứng thực hợp lệ.

8. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một Thẩm phán xem xét, giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày được giao, Thẩm phán phải xem xét, quyết định. Quyết định của Toà án trong trường hợp này là chung thẩm.

9. Trong trường hợp Toà án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì Hội đồng Trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp. Nếu không có thoả thuận khác, các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra Toà án. Thời hiệu khởi kiện ra Toà án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng không tính thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài đến ngày Toà án ra quyết định quy định tại Điều này.

  10. Trong khi tòa án giải quyết yêu cầu về thẩm quyền của trọng tài theo quy định tại điều này, Hội đồng Trọng tài vẫn tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp.

Điều 39. Thẩm quyền xác minh sự việc của Hội đồng Trọng tài (giữ nguyên)

Sau khi được chọn hoặc được chỉ định, Hội đồng Trọng tài có quyền gặp các bên để nghe các bên trình bày ý kiến. Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên hoặc theo sáng kiến của mình, Hội đồng Trọng tài có thể tìm hiểu sự việc từ người thứ ba, với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã thông báo cho các bên.

Điều 40. Thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài về chứng cứ (giữ nguyên)

1. Theo yêu cầu của các bên, Hội đồng Trọng tài trưng cầu giám định hoặc kết luận chuyên gia và thông báo cho các bên biết. Tạm ứng phí giám định và chi phí chuyên gia thuộc về trách nhiệm của bên yêu cầu.

2. Các bên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh sự việc liên quan đến tranh chấp. Hội đồng Trọng tài có quyền yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp.

CHƯƠNG VIII

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN LIEN QUAN ĐẾN TỐ TỤNG TRỌNG TÀI (MỚI)

Điều 41: Hỗ trợ của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ (mới)

1. Khi có yêu cầu của một bên về việc thu thập chứng cứ hoặc nếu thấy cấn thiết, Hội đồng Trọng tài có thể yêu cầu toà án có thẩm quyền theo quy định của Điều 7 của Luật này hỗ trợ trong việc thu thập chứng cứ.

2. Tòa án có trách nhiệm tiến hành việc thu thập chứng cứ tuân thủ theo trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 43. Đảm bảo sự có mặt của người làm chứng (mới)

Khi có yêu cầu của một bên về việc triệu tập người làm chứng, hoặc nếu xét thấy cần thiết, Hội đồng Trọng tài có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Điều 7 của Luật này hỗ trợ để bảo đảm sự có mặt của người làm chứng.

Điều 42. Hỗ trợ của Toà án Việt Nam đối với trọng tài nước ngoài (mới)

Toà án Việt Nam có thể hỗ trợ trọng tài nước ngoài trong việc thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dựa trên các quy định của Luật Tương trợ tư pháp.

Điều 43. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (sửa đổi)

Trước hoặc sau khi khởi kiện tại trọng tài, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp tỉnh có thẩm quyền được xác định theo điều 7 của Luật này yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tòa án tiến hành áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo trình tự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 44. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (sửa đổi)

1. Bên có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Toà án cấp tỉnh có thẩm quyền được xác định theo điều 7 của Luật này hoặc nơi Hội đồng Trọng tài đã thụ lý vụ tranh chấp.

2. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi kèm theo bản sao đơn kiện có đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 27 và bản sao thoả thuận trọng tài theo quy định tại Điều 15 của Luật này. Các bản sao phải có chứng thực hợp lệ.

3. Tuỳ theo yêu cầu áp dụng loại biện pháp khẩn cấp tạm thời mà bên yêu cầu phải cung cấp cho Toà án bằng chứng cụ thể về các chứng cứ cần được bảo toàn, các chứng cứ về việc bị đơn tẩu tán, cất giấu tài sản có thể làm cho việc thi hành phán quyết trọng tài không thể thực hiện được.

4. Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp một khoản tiền bảo đảm hoặc một cam kết bảo lãnh tương đương do Toà án ấn định, nhưng không quá nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của bị đơn và ngăn ngừa sự lạm dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có yêu cầu.

5. Sau khi nhận được đơn yêu cầu và những tài liệu theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trong thời hạn tối đa ba ngày làm việc, Chánh án Toà án cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều này giao cho một Thẩm phán xem xét, giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn tối đa ba ngày làm việc, kể từ ngày được giao, Thẩm phán phải kiểm tra tính chính xác của những tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều này, trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn, có thể ra quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời.

6. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được gửi ngay cho Hội đồng Trọng tài và các bên tranh chấp. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành ngay. Việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 45. Thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (sửa đổi)

1. Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể làm đơn yêu cầu thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời khi không còn phù hợp hoặc không còn cần thiết.

2. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chánh án Toà án cấp tỉnh nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giao cho một Thẩm phán xem xét, quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quyết định này phải được gửi ngay cho Hội đồng Trọng tài và các bên tranh chấp.

3. Trong trường hợp huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán phải xem xét quyết định để người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhận lại số tiền bảo đảm quy định tại khoản 4 Điều 44 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 47 của Luật này.

Điều 46: Trách nhiệm của tòa án trong việc không cho áp dụng hoặc áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời (mới)

Trách nhiệm của Tòa án trong việc không áp dụng hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng được áp dụng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 47. Trách nhiệm của bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (sửa đổi)

1. Bên yêu cầp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình.

2. Trong trường hợp bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại cho bên kia, cho người thứ ba thì phải bồi thường theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

CHƯƠNG IX
PHIÊN HỌP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP(SỬA ĐỔI)

Điều 48 Chuẩn bị phiên họp giải quyết (giữ nguyên)

1. Thời gian mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp do Chủ tịch Hội đồng Trọng tài quyết định, nếu các bên không có thoả thuận khác.

2. Giấy triệu tập tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp phải được gửi cho các bên chậm nhất ba mươi ngày trước ngày mở phiên họp, nếu các bên không có thoả thuận khác.

3. Phiên họp giải quyết vụ tranh chấp không công khai. Trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng Trọng tài có thể cho phép những người khác tham dự phiên họp.

Điều 49. Tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp (giữ nguyên)

Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Các bên có quyền mời người làm chứng, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Điều 50. Việc vắng mặt của các bên (sửa đổi)

1. Nguyên đơn đã được triệu tập tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp mà không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng Trọng tài đồng ý thì được coi là đã rút đơn kiện. Trong trường hợp này, Hội đồng Trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp nếu bị đơn yêu cầu hoặc có đơn kiện lại theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

2. Bị đơn đã được triệu tập tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp mà không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng Trọng tài đồng ý thì Hội đồng Trọng tài vẫn tiến hành giải quyết vụ tranh chấp căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có.

3. Trong trường hợp các bên yêu cầu, Hội đồng Trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để giải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt.

Điều 51. Hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp (sửa đổi)

1. Trường hợp có lý do chính đáng, các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Yêu cầu hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp phải được lập bằng văn bản và nêu rõ lý do kèm theo bằng chứng. Yêu cầu này phải được Hội đồng Trọng tài nhận được chậm nhất là bảy (07) ngày làm việc trước ngày mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Nếu chậm gửi yêu cầu theo thời hạn nói trên, bên yêu cầu hoãn phải chịu mọi chi phí phát sinh. Hội đồng Trọng tài xem xét, quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu hoãn và thông báo kịp thời cho các bên.

2. Nếu xét thấy chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ tranh chấp, Hội đồng Trọng tài phải hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp và thông báo kịp thời cho các bên.

Điều 52. Biên bản phiên họp giải quyết vụ tranh chấp (giữ nguyên)

1. Biên bản phiên họp giải quyết vụ tranh chấp do Hội đồng Trọng tài lập, có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng Trọng tài.

2. Các bên có quyền tìm hiểu nội dung biên bản, yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản. Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu sửa chữa, bổ sung của các bên, Hội đồng Trọng tài phải ghi vào biên bản.

Điều 53 Hoà giải (sửa đổi)

1. Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có thể tự hoà giải. Trong trường hợp hoà giải thành thì theo yêu cầu của các bên, Hội đồng Trọng tài sẽ đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp. Trường hợp Hội đồng Trọng tài chưa được thành lập, người đứng đầu Tổ chức Trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp.

2. Các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài tiến hành hoà giải. Trong trường hợp hoà giải thành thì các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận hoà giải thành. Biên bản hoà giải thành phải được các bên và các trọng tài viên ký. Quyết định công nhận hoà giải thành của Hội đồng Trọng tài là chung thẩm và được thi hành theo quy định tại Điều 67 của Luật này.

Điều 54. Đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp (sửa đổi)

Hội đồng Trọng tài đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn rút đơn kiện hoặc được coi là đã rút đơn kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này, trừ trường hợp bị đơn yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp;

2. Các bên thoả thuận chấm dứt việc giải quyết vụ tranh chấp.

CHƯƠNG X

PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

Điều 55. Nguyên tắc ra phán quyết (sửa đổi)

1. Phán quyết của Hội đồng Trọng tài được lập theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp vụ tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết. Ý kiến của thiểu số được ghi vào biên bản phiên họp.

2. Trong trường hợp không đạt được đa số, quyết định của Hội đồng Trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài.

Điều 56. Nội dung phán quyết trọng tài (sửa đổi)

1. Phán quyết của Hội đồng Trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a. Ngày, tháng, năm và địa điểm ra phán quyết;

b. Tên, địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn;

c. Họ, tên các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất;

d. Tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp, trừ khi các bên có thỏa thuận khác;

e. Cơ sở để ra phán quyết, trừ khi các bên có thỏa thuận khác;

g. Phán quyết về kết quả giải quyết tranh chấp;

h. Thời hạn thi hành phán quyết;

i. Chữ ký của các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất.

3. Khi có trọng tài viên không ký vào phán quyết trọng tài, Chủ tịch Hội đồng Trọng tài phải ghi việc này trong phán quyết trọng tài và nêu rõ lý do. Trong trường hợp này phán quyết của Hội đồng Trọng tài vẫn có hiệu lực.

4. Phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày công bố.

Điều 57. Công bố phán quyết trọng tài (sửa đổi)

1. Phán quyết trọng tài có thể được công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc sau đó, nhưng chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng. Toàn văn phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày công bố.

2. Theo yêu cầu của các bên, Tổ chức Trọng tài hoặc Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập cấp cho bên có yêu cầu bản sao phán quyết trọng tài.

Điều 58. Sửa chữa phán quyết trọng tài (sửa đổi)

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, một bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài sửa chữa những lỗi về tính toán hoặc những lỗi kỹ thuật khác. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Hội đồng Trọng tài tiến hành sửa chữa và phải thông báo cho các bên.

2. Quyết định sửa chữa phải được Hội đồng Trọng tài ký và là một phần của phán quyết trọng tài.

Điều 59. Lưu trữ hồ sơ trọng tài (sửa đổi)

1. Hồ sơ vụ tranh chấp tại Tổ chức Trọng tài được lưu trữ tại Tổ chức Trọng tài đó. Hồ sơ vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập được lưu trữ tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 điều 7 của Luật này.

2. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày công bố phán quyết trọng tài hoặc biên bản hoà giải, Hội đồng Trọng tài phải gửi phán quyết trọng tài, biên bản hoà giải kèm theo hồ sơ giải quyết vụ tranh chấp cho Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài ra phán quyết trọng tài hoặc lập biên bản hoà giải để lưu trữ.

CHƯƠNG XI

BÁC PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI (MỚI)

Điều 60. Căn cứ để bác phán quyết trọng tài (sửa đổi)

Toà án ra quyết định bác phán quyết trọng tài nếu bên yêu cầu chứng minh được Hội đồng Trọng tài đã ra phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Không có thoả thuận trọng tài;

2. Thoả thuận trọng tài vô hiệu;

3. Thành phần Hội đồng Trọng tài, tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên theo quy định của Luật này;

4. Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài; trong trường hợp phán quyết trọng tài có một phần không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài thì phần phán quyết này bị bác; trừ trường hợp đã có quyết định theo Điều 38 của Luật này.

5. Phán quyết trọng tài trái với lợi ích công cộng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 61. Quyền yêu cầu bác phán quyết trọng tài (sửa đổi)

1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng Trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại điều 60 của Luật này, có quyền làm đơn gửi Toà án theo quy định tại khoản 1 điều 7 của Luật này, để yêu cầu bác phán quyết trọng tài.

2. Thời hạn này cũng áp dụng cho các quyết định sửa chữa, giải thích hoặc bổ sung phán quyết trọng tài theo Điều 58 của Luật này.

3. Trường hợp gửi đơn quá hạn vì có sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu bác phán quyết trọng tài.

Điều 62. Đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài (sửa đổi)

1. Đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a. Ngày, tháng, năm viết đơn;

b. Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu bác phán quyết trọng tài;

c. Lý do yêu cầu bác phán quyết trọng tài.

2. Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau đây:

a. Bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ;

b. Bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.

3. Giấy tờ kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được chứng thực hợp lệ.

Điều 63. Thụ lý hồ sơ (sửa đổi)

1. Sau khi nhận đủ các giấy tờ quy định tại Điều 62 của Luật này, Toà án thông báo ngay cho bên yêu cầu phải nộp lệ phí. Toà án thụ lý kể từ ngày bên có yêu cầu nộp lệ phí.

2. Toà án có quyền yêu cầu bên nộp đơn giải thích những điều chưa rõ trong đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài.

Điều 64. Toà án xét đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài (sửa đổi)

1. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài, Toà án phải thông báo cho Tổ chức Trọng tài hoặc Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, các bên tranh chấp. Trong trường hợp vụ tranh chấp do Tổ chức Trọng tài tổ chức giải quyết thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, Tổ chức Trọng tài phải sao chụp và chuyển cho Toà án đơn khởi kiện của nguyên đơn, bản tự bảo vệ hay đơn khởi kiện lại của bị đơn (nếu có), biên bản phiên họp, phán quyết trọng tài.

2. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý, Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ toạ và mở phiên toà để xét đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài.

3. Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp. Trường hợp một trong các bên yêu cầu Toà án xét đơn vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng xét xử đồng ý thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài.

4. Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét lại nội dung vụ tranh chấp mà chỉ kiểm tra giấy tờ theo quy định tại Điều 62 của Luật này, đối chiếu phán quyết trọng tài với những quy định tại Điều 60 của Luật này để ra quyết định.

5. Sau khi xem xét đơn, giấy tờ kèm theo, chứng cứ (nếu có), nghe ý kiến của những người được triệu tập, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định theo đa số.

6. Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định bác hoặc không bác phán quyết trọng tài; đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, nếu người nộp đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài rút đơn hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng xét xử đồng ý.

7. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải gửi bản sao quyết định cho các bên, Tổ chức Trọng tài hoặc Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập.

8. Tòa án khi được yêu cầu bác phán quyết trọng tài, theo yêu cầu của một bên, có thể xem xét tạm đình chỉ trình tự bác phán quyết trọng tài trong một thời gian do tòa quyết định, song tối đa không quá 01 tháng để hội đồng trọng tài tiến hành tiến hành các hoạt động cần thiết theo ý kiến của Hội đồng trọng tài nhằm loại trừ cơ sở để bác phán quyết trọng tài. Nếu các bên đồng ý với các quyết định sửa chữa, điều chỉnh của hội đồng trọng tài, tòa án ra quyết định đình chỉ trình tự bác phán quyết trọng tài.

9. Trong trường hợp Hội đồng xét xử bác phán quyết trọng tài, nếu không có thoả thuận khác thì các bên có quyền đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Toà án trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật dân sự.

10. Trong trường hợp Hội đồng xét xử không bác phán quyết trọng tài thì phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Điều 65. Kháng cáo quyết định của Toà án (sửa đổi)

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định theo quy định tại Điều 64 của Luật này, các bên có quyền kháng cáo.

2. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu của kháng cáo. Đơn kháng cáo phải gửi cho Toà án đã ra quyết định. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Toà án thông báo ngay cho bên kháng cáo nộp lệ phí kháng cáo.

3. Trong trường hợp có bên không có mặt tại phiên toà sơ thẩm thì thời hạn kháng cáo quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày bản sao quyết định được giao cho bên vắng mặt; nếu kháng cáo quá hạn vì có sự kiện bất khả kháng, thì thời hạn được tính từ ngày không còn sự kiện bất khả kháng.

4. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được nhận đơn kháng cáo và người kháng cáo đã nộp lệ phí kháng cáo, Toà án đã ra quyết định phải chuyển hồ sơ lên Toà án nhân dân tối cao.

Điều 66. Xét kháng cáo (sửa đổi)

1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo, Toà án nhân dân tối cao phải mở phiên toà xem xét, quyết định. Nếu cần phải yêu cầu người kháng cáo giải thích những nội dung kháng cáo thì thời hạn mở phiên toà được kéo dài thêm nhưng không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo.

2. Thành phần Hội đồng xét kháng cáo gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ tọa do Toà án nhân dân tối cao chỉ định.

3. Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp.

4. Trong trường hợp bên không kháng cáo yêu cầu Toà án xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng xét xử đồng ý thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

5. Sau khi xem xét đơn kháng cáo tài liệu kèm theo, chứng cứ (nếu có), nghe ý kiến của các bên được triệu tập, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định theo đa số.

6. Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Toà án cấp sơ thẩm; đình chỉ việc xét kháng cáo trong trường hợp bên kháng cáo rút kháng cáo hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng xét xử đồng ý.

7. Quyết định của Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

CHƯƠNG XII

THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI (MỚI)

Điều 67. Hiệu lực của phán quyết trọng tài (sửa đổi)

1. Phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày công bố, phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện.

2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thi hành phán quyết trọng tài phải nghiêm chỉnh thi hành và hỗ trợ thực hiện.

3. Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 68. Thi hành phán quyết trọng tài (sửa đổi)

Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu bác phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 62 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành phán quyết trọng tài.

Điều 69. Lệ phí toà án liên quan đến trọng tài (sửa đổi)

Lệ phí về yêu cầu Toà án chỉ định Trọng tài viên, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, yêu cầu bác phán quyết trọng tài, kháng cáo quyết định của Toà án và những lệ phí khác do Chính phủ quy định.

CHƯƠNG XIII
NHỮNG QUY ĐỊNH KHÁC (MỚI)

Điều 70: Mất quyền từ chối (mới)

1. Khi một bên biết rằng các quy định tố tụng trọng tài theo quy định của Luật này hoặc quy định của thỏa thuận trọng tài về các vấn đề sau đây:

(a) Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền xét xử;

(b) Thủ tục tố tụng đã không được tiến hành đúng qui định;

(c) Có sự không tuân thủ thoả thuận trọng tài;

(d) Đã có vi phạm khác ảnh hưởng đến Hội đồng Trọng tài hoặc ảnh hưởng đến quá trình tố tụng;

đã không được tuân thủ nhưng vẫn tham gia quá trình tố tụng mà không phản đối được xác định tại thỏa thuận trọng tài hoặc do Hội đồng Trọng tài ấn định, thì sẽ xem như đã từ chối quyền tố tụng của mình tại Hội đồng Trọng tài hoặc trước tòa án.

Điều 71. Quản lý nhà nước về trọng tài (giữ nguyên)

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trọng tài.

2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về trọng tài.

3. Bộ Tư pháp phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam trong việc quản lý nhà nước về trọng tài.

CHƯƠNG XIV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH (SỬA ĐỔI)

Điều 72. Áp dụng Luật đối với các tổ chức trọng tài được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực (sửa đổi)

1. Các Tổ chức Trọng tài được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực không phải làm thủ tục thành lập lại. Các Tổ chức này phải sửa đổi, bổ sung Điều lệ, Quy tắc tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của Luật này trong thời hạn mười hai tháng, kể từ ngày Luật này có hiệu lực. Hết thời hạn này mà các Tổ chức Trọng tài không sửa đổi, bổ sung Điều lệ và Quy tắc tố tụng thì phải chấm dứt hoạt động.

2. Các thoả thuận trọng tài được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực được thực hiện theo các quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm ký thoả thuận trọng tài, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 73. Hiệu lực thi hành (sửa đổi)

1. Luật này có hiệu lực kể từ ngày …

2. Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 hết hiệu lực kể từ ngày …

Điều 74. Điều khoản thi hành (sửa đổi)

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các nội dung đã được ủy quyền chi tiết trong Luật này.

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: