QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

1. Tổng quan

Đăng ký quyền: nhu cầu khách quan đối với việc thực hiện quyền trong cuộc sống dân sự

Việc thực hiện một quyền trong xã hội có tổ chức chỉ được thuận lợi khi tất cả thành viên xã hội tôn trọng quyền đó. Muốn quyền được tôn trọng, điều kiện tiên quyết là quyền phải được xã hội biết đến. Trong một xã hội mà chủ thể được tôn vinh, thì người có quyền không phải cất công đi gặp và “rao” cho từng thành viên khác của xã hội về sự tồn tại của quyền, mà chỉ cần thực hiện một động tác mang tính chất công bố quyền với toàn xã hội; trái lại, tất cả các thành viên khác, nếu có quan tâm đến quyền đó, thì có trách nhiệm chủ động tìm hiểu về sự tồn tại của nó.

Hệ thống đăng ký quyền được lập ra như là giải pháp cho bài toán tạo điều kiện thuận lợi cho ứng xử của các chủ thể trong quan hệ xã hội theo các yêu cầu đó. Được phát minh bởi người Hy Lạp và thoạt tiên chỉ dùng để đăng ký quyền thế chấp bất động sản[1], chế định đăng ký tài sản trải qua những giai đoạn thăng trầm, trước khi có những bước phát triển nhảy vọt liên tục trong các hệ thống pháp lý phương Tây, từ giai đoạn cận đại cho đến nay. Đăng ký tài sản trong luật hiện đại có đối tượng không chỉ là các quyền bất động sản mà còn cả các quyền động sản, không chỉ quyền tài sản hữu hình mà cả quyền tài sản vô hình.

Tư tưởng chủ đạo là: xã hội cần đạt được quy ước về việc định vị một nơi mà ở đó sự hiện hữu pháp lý của quyền tài sản được ghi nhận và có thể được toàn xã hội nhận biết. Một mặt, người có quyền có thể đến đó để khai báo về quyền của mình; mặt khác, bất kỳ người nào tò mò về sự tồn tại của các quyền đối với một tài sản có thể đến đúng nơi ấy, truy lục các ghi chép về các lời khai, để tìm thông tin về các quyền đó. Thông tin về quyền để bảo vệ quyền, đó là mục tiêu tối hậu của tất cá các hệ thống đăng ký[2].

Đăng ký bất động sản: Nhu cầu khách quan về xác nhận quyền của người không nắm giữ tài sản có giá trị lớn về phương diện vật chất

Khác với động sản, bất động sản không thể lưu thông bằng cách chuyển giao vật chất từ tay người này sang tay người khác. Bất động sản, về bản chất, là loại tài sản cố định trong không gian vật lý; bởi vậy, mỗi khi quyền về bất động sản được chuyển giao, thì chính chủ thể của quyền, muốn chiếm giữ tài sản về mặt vật chất, phải di chuyển đến nơi tài sản toạ lạc. Trên thực tế, rất nhiều người có quyền có nhu cầu ghi nhận quyền của mình đối với tài sản, để quyền đó được bảo vệ, nhưng lại không có nhu cầu chiếm giữ tài sản ở góc độ vật chất. Việc đăng ký bất động sản có tác dụng giải quyết thấu đáo vấn đề này: một khi được đăng ký, quyền đối với bất động sản được xã hội biết đến và tôn trọng, trong khi người có quyền đó có thể không cần xuất hiện ở nơi có bất động sản trong tư thế của người có quyền.

Là tài sản cố định trong không gian, bất động sản của một người luôn tiếp cận với các bất động sản lân cận thuộc về những người khác. Các vấn đề quan hệ láng giềng liên quan đến việc thực hiện quyền đối với tài sản, như ranh giới, xây dựng, trồng cây, địa dịch… là những vấn đề tế nhị, nhạy cảm. Việc đăng ký bất động sản, có tác dụng làm rõ tình trạng quan hệ của một bất động sản trong cộng đồng láng giềng, cũng sẽ giúp giải quyết tốt các vấn đề này, đặc biệt là trong trường hợp có xung đột giữa các chủ sở hữu.

Vả lại, cho dù sự phát triển theo hướng đa dạng hoá của các động sản, nhất là trong cuộc sống đương đại, bất động sản vẫn được coi là tài sản quan trọng nhất trong một sản nghiệp điển hình. Trong điều kiện hệ thống đăng ký được coi là công cụ bảo vệ quyền đối với tài sản trong cuộc sống dân sự, đăng ký bất động sản là công cụ bảo vệ có hiệu quả đối với các quyền liên quan đến những tài sản quan trọng nhất của chủ thể.

Vai trò của Nhà nước đối với việc đăng ký bất động sản

Về mặt lý thuyết, bất kỳ định chế, chủ thể nào cũng có năng lực thực hiện dịch vụ quản lý và cung ứng thông tin về quyền đối với các tài sản, nói riêng, đối với các bất động sản. Tuy nhiên, việc để cho nhà chức trách công đảm nhận thực hiện dịch vụ này tỏ ra hợp lý vì nhiều lý do.

Trước hết, so với các chủ thể khác, nhà chức trách công có nhiều lợi thế hơn trong việc đảm nhận vai trò người thứ ba vô tư và khách quan. Về mặt lý thuyết, nhà chức trách công là người đứng ngoài cuộc đối với các xung đột, tranh chấp giữa các tư nhân về quyền liên quan đến tài sản. Không bị lợi ích riêng tư tác động, nhà chức trách có điều kiện thực hiện công việc một cách chính xác và kết quả công việc có thể đặt cơ sở vững chắc cho việc giải quyết xung đột, tranh chấp giữa những người tự cho là có quyền đối với một tài sản nào đó.

Hơn nữa, cũng so với các chủ thể khác, nhà chức trách công có thế mạnh của người làm chủ một hệ thống cơ sở vật chất dồi dào và có bộ máy quản lý trải rộng trên toàn lãnh thổ quốc gia. Việc liên kết giữa các đơn vị đăng ký bất động sản có thể được thực hiện một cách thuận lợi và dễ dàng trong khuôn khổ vận hành của bộ máy hành chính công. Điều đó rất cần thiết cho việc thiết lập một hệ thống đăng ký bất động sản thống nhất trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông quyền đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác trong những điều kiện an toàn nhất và có tác dụng ngăn ngừa các tranh chấp đáng tiếc.

Nhà chức trách công còn là người chịu trách nhiệm chính trong việc giữ gìn trật tự công cộng trên phạm vi lãnh thổ và tổ chức cuộc sống xã hội trong khuôn khổ các chuẩn mực được thừa nhận rộng rãi. Tổ chức và quản lý việc đăng ký bất động sản, suy cho cùng, có thể được coi là việc thực hiện một phần chức năng đó, là một trong các dịch vụ công mà nhà chức trách có trách nhiệm cung ứng cho toàn xã hội, nhằm bảo đảm sự ứng xử thống nhất theo khuôn mẫu chung trong quá trình thực hiện các quyền của chủ thể đối với tài sản trong cuộc sống dân sự.

2. Thực trạng hệ thống đăng ký bất động sản ở Việt Nam

Trong khuôn khổ xã hội hành chính hoá, các bộ luôn có xu hướng mở rộng, tăng cường các hoạt động quản lý thuộc lĩnh vực phụ trách của mình và không muốn chia sẻ quyền năng với bộ nào khác.

Trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân và các chủ thể được Nhà nước, đại diện chủ sở hữu, giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng, sự ra đời của một cơ quan thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với việc khai thác quỹ đất là tất yếu. Việc cơ quan này đảm nhận chức năng đăng ký quyền sử dụng đất và các quyền đối vật bất động sản khác có đối tượng là đất, hoàn toàn phù hợp với logic của hệ thống đang vận hành.

Tuy nhiên, trong khung cảnh pháp luật tài sản hiện hành, giữa quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền đất không có mối quan hệ vật chính vật phụ theo quy tắc superficies solo cedit nổi tiếng của luật La Mã[3]. Điều này khiến cho việc quản lý các tài sản gắn với đất mà thuộc về một cơ quan nào đó không phải là cơ quan quản lý đất đai, có xu hướng tách ra khỏi hệ thống quản lý đất đai để trở thành một hệ thống quản lý độc lập.

Điển hình là trường hợp quản lý nhà nước về nhà ở. Trong khung cảnh của luật thực định, nhà ở là loại bất động sản thuộc chức năng quản lý của Bộ Xây dựng (Luật Nhà ở). Bắt đầu bằng việc quản lý nhà nước sự đối với ra đời của tài sản, thông qua chế độ pháp lý về giấy phép xây dựng, Bộ Xây dựng dần dần quan tâm đến khía cạnh dân sự của cuộc sống pháp lý của tài sản và can thiệp vào đó, từ việc đăng ký quyền sở hữu đến chuyển nhượng, thế chấp, để thừa kế…

Có thể thấy trong phần lớn trường hợp, người đứng ra xây dựng cũng đồng thời là chủ sở hữu công trình được xây dựng. Tuy nhiên, ngay cả trong điều kiện đó, việc thừa nhận cho Bộ Xây dựng quản lý luôn cuộc sống dân sự của nhà ở, vẫn là điều không bình thường, bởi suy cho cùng, Bộ Xây dựng chỉ là cơ quan quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng, kiến trúc trên phạm vi lãnh thổ quốc gia[4]. Cơ quan quản lý xây dựng không tạo ra quyền sở hữu nhà ở như cơ quan quản lý đất đai tạo ra quyền sử dụng đất; do đó, cơ quan quản lý xây dựng không thể có điều kiện thẩm tra tư cách chủ sở hữu đối với công trình xây dựng, như cơ quan quản lý đất đai có điều kiện thẩm tra tư cách người có quyền sử dụng đối với đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê.

Tóm lại, xã hội hành chính hoá kết hợp với sự phủ nhận nguyên tắc superficies solo cedit tạo thành tác nhân chính dẫn tới sự hình thành một hệ thống đăng ký bất động sản manh mún, cả về phương diện tổ chức đăng ký và về việc xác định ý nghĩa pháp lý của việc đăng ký.

2.1. Manh mún trong việc tổ chức đăng ký

2.1.1. Luật so sánh

Hệ thống đăng ký thống nhất

Dù chấp nhận hay không quy tắc superficies solo cedit, ở các nước tiền tiến chỉ thiết lập một hệ thống đăng ký quyền đối với bất động sản. Lý do chủ yếu là các quyền đối với đất và các quyền đối với các tài sản gắn liền với đất luôn có mối liên hệ gắn bó. Đặc biệt, trong trường hợp một người chỉ có quyền sở hữu nhà mà không có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với đất có nhà, thì chắc chắn, để thực hiện được quyền sở hữu đối với nhà, người này cần thiết lập các địa dịch (servitudes) đối với đất có nhà. Nếu thiết lập hai hệ thống đăng ký riêng biệt, cho đất và cho nhà, thì sẽ phát sinh rắc rối liên quan đến việc đăng ký địa dịch trong trường hợp này, như sẽ thấy sau đây.

2.1.2. Luật Việt Nam: hai hệ thống đăng ký độc lập

Hệ thống đăng ký quyền đối với đất

Trong khung cảnh của luật hiện hành, hệ thống quản lý đất đai được tổ chức theo khuôn mẫu quản lý hành chính công. Bộ Tài nguyên và Môi trường được xác định là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao nhất, có các cơ quan thuộc quyền, theo thứ tự tôn ti, là Sở Tài nguyên và Môi trường ở cấp tỉnh và Phòng Tài nguyên và Môi trường ở cấp huyện.

Thẩm quyền đăng ký được xác định tuỳ theo người đăng ký quyền sử dụng đất là pháp nhân hay cá nhân[5]: pháp nhân đăng ký ở cấp tỉnh, còn cá nhân, trừ người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không mua nhà ở gắn liền với đất ở, đăng ký ở cấp huyện.

Về nội dung, hệ thống đăng ký ghi nhận quyền sử dụng đất và quyền thế chấp đối với quyền sử dụng đất, nhưng không ghi nhận quyền đối vật khác có đối tượng là đất, đặc biệt là quyền sở hữu bề mặt (tức là quyền của người có quyền sở hữu đối với các tài sản gắn liền với đất mà không có quyền sử dụng đất) và địa dịch.

Hệ thống đăng ký quyền đối với nhà

Cũng theo đúng khuôn mẫu quản lý hành chính công, hệ thống đăng ký quyền sở hữu nhà ở được tổ chức ở các địa phương và cũng theo tôn ti trật tự Sở Xây dựng tại cấp tỉnh, cơ quan quản lý nhà ở tại cấp huyện (có tên gọi khác nhau tuỳ quy mô tổ chức của đơn vị hành chính cấp huyện). Việc đăng ký cũng được xác định dựa trên sự phân biệt giữa pháp nhân và cá nhân (Luật Nhà ở Điều 14). Bên cạnh đó, luật còn ghi nhận trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung giữa pháp nhân và cá nhân và giao việc đăng ký loại nhà ở này cho cấp tỉnh (cùng điều luật).

Hệ thống đăng ký nhà ở cũng chỉ chấp nhận đăng ký quyền sở hữu và quyền nhận thế chấp đối với nhà ở, không đăng ký các loại quyền đối vật khác có đối tượng là loại tài sản này. Đáng chú ý là Luật Nhà ở không ghi nhận trường hợp xác lập quyền sở hữu bằng cách góp vốn bằng nhà ở vào công ty; bởi vậy, một khi công ty xác lập quyền sở hữu nhà ở theo con đường này, thì không biết phải đăng ký như thế nào, nếu không áp dụng được tương tự pháp luật đối với các quy định của Luật áp dụng cho việc mua bán hoặc trao đổi tài sản.

2.1.3. Những bất hợp lý không thể khắc phục

Liên quan đến việc xác định nơi đăng ký

Không khó để chỉ ra một khuyết tật rất cơ bản của giải pháp đăng ký trong luật hiện hành: trong điều kiện cơ quan có thẩm quyền cấp chứng nhận được xác định tuỳ theo thân phận của chủ sở hữu, mỗi khi thân phận ấy thay đổi do hiệu lực của một vụ chuyển dịch, thì có khả năng cơ quan có thẩm quyền cấp chứng nhận cũng phải thay đổi. Chẳng hạn, nếu bất động sản thuộc về một cá nhân được chuyển cho một tổ chức, thì việc cấp chứng nhận quyền sở hữu (bao gồm cả việc đăng ký) phải được chuyển từ cấp huyện lên cấp tỉnh; ngược lại, khi một tổ chức chuyển quyền sở hữu bất động sản cho một cá nhân, thì việc đăng ký và cấp chứng nhận phải được chuyển từ cấp tỉnh xuống cấp huyện.

Vả lại, khó có thể giải thích một cách thấu đáo tại sao hệ thống cơ quan nghiệp vụ đăng ký lại được tổ chức theo mô hình cấp trên – cấp dưới và tại sao lại giao cho cấp tỉnh đăng ký cho những chủ thể loại này, cấp huyện đăng ký cho những chủ thể loại khác. Trong logic tổ chức bộ máy hành chính được chấp nhận ở Việt Nam từ bao nhiêu năm nay, thì đối với công việc có cùng tính chất, cấp trên được giao các công việc có quy mô và tầm quan trọng, tính chất phức tạp lớn hơn so với cấp dưới. Nếu theo logic đó, thì việc đăng ký quyền cho pháp nhân, người nước ngoài vượt quá khả năng đảm đương của cấp huyện. Nhưng tại sao lại như thế, thì chẳng ai nói được.

Suy cho cùng, sự phân cấp, dựa trên sự phân biệt giữa pháp nhân và cá nhân, trong việc thực hiện cùng một quyền dân sự, không phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể được thiết lập trong luật cơ bản. Sự phân cấp dựa trên sự phân biệt giữa người Việt Nam và người nước ngoài trong việc thực hiện cùng một quyền, về phần mình, sẽ không phù hợp với các yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong khung cảnh hội nhập và mở cửa.

Liên quan đến việc đăng ký các quyền đối vật bất động sản không phải là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà

Như đã biết, ngoại trừ quyền thế chấp, các hệ thống đăng ký bất động sản đang vận hành không đăng ký loại quyền gì khác không phải là quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở. Nếu chấp nhận các tiêu chí chung để hoàn thiện hệ thống luật về đăng ký bất động sản, thì hẳn sẽ có một lộ trình đưa các quyền đối vật và những ràng buộc đối với bất động sản (địa dịch pháp định, cấm chuyển nhượng, tình trạng cho thuê…) vào danh sách các đối tượng đăng ký. Dự thảo Luật Đăng ký bất động sản cũng đang được xây dựng theo hướng này.

Nói riêng về quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề. Về phương diện khoa học luật, đây được hiểu là mối quan hệ giữa hai bất động sản thuộc về hai chủ sở hữu khác nhau. Trong điều kiện địa dịch cần được đăng ký, thì việc đăng ký được thực hiện đối với cả hai bất động sản: một được đăng ký với tư cách bất động sản thụ hưởng và một được đăng ký dưới danh nghĩa bất động sản phục vụ.

Trong khuôn khổ hai hệ thống đăng ký đang vận hành, sẽ không có vấn đề gì nếu bất động sản thụ hưởng và bất động sản phục vụ thuộc về các chủ thể cùng loại: hai pháp nhân hoặc hai cá nhân. Trái lại, nếu một bất động sản thuộc về một pháp nhân, một bất động sản thuộc về một cá nhân, thì đối với cùng một quan hệ địa dịch, có hai đăng ký phải được thực hiện tại hai cấp khác nhau: địa dịch của bất động sản thuộc về pháp nhân được đăng ký tại cấp tỉnh; địa dịch của bất động sản thuộc về cá nhân được đăng ký tại cấp huyện.

Tệ hơn nữa, trong trường hợp địa dịch được thiết lập giữa một bất động sản là nhà ở và bất động sản kia là quyền sử dụng đất[6], thì địa dịch gắn với nhà được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà ở, trong khi cũng chính địa dịch đó mà gắn với đất thì được đăng ký tại cơ quan tài nguyên và môi trường.

2.2. Manh mún trong việc xác định ý nghĩa của việc đăng ký

2.2.1. Hai hệ thống đăng ký tiêu biểu

Hệ thống đăng ký để đối kháng với người thứ ba

Hệ thống đăng ký này được xây dựng trên cơ sở ba nguyên tắc[7]: 1) Giao dịch hoặc sự kiện xác lập quyền được đăng ký thì coi như được mọi người nhận biết; 2) Giao dịch hoặc sự kiện không đăng ký thì coi như không được ai biết; 3) Các suy đoán này là không thể đảo ngược. Thực ra, vấn đề ý nghĩa pháp lý của đăng ký chỉ được đặt ra đối với người thứ ba; còn đối với hai bên trong giao dịch, bản thân giao dịch được xác lập phù hợp với các quy định đã đủ để phát sinh hiệu lực ràng buộc.

Nội dung của ý nghĩa pháp lý đó được xác định dựa trên sự phân biệt giữa giá trị của quyền được đăng ký và thông tin về sự tồn tại của quyền cho người thứ ba. Nếu thủ tục đăng ký không được thực hiện, quyền vẫn có thể được xác lập (do hiệu lực của giao dịch hoặc của sự kiện pháp lý) trong mối quan hệ giữa những người tham gia vào việc xác lập quyền đó. Một người bán nhà cho một người khác và hợp đồng mua bán không được đăng ký; quyền sở hữu nhà trong trường hợp này vẫn được chuyển cho người mua theo đúng hợp đồng; nhưng việc chuyển quyền đó chỉ có hiệu lực trong mối quan hệ giữa hai bên mua và bán; đối với người thứ ba, nhà vẫn thuộc về người bán[8].

Hệ thống đăng ký đối kháng với người thứ ba không thể được sử dụng để trực tiếp chứng minh sự tồn tại của quyền về phương diện pháp lý. Đơn giản, việc chuyển giao một quyền được đăng ký, bởi vì việc chuyển giao trước đó cũng đã được đăng ký; người được chuyển giao được thừa nhận có quyền nếu chính người chuyển giao cũng được thừa nhận có quyền. Bởi vậy, trong trường hợp có tranh chấp về sự tồn tại xác thực của quyền, người ta phải đi ngược dòng đăng ký cho đến lần đăng ký đầu tiên và phải thẩm định giá trị pháp lý của giao dịch hoặc tính xác thực của sự kiện đặt cơ sở cho việc đăng ký lần đầu đó. Thậm chí, về mặt lý thuyết, việc chứng minh phải được thực hiện bằng cách đi ngược thời gian cho đến thời điểm mà tài sản được tạo ra hoặc khi tài sản được công nhận thuộc về một người do xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu[9].

Không có tác dụng xác lập quyền, nhưng hệ thống đăng ký để đối kháng với người thứ ba có thể giải quyết được sự cạnh tranh giữa hai quyền có cùng tính chất, đối với cùng một tài sản. Chẳng hạn, trong trường hợp có hai người cùng một lúc tự xưng là chủ nợ có bảo đảm bằng quyền đối vật (ví dụ, quyền nhận thế chấp) đối với cùng một tài sản, thì người nào có quyền được đăng ký trước sẽ được ưu tiên thực hiện quyền của mình. Bởi vậy, chính người nào có quyền sẽ tự động nhận thấy lợi ích của việc đăng ký quyền đó một cách nhanh nhất có thể được, nhằm giành ưu thế trong việc cạnh tranh.

Hệ thống đăng ký để xác lập quyền

Trong hệ thống này, chính việc đăng ký, chứ không phải giao dịch hay sự kiện pháp lý, có tác dụng tạo ra quyền. Nói rõ hơn, các giao dịch, sự kiện pháp lý chỉ là các điều kiện cần cho việc xác lập quyền; việc đăng ký là điều kiện đủ. Việc đăng ký thiết lập bằng chứng về sự tồn tại của quyền và bằng chứng này không thể bị đánh đổ bằng một án kiện, trừ một số trường hợp rất ngoại lệ.

Hệ thống đăng ký để xác lập quyền đòi hỏi một cơ chế kiểm tra chặt chẽ cho phép ngăn chặn khả năng đăng ký quyền cho người không có quyền. Các giao dịch chuyển quyền phải được xác lập theo những điều kiện nghiêm ngặt về hình thức. Trong mọi trường hợp, người được hưởng phải làm một đơn xin đăng ký kèm theo các tài liệu chứng minh việc xác lập quyền cho mình.

Cơ quan đăng ký từ chối tiến hành đăng ký một khi các điều kiện cần không tồn tại hoặc không có đủ. Điều đó có nghĩa rằng, trong điều kiện không có tranh chấp, cơ quan đăng ký phải thẩm định, đánh giá chất lượng pháp lý của giao dịch hoặc sự kiện có tác dụng xác lập quyền, theo các quy tắc của luật nội dung, trước khi quyết định tiến hành hay không tiến hành đăng ký quyền đó.

Một khi được đăng ký, quyền được chính thức thừa nhận thuộc về người có tên trong sổ đăng ký. Người nào cho rằng việc đăng ký là không chính xác và gây thiệt hại cho mình, thì phải chứng minh điều đó trong khuôn khổ một vụ khiếu kiện yêu cầu cải chính sổ địa bạ, một loại khiếu kiện rất phức tạp và khó khăn.

Theo đúng logic của hệ thống, người chịu trách nhiệm chính trong công tác đăng ký phải là thẩm phán và cơ quan đăng ký là toà án[10]. Chỉ có người này, cơ quan này mới có quyền khẳng định rằng một giao dịch hoặc một sự kiện nào đó có thực sự là căn cứ xác lập một quyền theo đúng quy định của pháp luật.

2.2.2. Sự lựa chọn của Việt Nam

Đăng ký đất đai

Về mặt lý thuyết, có thể tổ chức hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất theo mô hình đăng ký xác lập quyền. Lý do là: trong điều kiện quyền sử dụng đất chỉ có thể phát sinh từ việc giao đất và cho thuê đất, nhà nước hoàn toàn có khả năng kiểm chứng các quyền sử dụng đất do chính mình tạo ra.

Vấn đề là chế định quyền sử dụng đất chỉ mới được xây dựng trong luật Việt Nam hiện đại, trong khi phần lớn đất đai đô thị, nông thôn có giá trị đã được các chủ thể của quan hệ pháp luật chiếm giữ từ rất lâu. Việc áp dụng hệ thống pháp luật đất đai mới làm bật ra sự cần thiết hợp thức hoá các trường hợp chiếm giữ này theo những điều kiện do pháp luật mới quy định. Những người chiếm giữ đất mà có đủ các điều kiện ấy, thì sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nhưng cho đến khi việc hợp thức hoá cho kết quả thuận lợi, người chiếm giữ đất được tiếp tục sử dụng đất.

Ta nói rằng người sử dụng đất mà chưa được chính thức hoá quyền của mình trong quan hệ với Nhà nước là người có quyền sử dụng đất tiềm năng. Người có quyền sử dụng đất tiềm năngđược thừa nhận có một số quyền của người sử dụng đất hợp pháp; thậm chí, trong một vài trường hợp (như khi cần thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nợ vay), còn được đồng hoá với người sử dụng đất hợp pháp. Tư cách người có quyền sử dụng đất tiềm năng, chỉ được thừa nhận mặc nhiên trong thời kỳ áp dụng Luật Đất đai năm 1993, được chính thức ghi nhận về mặt pháp lý tại Luật Đất đai năm 2003 (Điều 50). Trong ngôn ngữ thông dụng, họ được gọi là những người có giấy trắng, phân biệt với người có giấy đỏ, là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu hợp lệ.

Vả lại, có nhiều truờng hợp mà quyền sử dụng đất đã được đăng ký hợp thức hoá cho người không có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Luật hiện hành thừa nhận rằng người bị thiệt hại do việc thừa nhận sai lầm quyền sử dụng đất cho người khác có quyền kiện ra Toà án để yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi ích bị xâm hại của mình.

Tất cả những điều đó khiến cho việc coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bằng chứng chính thức và duy nhất về sự tồn tại của quyền này là không hợp lý. Theo Luật Đất đai, Điều 4 Khoản 20, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Kết hợp điều luật này với các nhận xét trên đây về hiện trạng chiếm hữu tư nhân đối với đất đai, có thể thừa nhận rằng trong khung cảnh của luật thực định, đăng ký quyền sử dụng đất chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, chứ không có tác dụng xác lập quyền.

Đăng ký nhà ở

Có vẻ như đối với việc đăng ký nhà ở, người làm luật thực sự mong muốn xác lập hiệu lực tương tự như đăng ký xác lập quyền. Theo Luật Nhà ở, Điều 13 Khoản 1, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở là cơ sở pháp lý để chủ sở hữu nhà ở thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà ở đó theo quy định của pháp luật. Suy lý nghịch đối với điều luật, nếu nhà ở không đăng ký, thì không có cơ sở pháp lý để các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật. Nói nôm na, nhà ở mà không đăng ký thì không giao dịch được.

Song, người làm luật nhà ở không đủ tự tin để khẳng định giá trị tuyệt đối của việc đăng ký nhà ở về phương diện xác lập quyền. Điều này hiểu được, bởi, suy cho cùng, cơ quan quản lý xây dựng không nắm giữ một công cụ pháp lý nào cho phép xác định một cách có thẩm quyền lai lịch của chủ sở hữu đích thực đối với tài sản. Về phần mình, luật chung về quyền sở hữu, khi nói về quyền giải quyết của toà án đối với các tranh chấp về quyền sở hữu, cũng không loại trừ khả năng thụ lý của của thẩm phán trong trường hợp tài sản tranh chấp là nhà ở đã được đăng ký hợp lệ.

Bởi vậy, có thể thừa nhận rằng trong khung cảnh của luật thực định, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở chỉ có tác dụng thiết lập sự suy đoán về quyền đối với nhà đó. Sự suy đoán này có thể bị đánh đổ một khi người tranh chấp trình ra được trước toà án các bằng chứng ngược lại thuyết phục hơn.

3. Hướng hoàn thiện

ở các nước tiền tiến, hệ thống đăng ký được xây dựng trên cơ sở kết quả giải quyết bốn vấn đề cơ bản: đăng ký là hoạt động hành chính hay hoạt động tư pháp? Việc đăng ký mang tính chất đối vật hay đối nhân? Nó có tác dụng xác lập quyền hay chỉ để thông tin cho người thứ ba? Nó mang tính chất bắt buộc hay tuỳ nghi?

3.1. Đăng ký của nhà chức trách hành chính hay nhà chức trách tư pháp?

Chọn đăng ký hành chính

Đăng ký mà thuộc chức năng của nhà chức trách tư pháp chỉ có thể là đăng ký xác lập quyền. Trong điều kiện toà án là chỗ dựa cuối cùng của xã hội trong trường hợp có tranh chấp, xung đột, thì việc toà án đăng ký quyền cũng hàm nghĩa rằng toà án đã chính thức thừa nhận tư cách chủ thể quyền cho người đăng ký và bác bỏ tất cả những yêu cầu ngược lại.

Có vẻ như người làm luật Việt Nam đang bị giằng xé giữa những mong muốn mâu thuẫn nhau: một mặt, việc đăng ký bất động sản nên có tác dụng xác lập quyền; nhưng mặt khác, việc đăng ký nên thuộc chức năng của cơ quan hành chính. Thực ra, vẫn có thể hình dung việc đăng ký xác lập quyền được giao cho cơ quan hành chính, như trong trường hợp nhà nước phân phối đất đai chưa được khai phá cho từng người dân, từ đó, có điều kiện kiểm soát sự ra đời và lưu thông của quyền sở hữu. Nhưng khả năng này không thể xảy ra ở Việt Nam.

Dẫu sao, việc thừa nhận chức năng đăng ký cho cơ quan hành chính phù hợp với chế độ sỡ hữu toàn dân về đất đai: nhà nước, thông qua bộ máy quản lý đất đai, tiến hành giao đất hoặc cho thuê đất; bởi vậy, bộ máy quản lý đất đai có khả năng theo dõi việc xác lập và lưu thông của quyền sử dụng đất.

Thống nhất việc đăng ký

Suy cho cùng, việc tổ chức hai hệ thống đăng ký riêng biệt đối với quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất phải được coi là một căn bệnh cần chữa trị, chứ không phải là nét đặc thù của cơ chế đang vận hành ở Việt Nam. Ngoài vấn đề liên quan đến một số địa dịch mà không thể có giải pháp, hai hệ thống độc lập còn làm phát sinh chi phí xã hội vô lý trong các trường hợp, rất thường gặp trong thực tiễn, mà giao dịch được xác lập cùng một lúc đối với nhà và đất có nhà.

Mô hình văn phòng đăng ký bất động sản, dự kiến trong dự thảo Luật Đăng ký bất động sản, tỏ ra hợp lý. Mặt khác, trong điều kiện quyền sử dụng đất do Nhà nước tạo ra, việc đặt các văn phòng đăng ký trong hệ thống cơ quan quản lý đất đai hoàn toàn phù hợp với logic của cơ chế đang vận hành.

Loại bỏ nguyên tắc phân bổ chức năng đăng ký theo cấp hành chính

Phải coi đăng ký là hoạt động chuyên nghiệp của viên chức nhà nước, một loại dịch vụ của nhà chức trách công nhằm phục vụ cho việc thực hiện một nhóm quyền dân sự cùng loại. Mà nếu vậy, thì không lý do gì lại thiết lập sự phân biệt cơ quan đăng ký theo cấp hành chính như hiện nay: trong điều kiện hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể, không có cách nào lý giải việc một chủ thể phải thực hiện quyền dân sự ở một cấp hành chính nào đó, trong khi một chủ thể khác phải thực hiện đúng quyền đó ở một cấp hành chính cao hơn.

Giả sử mô hình văn phòng đăng ký bất động sản được chấp nhận. Các văn phòng đăng ký nên được xây dựng theo quản hạt; trong phạm vi quản hạt, văn phòng đăng ký đảm nhận chức năng đăng ký cho tất cả các bất động sản, tất cả các chủ thể. Tất nhiên, nhà chức trách hành chính có thể thiết lập một hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với mạng lưới văn phòng đăng ký. Song, hệ thống này chỉ nên được giao các chức năng điều hoà, phối hợp, giám sát… chứ không trực tiếp thực hiện việc đăng ký.

3.2. Đăng ký đối vật hay đăng ký đối nhân?

Các hệ thống đăng ký tiêu biểu

Trong hệ thống đăng ký đối vật, bất động sản là vật trung tâm. Một sổ bộ lớn được thiết lập ghi nhận tất cả các bất động sản tọa lạc trong quản hạt của cơ quan giữ sổ bộ đó. Mỗi bất động sản được nhận dạng theo cùng một hệ thống tiêu chí kỹ thuật và được mô tả trên bản đồ giải thửa. Tất cả các quyền và nghĩa vụ đối vật liên quan đến bất động sản cũng được ghi nhận như là những ràng buộc khách quan đối với tài sản.

Trong hệ thống đăng ký đối nhân, việc đăng ký được thực hiện theo tên người. Một sổ bộ lớn cũng được thiết lập, nhưng ghi nhận tên người theo thứ tự trong bảng chữ cái. Người này có các quyền, nghĩa vụ đối vật được ghi nhận theo tên của mình; mỗi khi quyền, nghĩa vụ được chuyển cho người khác, thì các biến động trong tình trạng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tương ứng được ghi nhận, điều chỉnh trên sổ bộ.

Còn có một hệ thống thứ ba, dung hoà cả hai hệ thống nêu trên. Trong hệ thống này có hai loại sổ bộ: một loại ghi nhận tên những người có quyền đối với bất động sản; loại kia bao gồm các phiếu bất động sản, ghi nhận lý lịch của từng bất động sản bao gồm các chi tiết về chỉ định lai lịch và các quyền cũng như các ràng buộc khác chi phối bất động sản đó. Pháp là một trong những nước thiết lập hệ thống này.

Sự lựa chọn của Việt Nam

Cả hai hệ thống đăng ký đang vận hành đều xác định thẩm quyền đăng ký theo đặc điểm của chủ thể. Trong chừng mực đó, có thể thừa nhận tính chất đối nhân của việc đăng ký, dù thực ra, sự phân biệt trong luật hiện hành là sự phân biệt theo loại chủ thể (pháp nhân phân biệt với cá nhân) chứ không phải theo tên gọi của chủ thể. Hệ thống này có lẽ có nguồn gốc từ các quy định về giao đất và cho thuế đất trong luật hiện hành: đất được giao hay được cho thuê và việc giao, cho thuê được cấp nào xem xét tuỳ theo chủ thể muốn nhận quyền sử dụng đất là cá nhân hay tổ chức…

Dẫu sao, Việt Nam hoàn toàn có điều kiện xây dựng một hệ thống dung hoà: có một sổ bộ ghi nhận tên họ của các chủ thể có quyền đối với bất động sản; có một sổ bộ khác gồm các phiếu lý lịch bất động sản.

3.3. Đăng ký xác lập quyền hay đăng ký đối kháng?

Nên chọn đăng ký đối kháng.

Không phải vì khó có thể bảo đảm tính trong sạch của hệ thống đăng ký, điều kiện tối cần thiết cho việc đăng ký xác lập quyền, mà nên chọn đăng ký đối kháng cho Việt Nam. Như đã nói,quyền sử dụng đất tiềm năng, với tất cả sự mập mờ có nhiều nguyên nhân do lịch sử để lại, đã làm xáo trộn các dự tính ban đầu của Nhà nước liên quan đến việc thiết lập cơ sở pháp lý cho chế độ sở hữu và sử dụng đất đai mới. Sự ẩn, hiện vô chừng của quyền sử dụng đất tiềm năng đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất. Đặc biệt, nó đã khiến cho người làm luật, dù muốn, không đủ tự tin để khẳng định rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bằng chứng chính thức và duy nhất về quyền này. Đăng ký đối kháng gần như là sự lựa chọn bắt buộc cho việc xác định ý nghĩa pháp lý của hệ thống đăng ký bất động sản ở Việt Nam[11].

Tuy nhiên, trong khung cảnh của luật thực định, ít nhất cũng có thể quy định chính thức rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thiết lập sự suy đoán pháp lý về quyền cho người có tên trên giấy đó và người nào bác bỏ điều này thì phải chứng minh trong khuôn khổ một án kiện trước toà án. Một quy định như thế có tác dụng hạn chế những vụ kiện tiến hành tuỳ thích, chỉ nhằm mục đích phá rối cuộc sống của người khác. Nhưng tất nhiên, để xứng đáng được hưởng sự suy đoán đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được cấp dựa vào kết quả thẩm định đáng tin cậy đối với hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan quản lý đất đai, nghĩa là phải chính xác và khách quan.

3.4. Đăng ký bắt buộc hay tuỳ nghi?[12]

Đăng ký trở nên tuỳ nghi nếu người ta có thể thực hiện hay không tuỳ theo ý nguyện của mình; còn đăng ký là bắt buộc một khi được kèm theo biện pháp chế tài nghiêm khắc, chẳng hạn phạt tiền. Đăng ký bắt buộc được lựa chọn trong trường hợp việc đăng ký là cần thiết cho việc thực hiện các chính sách công, vì lợi ích chung, chẳng hạn, cho việc thu thuế, việc bảo đảm an ninh, trật tự công cộng,…

Cho đến bây giờ, có thể nhận thấy rằng hệ thống đăng ký bất động sản ở Việt Nam không mang tính bắt buộc: luật không dự kiến bất kỳ biện pháp chế tài nào dành cho người không chịu đăng ký. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng người làm luật thực sự mong muốn thiết lập một hệ thống đăng ký tuỳ nghi. Vả lại, trong điều kiện đất thuộc sở hữu toàn dân và, về mặt lý thuyết, được nhà nước tổ chức giao hoặc cho thuê để cá nhân, pháp nhân sử dụng, áp dụng chế độ đăng ký tuỳ nghi cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận Nhà nước không kiểm soát được các hoạt động giao đất, cho thuê đất do chính mình thực hiện và điều đó tất nhiên sẽ ảnh hưởng xấu đến uy tín của nhà chức trách công trong mắt người dân.

Hiểu được điều đó, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để thông qua hệ thống đăng ký, quản lý việc sử dụng đất trên phạm vi cả nước. Một trong những nỗ lực ấy là việc ra quy định xác định từ một thời điểm nào đó, chỉ những quyền sử dụng đất nào được ghi nhận trên một giấy chứng nhận hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền cấp mới được phép lưu thông trong cuộc sống dân sự[13]. Tính hữu hiệu của quy định là vấn đề khác. Nhưng có thể từ đó ghi nhận được quan điểm của người làm luật đối với vấn đề xác định tính chất bắt buộc hay tuỳ nghi của việc đăng ký quyền sử dụng đất: đăng ký, theo người làm luật, phải được coi là một nghĩa vụ của chủ thể quyền để được hưởng sự bảo vệ của nhà chức trách trong quá trình thực hiện quyền trong cuộc sống dân sự.

Tuy nhiên, đăng ký bắt buộc chỉ tỏ ra hợp lý một khi việc đăng ký có thể được thực hiện trong những điều kiện khách quan thuận lợi. Rõ hơn, muốn ràng buộc người dân vào một nghĩa vụ nào đó, nhà chức trách phải bảo đảm rằng người dân sẽ không gặp bất kỳ một trở ngại nào trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, đặc biệt là những trở ngại có nguồn gốc từ tình trạng năng nề, quan liêu của bộ máy hành chính. Cho đến nay, việc đăng ký ban đầu đối với bất động sản vẫn chưa (và không biết đến khi nào) hoàn thành. Phần lớn các nguyên nhân của sự chậm trễ lại không phải do người dân tạo ra. Vừa bắt buộc đăng ký, vừa duy trì các rào cản, chướng ngại đối với việc tiến hành thủ tục đăng ký, là không sòng phẳng, không công bằng với dân.

Vả lại, trong điều kiện đăng ký chỉ có hiệu lực đối kháng, thì việc không đăng ký, ngoài hệ quả làm cho việc chuyển quyền sở hữu không đối kháng với người thứ ba, hầu như chỉ gây một số thiệt hại cho Nhà nước, chẳng hạn, thất thu thuế, chứ không ảnh hưởng đến số phận của quyền. Có thể ngăn chặn các thiệt hại cho Nhà nước bằng cách khác, ví dụ, bằng cách quy định bắt buộc xác lập giao dịch dưới hình thức chứng thư và uỷ thác cho cơ quan công chứng, chứng thực thu thuế….

Một số ý kiến cho rằng, trong điều kiện mặt bằng dân trí còn thấp, nếu cho phép đăng ký tuỳ nghi thì sẽ phổ biến hiện tượng không chịu đăng ký. Suy cho cùng, sự lo lắng này không có căn cứ rõ ràng. Nếu thấy có lợi ích thiết thực và thủ tục đơn giản, chi phí hợp lý, người dân sẵn sàng, thậm chí sẽ được thôi thúc để thụ hưởng dịch vụ đăng ký, chứ không đợi bị ép buộc để làm việc đó. Một trong những lợi ích đó có thể là tác dụng suy đoán của việc đăng ký về sự tồn tại của quyền, như đã nói ở trên.

Chú thích:

[1] J.Ph.Lévy, Coup doeil historique densemble sur les sretés réelles, Tạp chí Lịch sử luật học (Hà Lan), 1987, tr. 257-266.

[2] Ph. Simler và Ph. Delebecque, Droit civil Les sretés. La publicité foncière, Dalloz, Paris, 1989, số 620.

[3] Quy tắc superficies solo cedit tạm được hiểu là quy tắc cho phép quyền sở hữu đất thu hút quyền sở hữu đối với các tài sản gắn liền với đất. Với quy tắc này, người có quyền sở hữu đất được suy đoán là chủ sở hữu của các tài sản có trên đất đó. Thông thường, các nước thừa nhận quy tắc này chỉ thiết lập sự suy đoán giảm đơn về quyền sở hữu, nghĩa là chủ sở hữu đất được cho là có quyền sở hữu đối với các tài sản gắn với đất, đến khi có ai chứng minh được điều ngược lại. Ví dụ điển hình là luật của Pháp (F. Terré và Ph.Simler, sđd, số 243 và kế tiếp). Một số nước, như Nhật, không thừa nhận quy tắc này (Travaux de lAssociation Henri Capitant, Journées vietnamiennes. La propriété, LGDJ, Paris, 2006, tr. 161 và 162).

[4] Xu hướng hành chính hoá cuộc sống dân sự thể hiện qua việc cơ quan hành pháp tự coi mình là người quản lý, đồng thời là người phán xét, đánh giá chất lượng pháp lý của các quan hệ xã hội trong khu vực tư, nghĩa là làm thay luôn công việc của toà án. Sự can thiệp của một cơ quan hành chính nhà nước, cụ thể là Sở Xây dựng, vào chuyện mua bán giữa tư nhân trong khuôn khổ một số dự án địa ốc, gây ồn ào tại thành phố Hồ Chí Minh trong năm vừa qua, là ví dụ điển hình.

Điều đáng nói nữa là do không có khả năng tích luỹ kiến thức pháp lý dân sự một cách cơ bản nhưng lại được giao quyền can thiệp vào cuộc sống dân sự của nhà ở, các công chức làm luật thuộc Bộ Xây dựng đã sáng tác rất nhiều quy định làm đảo lộn cả cơ sở lý luận của hệ thống đang vận hành; nhưng đây là đề tài của câu chuyện khác.

[5] Thực ra, người làm luật đất đai, khi đề cập đến các chủ thể của quyền sử dụng đất, đã dùng từ tổ chức, thay vì pháp nhân, để chỉ những người sử dụng đất không phải là cá nhân hay hộ gia đình. Suy cho cùng, không thể hình dung khả năng một tổ chức nào đó có một quyền sử dụng đất định giá được bằng tiền mà lại không có tư cách chủ thể theo pháp luật dân sự để có thể xác lập giao dịch liên quan đến quyền đó.

[6] Như trường hợp một người có quyền sở hữu nhà nhưng lại không có quyền sử dụng đất có nhà đó.

[7] P. Malaurie và L. Aynès, sđd, số 1201.

[8] Tuy nhiên, luật của Pháp, áp dụng hệ thống đăng ký này, nói rằng nếu người thứ ba biết hoặc buộc phải biết rằng giao dịch đã được xác lập, thì việc chuyển quyền sở hữu cũng có hiệu lực đối với họ, dù hợp đồng mua bán không được đăng ký. P. Malaurie và L. Aynès, sđd, số 1221.

[9] Trên thực tế, không có trường hợp nào mà việc dựng lại lịch sử của một bất động sản được thực hiện hoàn hảo. Đến lúc nào đó, người ta không còn biết đi đâu, làm gì, để chứng minh, do mọi chuyện đều chìm trong bóng tối của sự quên lãng. Bởi vậy, các nhà luật học ta nói rằng bằng chứng tuyệt đối về quyền sở hữu trong hệ thống đăng ký để đối kháng là thứ bằng chứng quái quỷ (probatio diabolica).

[10] Như ở Đức. (M. Fromont và A. Rieg, Introduction au droit allemand, T. III, Cujas, Paris, 1991, tr. 165 và kế tiếp). ở úc, hệ thống đăng ký Torrens, có tác dụng xác lập quyền, là một phần của bộ máy hành chính công, chứ không thuộc Toà án. Thế nhưng, đó là vì tất cả các đăng ký ban đầu đều có nguồn gốc từ việc Nhà nước tiến hành phân phối hành chính đất đai vô chủ (nghĩa là thuộc sở hữu nhà nước) cho tư nhân để khai thác.

[11] Có ý kiến lo ngại rằng nếu thừa nhận rằng việc đăng ký chỉ có giá trị đối kháng với người thứ ba, chứ không có tác dụng xác lập quyền, thì cần phải sửa đổi hàng loạt quy định liên quan cho phù hợp, đặc biệt là các quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu bất động sản do hiệu lực của giao dịch. Chẳng hạn, theo pháp luật hiện hành, việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (BLDS Điều 692)…

Thực ra, việc xác định hiệu lực đối kháng với người thứ ba của hoạt động đăng ký không ảnh hưởng gì đến hầu hết các quy định liên quan quyền sở hữu, kể cả các quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu. Đặt Điều 692 BLDS trong khung cảnh một hệ thống đăng ký có hiệu lực đối kháng, người ta phải hiểu rằng: nếu quyền sử dụng đất là có thật (nghĩa là được chứng minh bằng một cách nào đó do pháp luật quy định), thì quyền này sẽ được chuyển, do hiệu lực của một giao dịch, từ thời điểm giao dịch được đăng ký. Nói khác đi, quyền sử dụng đất được chuyển ở thời điểm đăng ký là quyền sử dụng đất tồn tại theo giả định và sự tồn tại này, đến lượt mình, được chứng minh bằng nhiều cách khác, chứ không phải (không chỉ) bằng cách đăng ký.

[12] Không nên đặt vấn đề liệu nên xem đăng ký như một hoạt động quản lý nhà nước hay một loại dịch vụ công; có những dịch vụ mà người dân buộc phải hưởng để có thể sống trong một xã hội được gọi là có tổ chức, chẳng hạn dịch vụ hộ tịch. ở các nước tiền tiến, có thể cha mẹ, người giám hộ sẽ bị phạt nếu không đăng ký khai sinh đúng hạn cho trẻ; nhưng họ bị chế tài vì đã không tôn trọng các quy tắc về bảo vê trẻ em, chứ không phải vì vi phạm các quy định về hộ tịch.

[13] Thoạt tiên, người làm luật quy định rằng từ ngày 01/01/2007, chỉ còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo pháp luật đất đai hiện hành là có giá trị giao dịch (Nghị định số 181/2004-NĐ-CP ngày 29/10/2004 Điều 184); tuy nhiên, thời điểm này đã được kéo lùi nhiều lần. Cho đến nay, số phận các loại giấy trắng vẫn chưa ngã ngũ.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/quan-ly-nha-nuoc-ve-111ang-ky-bat-111ong-san-va-giai-phap-hoan-thien-he-thong-111ang-ky-bat-111ong-san

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: