CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHÁP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

THS. VƯƠNG TỊNH MẠCH

Các thuật ngữ viết tắt trong bài:

– WTO: World Trade Organizaton – Tổ chức Thương mại Thế giới

– DSB: Dispute Settle Body – Cơ quan giải quyết tranh chấp

– DSU: Dispute Settlement Understanding – Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.

– Tên chính thức của DSU là Understanding on rules and procedures governing the settlement of disputes annex 2 of the WTO Agreement – Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp, phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO.

Ngày 01/01/1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organizaton – WTO) được thành lập. Cùng với sự ra đời của WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settle Body – DSB) cũng được thiết lập. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về việc thành lập và chức năng của DSB và các cơ quan trực thuộc DSB.

I. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

1.1Thành lập Cơ quan giải quyết tranh chấp

Theo khoản 3 Điều IV Hiệp định thành lập WTO, “khi cần thiết Đại hội đồng (General Council) sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body) được quy định tại Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding). Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể có chủ tịch riêng và tự xây dựng những nguyên tắc về thủ tục mà cơ quan này cho là cần thiết để hoàn thành trách nhiệm của họ”.

Continue reading

Advertisements

TRANH CHẤP TỪ VIỆC HỦY HÔN: NHÀ TRAI YÊU CẦU BỒI THƯỜNG

ÁI NHÂN

Bị nhà gái hủy hôn khi ngày cưới gần kề, nhà trai khởi kiện yêu cầu nhà gái phải bồi thường khoản chi phí nhà trai chuẩn bị cho hôn lễ… Mới đây, TAND quận Phú Nhuận (TP.HCM) đã xử một vụ kiện khá ngộ nghĩnh: Ông A. yêu cầu gia đình cô C. phải bồi thường vì đã hủy hôn làm thiệt hại cho nhà ông.

Quen nhau trên mạng

Trước đây, con trai ông A. và cô C. tình cờ quen nhau trên mạng rồi nảy sinh tình cảm. Chỉ ba tháng sau, hai người đã quyết định đi tới hôn nhân. Được sự đồng ý của hai bên gia đình, con trai ông A. về dẫn cha mẹ sang hỏi cưới cô C.

Ngày lễ đính hôn, nhà trai mang mâm quả cùng lễ vật cầu hôn gồm cặp nhẫn cưới, đôi bông tai, lắc vàng sang nhà gái.

Buổi lễ diễn ra trong niềm hân hoan của hai họ. Trong buổi lễ, nhà trai có xin nhà gái ấn định cho ngày làm lễ cưới. Sau đó, hai bên gia đình thống nhất hai tháng sau sẽ tổ chức lễ cưới tại nhà gái trước hai ngày rồi tổ chức ở nhà trai.

Trong thời gian này, chú rể tương lai có đề nghị gia đình cô C. cho ứng trước 20 triệu đồng tiền mừng đám cưới để xây nhà chuẩn bị cho đôi uyên ương. Cạnh đó chú rể cũng đặt điều kiện là sau đám cưới, cô dâu phải theo về nhà chú rể để ở và làm việc. Về chuyện tiền bạc, cha cô C. nghĩ không biết tiền mừng đám cưới thiếu đủ thế nào nên không có ý kiến. Còn việc về nhà chú rể ở thì cả cô C. lẫn gia đình đều không đồng ý.

Continue reading

LỢI ÍCH CỦA MỐI LIÊN KẾT TIÊU THỤ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP QUA HỢP ĐỒNG

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

1- Một số vấn đề chung về tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua hợp đồng.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng. Quyết định này đưa ra nội dung chủ yếu khuyến khích các doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với người sản xuất và trách nhiệm của các ngành và tổ chức có liên quan chủ yếu gồm: nhà nông (người sản xuất), nhà doanh nghiệp (người tiêu thụ nông sản hàng hóa), Nhà nước và nhà khoa học (người nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ); Vì thế mà chúng ta thường nói quyết định 80 với việc liên kết 4 nhà là vậy. Nội dung chủ yếu thể hiện qua liên kết 4 nhà như sau:

– Nhà nông (người sản xuất): có trách nhiệm cung ứng nông sản phẩm hàng hóa theo tiêu chuẩn đã được cam kết trong hợp đồng.

– Nhà doanh nghiệp (người tiêu thụ nông sản hàng hóa): có trách nhiệm tổ chức tiêu thụ hàng hóa đã được cam kết trong hợp đồng.

– Nhà nước: Cơ quan quản lý giá hướng dẫn nguyên tắc định giá sàn nông sản phẩm hàng hóa đảm bảo người sản xuất có lợi, doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; Hàng năm ngân sách dành khoản kinh phí để hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xúc tiến thương mại, đầu tư cơ sở hạ tầng với vùng sản xuất nguyên liệu tập trung và hỗ trợ hàng sản xuất, chế biến khẩu.

– Nhà khoa học: Thực hiện các hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất.

Continue reading

CÓ HOÃN XÉT XỬ HAY KHÔNG KHI BỊ ĐƠN VẮNG MẶT…?

image PLTPHCM – Tòa cấp trên dựa vào nghị quyết bảo phải hoãn xử, tòa cấp dưới viện dẫn luật và nói tiếp tục xử là đúng… Tòa án quận X (TP.HCM) vừa có văn bản kiến nghị với TAND TP, cho rằng mình đã bị hủy án sơ thẩm… oan.

Vắng có lý do, hoãn phiên tòa?

Vụ việc bắt nguồn từ chuyện xin ly hôn của vợ chồng bà T. Vợ chồng họ cưới nhau được một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Năm 2004, người chồng đòi ly hôn trong khi người vợ mong muốn được đoàn tụ.

Thụ lý, tòa quận X đã liên tục mời hai bên đến hòa giải nhưng người chồng một mực giữ quan điểm, còn người vợ cũng “bảo lưu ý kiến”. Cuối cùng, tòa đành phải đưa vụ án ra xét xử nhưng triệu tập nhiều lần mà người vợ không đến khiến phiên tòa cứ bị hoãn lên hoãn xuống.

Giữa năm 2008, tòa quận X mở phiên xử, nhận định: “Tòa án quận đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng bà T. cố tình không đến tòa. Do vậy, tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt bà T.”. Sau đó, tòa đã tuyên chấp nhận cho hai vợ chồng này ly hôn.

Bà T. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm vừa qua, luật sư của bà cho rằng việc tòa quận X xử vắng mặt bà là vi phạm tố tụng. Theo luật sư, khi mở phiên sơ thẩm, bà T. đã có đơn thông báo với tòa là đang nằm bệnh viện. Việc bà vắng mặt là có lý do chính đáng, phải được hoãn xử.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: NÓI XẤU HÀNG XÓM, PHẢI XIN LỖI

ÁI PHƯƠNG

Tung tin đồn thất thiệt về chuyện ông hàng xóm lăng nhăng, một người đã bị tòa buộc phải công khai xin lỗi… Ông P. và ông S. cùng sinh sống dưới một lũy tre làng ở huyện X (Phú Yên), xưa nay vốn không có mâu thuẫn, thù hằn gì nhau. Thế nên chuyện ông này nói xấu ông kia để rồi hai ông phải lôi nhau ra tòa giải quyết đã làm xôn xao làng trên xóm dưới.

Tung tin hàng xóm ngoại tình

Theo ông P. trình bày, khoảng tháng 5-2008, ông S. đã đặt điều nói xấu ông rất nhiều lần với nhiều người trong làng, trong xã rằng ông quan hệ nam nữ bất chính với bà H. trong khi ông hoàn toàn đứng đắn, không có gì riêng tư với bà H. Việc tung tin đồn thất thiệt vô căn cứ của ông S. đã làm vợ con ông nghi ngờ, ảnh hưởng lớn đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông, làm ông hết sức buồn bực, không yên tâm lao động sản xuất, gia đình bị xáo trộn, mất hạnh phúc. Vì vậy, ông P. quyết tâm khởi kiện ông S., đề nghị TAND huyện X buộc ông S. phải công khai xin lỗi ông tại nơi cư trú của hai người.

Trong khi đó tại tòa, ông S. khai rằng: Vào khoảng giữa đêm 10-9-2007 âm lịch, khi ông đang ở nhà bà H. thì có gặp ông P. tại đó. Vì ông P. chửi mắng, hăm dọa đánh ông nên ông đã gọi vợ con ông P. đến để nói cho rõ ràng sự việc này. Khi đó có nhiều người nghe thấy, ông chỉ nói ra sự thật, không có gì sai trái nên không đời nào chấp nhận xin lỗi ông P.

Sau khi nghe lời khai của nhiều nhân chứng về việc ông S. có tung tin ông P. lăng nhăng với bà H. trong khi không có chứng cứ gì, TAND huyện X đã tuyên chấp nhận yêu cầu của ông P., buộc ông S. phải chấm dứt ngay hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông P. Ngoài ra, ông S. còn phải công khai xin lỗi ông P. tại nơi cư trú của hai người.

Continue reading

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÈ HỢP TÁC XÃ

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa tư tưởng hợp tác xã (HTX) vào Việt Nam. Ngay từ khi còn bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã quan tâm đến tổ chức kinh tế quan trọng này. Trong cuốn Đường Kách mệnh viết năm 1927, sau khi phân tích những lợi ích của HTX, Người đã nhấn mạnh: “Tục ngữ An Nam có những câu: “Nhóm lại thành giàu, chia ra thành khó” và “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao”. Lý luận HTX đều ở trong những điều ấy”.

Tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đưa ra khái niệm: “HTX là góp gạo thổi cơm chung, cho khỏi hao của tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ”. Đến năm 1946, Người xác định: “HTX là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà ích lợi nhiều” Người giải thích rõ sự khác nhau giữa hội buôn và HTX ở chỗ: “Hội buôn thì lợi riêng, HTX thì lợi chung” và “HTX tuy là để giúp đỡ lẫn nhau, nhưng không giống các hội từ thiện vì các hội ấy chỉ tiêu đi mà không làm ra… HTX có tiêu đi, có làm ra, chỉ giúp những người trong Hội, nhưng giúp một cách bình đẳng một cách “cách mệnh” ai cũng giúp và ai cũng bị giúp”. Xét theo thành phần kinh tế và tính chất xã hội, Người cho rằng: “Trong chế độ dân chủ mới… các HTX nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. HTX là thành phần thứ hai trong năm thành phần kinh tế ở nước ta”.

Continue reading

%d bloggers like this: