Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN, ƯU TÚ DÀNH CHO "SẾP"

BẢO LOAN

100% người nhận danh hiệu  Nhà giáo ưu tú (NGƯT) của Hà Nội đều là cán bộ hoặc nguyên cán bộ quản lý.  Trong 17 NGƯT của Bắc Ninh cũng chỉ có tên 1 giáo viên. Danh sách ở các tỉnh Lai Châu, Bắc Kạn, Hà Nam, Đắc Lắc, Cà Mau… đều “trắng” giáo viên.

Ngày 17/11, Chủ tịch nước ký quyết định công nhận danh hiệu cao quý Nhà giáo nhân dân (NGND) và NGƯT cho 917 thầy cô giáo. Đây là đợt công nhận có số lượng NGND và NGƯT cao nhất từ trước tới nay.

Trong số đó, thành phần cán bộ quản lý, hiệu trưởng các trường chiếm tỷ lệ khá cao. Số người được nhận danh hiệu cao quý của nghề đứng lớp ở giáo viên lại không nhiều.

Theo danh sách 815 NGƯT, có 301 NGƯT thuộc khối các tỉnh, thành phố. Trong số đó, cán bộ quản lý cấp trường, phòng, Sở GD-ĐT, chủ tịch công đoàn và nguyên là cán bộ quản lý chiếm hơn 200 người. Ngoài ra, còn có 22 NGƯT đặc cách nguyên là cán bộ quản lý các cấp.

Ví dụ, Sở GD-ĐT Hà Nội có 21 NGƯT (1 đặc cách) thì tất cả đều là cán bộ quản lý, hoặc nguyên cán bộ quản lý các cấp, trong đó chủ yếu của Hà Nội cũ và 4 cán bộ của tỉnh Hà Tây cũ.

Hải Phòng có 13 NGƯT, nhưng trong đó cũng chỉ có 2 giáo viên, còn lại đều là hiệu trưởng của các trường từ mầm non đến THPT và 1 chủ tịch công đoàn quận.

Tương tự, tỉnh Bắc Ninh có 17 NGƯT thì cũng chỉ có 1 giáo viên; Thanh Hóa có 16 NGƯT (2 giáo viên), Thừa Thiên – Huế 14 NGƯT (1 giáo viên); Kiên Giang 21 NGƯT (3 giáo viên). Các tỉnh Lai Châu, Bắc Kạn, Hà Nam, Đắc Lắc, Đắc Nông, Đồng Nai, Hậu Giang Cà Mau… đều “trắng” giáo viên. Tỉnh Cao Bằng năm nay là địa phương không có ai được lọt vào danh sách này.

Cao hơn nữa, trong 101 NGND hoàn toàn vắng bóng giáo viên phổ thông.

Phấn đấu vì thi đua phải bài bản!

Trong đợt phong tặng vừa qua, tỉnh Bắc Kạn có 1 NGND, 5 NGƯT và 1 NGƯT đặc cách, đều là lãnh đạo trường, phòng và Sở GD-ĐT.

Theo ông Nguyễn Văn Bền, Giám đốc Sở GD-ĐT (vừa được phong tặng danh hiệu NGND), ngành đã đề nghị danh sách lên 20 người, nhưng chỉ có 7 người được gửi tiếp lên trung ương và đều được xét duyệt.

Ông Bền cho rằng, quy trình xét duyệt ở các bậc khá chặt chẽ, từ trường, đến phòng, đến sở, lên tỉnh. Tỉnh Bắc Kạn có hơn 6.000 giáo viên, nhưng đến nay mới chỉ có 11 người được phong tặng do nhiều tiêu chuẩn không đạt được cùng một lúc.

Cụ thể, có giáo viên lâu năm đứng giảng, nhưng thiếu đề tài nghiên cứu sáng tạo trong giáo dục hoặc không đủ cơ số năm đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua (CSTĐ) các cấp… Thậm chí, một số giáo viên cũng không chú ý đến danh hiệu này để phấn đấu vì thi đua phải bài bản.

Ông Bền cho biết, điểm khó nhất ở Bắc Kạn là việc hoàn thành được một đề tài sáng kiến kinh nghiệm. Hằng năm, ngành đăng ký đề tài sáng kiến kinh nghiệm lên nhưng tỉnh thường chỉ cấp kinh phí cho 1 đề tài. Ở vùng cao, giáo viên đi dạy cũng đã khá vất vả thì việc đầu tư cho đề tài cũng không dễ dàng.

Nếu những điều kiện trên đã đạt được mà mắc ở vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm thì cũng không đạt. Khi hội đồng nhà trường cũng như phụ huynh, HS bỏ phiếu tín nhiệm, nhiều giáo viên đã “trượt” mất tiêu chuẩn này nên không đạt được danh hiệu, ông Bền giải thích.

Đồng quan điểm trên, ông Bùi Văn Quang, Hiệu trưởng Trường THPT Việt Bắc, tỉnh Lạng Sơn cho rằng, ngoài những quy định cứng như bao nhiêu năm là chiến sĩ thi đua, có sáng kiến giáo dục thì tiêu chuẩn “uy tín” mang tính chất định lượng, vô hình khiến nhiều giáo viên mất cơ hội.

Ông Đỗ Văn Thuấn, Giám đốc Sở GD-ĐT Quảng Ninh (vừa được phong tặng danh hiệu NGƯT) nhận thấy, nhiều người đạt hầu hết các tiêu chuẩn nhưng lại bị “vướng” uy tín, là sự suy tôn của tập thể công tác. Do đó, những trường hợp này thường bị loại ngay từ cơ sở. Hiện nay ở Quảng Ninh, trong tổng số 18.000 giáo viên, cũng mới chỉ có khoảng hơn 70 nhà giáo được phong tặng danh hiệu này. 

Danh hiệu dành cho “sếp”?

Nhiều cán bộ lãnh đạo muốn “mông má” cho danh hiệu của mình, mà những người này chủ yếu đã rời xa bục giảng. Điều này khiến cho giáo viên thiệt thòi, một cán bộ của tỉnh Thanh Hóa nhận xét. Một khi người quản lý chưa được phong tặng thì những giáo viên ở dưới “khó” được đưa ra bình xét. Một thực tế, nhiều giáo viên có thể đạt được danh hiệu này, nhưng vì nhiều lý do như “uy quyền” của người lãnh đạo, rồi chính bản thân các giáo viên “níu nhau” nên khó thoát khỏi cơ sở.

Theo ông Bùi Văn Quang, những giáo viên vùng sâu, vùng xa lại càng khó được tôn vinh với danh hiệu này. Điều kiện sinh sống đã khó khăn, sức học của HS cũng không như HS thành thị nên để có được tiêu chuẩn “HS giỏi cấp tỉnh” hay “sáng kiến khoa học là điều vô cùng khó. Hơn nữa, do ít HS giỏi nên yêu cầu thôi thúc thông tin của HS không nhiều, không có sức ép.

Một vị nguyên là cán bộ quản lý của Sở GD-ĐT Nghệ An thì cho rằng, sàng lọc được một giáo viên bình thường vào danh sách này không dễ. Họ có thể đạt được về chuyên môn đơn thuần nhưng công tác chủ nhiệm yếu, các hoạt động nhà trường yếu thì cũng không thể đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi.

Vị cán bộ này còn nói, nơi gian khổ thì việc bộc lộ tài năng thậm chí còn dễ hơn vì môi trường và điều kiện ở vùng sâu vùng xa khác xa vùng xuôi. Bởi, giáo viên vùng xuôi phải cọ sát và cạnh tranh khốc liệt hơn do trình độ dân trí cao hơn. Giáo viên vùng cao rất đáng được tôn vinh, nhưng sẽ bằng hình thức khác. Họ được một yếu tố là chịu khó, chịu khổ, hy sinh, cần cù, nhưng tài năng sư phạm phải được bộc lộ mọi lúc, mọi nơi (!?)

Tiêu chuẩn NGND – NGƯT:

– Đối với NGND: Đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu NGƯT, tính đến năm xét tặng từ 6 năm trở lên và trong thời gian đó được phong tặng danh hiệu CSTĐ toàn quốc hoặc được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba trở lên.

– Đối với NGƯT: Tiêu chuẩn chung đối với các nhà giáo ở các cấp học, trình độ đào tạo và cán bộ quản lý: Phải có ít nhất 5 năm là CSTĐ cấp cơ sở trong đó có ít nhất 01 năm được công nhận danh hiệu CSTĐ cấp tỉnh, cấp Bộ, ngành hoặc được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Trước năm 2004 được áp dụng danh hiệu giáo viên giỏi tương đương với danh hiệu CSTĐ để xét tặng. Có thời gian trực tiếp nuôi dạy, giảng dạy từ 15 năm trở lên, riêng với cán bộ quản lý giáo dục, nghiên cứu giáo dục thì phải có thời gian công tác trong ngành từ 20 năm trở lên, trong đó có 10 năm trở lên trực tiếp nuôi dạy, giảng dạy…

SOURCE: VIETNAMNET

Trích dẫn từ: http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/11/814823/

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: