Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT TRỌNG TÀI

GS-TSKH Đào Trí Úc – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Luật gia Việt Nam, Ủy viên thường trực Ban soạn thảo Luật Trọng tài thương mại, Tổ trưởng Tổ biên tập Luật Trọng tài thương mại

1. Bối cảnh của việc xây dựng, đổi mới pháp luật về trọng tài

Bối cảnh kinh tế-xã hội, quốc tế

Hơn lúc nào hết, tranh chấp và giải quyết tranh chấp đang là vấn đề “nổi cộm” của nền kinh tế thế giới hiện nay. Có thể khẳng định như vậy bởi lẽ quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, trong điều kiện đó mỗi quốc gia không thể đứng ngoài, tự tách mình khỏi quá trình hội nhập quốc tế. Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, sản phẩm làm ra của mỗi tập đoàn không còn bó buộc trong một phạm vi và lãnh thổ nhất định, mà được gắn kết với nền kinh tế toàn cầu. Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất, kinh doanh không những nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng phục vụ, mà còn mở rộng hợp đồng với rất nhiều đối tác. Quá trình liên doanh, liên kết, mở rộng hợp đồng, sự phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ tư tất yếu sẽ nảy sinh những vấn đề tranh chấp. Sự ra đời của trọng tài như là một hệ quả tất yếu trong việc đa dạng hoá các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Pháp luật hoàn toàn cho phép các nhà kinh doanh, các cá nhân, tổ chức có quyền được lựa chọn mô hình mà mình yêu thích để giải quyết những tranh chấp phát sinh. Chính điều này đã tạo cơ sở cho sự ra đời của các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR), mà phương thức có vị trí quan trọng nhất trong số đó là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Do đó, ở các nước trên thế giới, ngoài toà án, đều có một cơ quan tài phán khác là trọng tài.

Ở các nước theo hệ thống luật án lệ hầu hết đều có Luật Trọng tài: Ví dụ: Mỹ có Luật Trọng tài liên bang năm 1925, Anh có Luật Trọng tài năm 1959, 1975, 1979; Australia có Luật liên bang về Trọng tài Thương mại quốc tế và các Luật Trọng tài của các bang, Bra-xin, Trung Quốc và rất nhiều các quốc gia khác ở các hệ thống pháp luật khác nhau từ lâu đều đã có Luật Trọng tài. Ở các nước theo truyền thống luật dân sự, một số nước đưa các quy định của pháp luật về Trọng tài vào trong Bộ luật Tố tụng Dân sự như Áo, Đức, Pháp, Ý… Tuy nhiên có một số nước lại ban hành Luật Trọng tài riêng như Phần Lan, Đan Mạch…

Việt Nam là nước theo truyền thống luật dân sự, nhưng pháp luật về Trọng tài cũng có lịch sử phát triển riêng của nó. Vì vậy, dù có những tương đồng, vẫn không thể áp dụng tất cả nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện hành đối với hoạt động của Trọng tài. Do đó, vẫn cần thiết phải xây dựng một Luật Trọng tài bên cạnh Bộ luật Tố tụng Dân sự với những điểm chung trong thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tài phán kinh tế nhưng cũng phải thể hiện những nét riêng trong hoạt động của Trọng tài với tính chất tài phán phi chính phủ để phân biệt với tài phán nhà nước.

Nhìn chung, các nước trên thế giới đều quan niệm trọng tài là mô hình giải quyết tranh chấp quan trọng. Tổng thư ký Tòa án Trọng tài Quốc tế (ICC) Jason Fry đã khẳng định trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn có nhiều ưu thế, trong đó nổi bật là tính nhanh gọn, bí mật và phán quyết của trọng tài là có giá trị chung thẩm… Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng: Đây là con đường mà các doanh nghiệp nước ngoài tin tưởng và các doanh nghiệp Việt Nam cũng nên tin tưởng và lựa chọn. Đồng ý với quan điểm đó, Giám đốc Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) khu vực châu Á cũng khuyến cáo: Trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ làm ăn với các nước trên thế giới, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một sân chơi mà vấn đề tranh chấp thương mại diễn ra thường xuyên thì ngay từ lúc này, các doanh nghiệp Việt Nam cần có một cái nhìn nghiêm túc về những ưu thế của trọng tài thương mại.

Trong bối cảnh xây dựng Luật Trọng tài, việc nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, từ đó áp dụng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện hành ở Việt Nam là nhân tố có vai trò quan trọng hiện nay. Trong việc nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, điều quan trọng cần nhấn mạnh là ảnh hưởng và mối quan hệ tương tác giữa pháp luật quốc gia với pháp luật, thông lệ quốc tế và nhu cầu hội nhập về pháp luật. Một xu hướng đang trở thành phổ biến trên thế giới là các nước tiếp thu có chọn lọc Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của UNCITRAL làm cơ sở để xây dựng Luật về Trọng tài của quốc gia mình. Trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, việc tiếp thu có chọn lọc Luật Mẫu của UNCITRAL cũng là vấn đề cần thiết. Bên cạnh đó, cũng cần chú ý tới Luật Trọng tài của các nước có điều kiện hoàn cảnh tương đồng Việt Nam với trường hợp điển hình là Luật Trọng tài Trung Quốc, các nước có nền kinh tế và pháp luật về trọng tài phát triển như Anh, Xingapo, Cộng hòa Liên bang Đức…

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động trọng tài như một hình thức có nhiều ưu điểm trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, đặc biệt là trong điều kiện thực thi cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới, thì việc xây dựng và ban hành Luật Trọng tài là một yêu cầu khách quan. Sự ra đời của Luật Trọng tài góp phần tạo niềm tin cho các cá nhân, tổ chức đối với trọng tài, là cơ sở để các cá nhân, tổ chức tự tin hơn khi đến với các tổ chức trọng tài.

Luật Trọng tài của Việt Nam cần thừa nhận các nguyên tắc cơ bản của Trọng tài đã được áp dụng rộng rãi ở các nước và phải đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh như bí mật, linh hoạt, nhanh gọn. Luật Trọng tài Việt Nam cũng phải thể hiện được các nội dung cơ bản về các vấn đề: Phạm vi trọng tài, quy định về thoả thuận trọng tài, Trọng tài viên, thủ tục trọng tài, quyết định trọng tài, thi hành phán quyết trọng tài…Trong nội dung các quy định cần thể hiện được một cơ chế giải quyết tranh chấp thuận lợi, linh hoạt, công bằng và hiệu quả cao. Các đặc điểm ưu việt của hình thức tố tụng trọng tài cần được quán triệt, nhất quán xuyên suốt trong các quy định về tố tụng trọng tài như: đảm bảo nguyên tắc tự do thoả thuận, tự do định đoạt của các bên, bảo đảm quyền tham gia giám sát mọi giai đoạn của quy trình tố tụng trọng tài… Nếu không có những quy định cụ thể để thực hiện cơ chế này thì Trọng tài chỉ là một bản sao nhợt nhạt của Toà án. Các quy định về Tố tụng Trọng tài phải đảm bảo sự thống nhất, tương hỗ với các quy định tố tụng tại Toà án trong giải quyết tranh chấp cùng loại.

Đánh giá hiệu quả của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003

Ở Việt Nam, xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh trong nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2003 với nhiều quy định tiến bộ nhằm thúc đẩy hoạt động trọng tài thương mại ở nước ta, tạo điều kiện phát triển đội ngũ trọng tài viên và nâng cao vai trò của phương thức trọng tài trong cơ chế giải quyết tranh chấp. Sự ra đời của Pháp lệnh đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật về trọng tài thương mại. Pháp lệnh đã khắc phục được những điểm bất cập của các văn bản pháp luật về trọng tài trước đây, đồng thời đưa ra nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế …

Qua 5 năm thực hiện, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã thể hiện nhiều nét ưu việt nhưng vẫn còn bộc lộ một số khiếm khuyết cơ bản sau:

a. Những nét ưu việt:

Thứ nhất, ý nghĩa về mặt điều chỉnh pháp luật.

Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường- Trọng tài thực sự đã chuyển từ một cơ quan hành chính nhà nước có chức năng giải quyết tranh chấp sang một tổ chức phi chính phủ có chức năng tài phán. Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật trọng tài của Việt Nam. Đó là nền tảng pháp lý cho Trọng tài hoạt động tiếp cận, hoà nhập với Trọng tài của các nước phát triển, khẳng định bản chất pháp lý và vai trò quan trọng của Trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Trọng tài Thương mại hiện nay không còn là công cụ, cơ chế để thiết lập và thực hiện hợp đồng kinh tế mà đơn thuần chỉ là cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại với tư cách của một tổ chức phi chính phủ. Tất cả các Trung tâm Trọng tài trên toàn lãnh thổ cùng hoạt động theo một cơ chế pháp lý của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại có hiệu lực từ ngày 01/07/2003. Khái niệm Trọng tài Thương mại được thay thế cho khái niêm Trọng tài kinh tế hay Trọng tài phi chính phủ trước đây và bản chất pháp lý của khái niệm này được xác định đầy đủ trong Pháp lệnh Trọng tài Thương mại hiện hành.

Thứ hai, Về mô hình, cơ cấu tổ chức của Trọng tài.

Cũng giống như quy định của các nước có hệ thống pháp luật Trọng tài hoàn thiện. Việt Nam thừa nhận hai hình thức trọng tài: Trọng tài vụ việc (adhoc) và Trọng tài thường trực. Sự thừa nhận hai hình thức trọng tài là điểm đổi mới đáng kể trong nội dung của pháp luật về Trọng tài. Trước ngày 01/07/2003 ở nước ta chỉ thừa nhận một hình thức Trọng tài duy nhất là Trọng tài thường trực. Đây là lần đầu tiên hình thức trọng tài vụ việc được thừa nhận chính thức trong một văn bản pháp luật quan trọng áp dụng giải quyết tranh chấp trong quan hệ kinh tế trong nước và quan hệ kinh tế quốc tế. Quy định tại Khoản 2 Điều 26 Pháp lệnh trọng tài Thương mại tạo điều kiện cho các bên tranh chấp toàn quyền tự do lựa chọn cho mình những người có hiểu biết, có uy tín tham gia giải quyết tranh chấp

Thứ ba, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp Trọng tài

Thẩm quyền của Trọng tài được hiểu là giới hạn của những vụ việc mà Trọng tài được quyền giải quyết thể hiện ở hai nội dung cơ bản: Phạm vi các loại việc Trọng tài được giải quyết và thẩm quyền của các Trung tâm Trọng tài về giải quyết tranh chấp. Mặc dù hoạt động của Trọng tài là theo sự thoả thuận của các bên nhưng nếu tranh chấp đó không được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền thì Trọng tài không được giải quyết. Nếu giải quyết thì quyết định cua Trọng tài sẽ bị Toà án huỷ khi có yêu cầu. Pháp luật các nước thường xác định phạm vi thẩm quyền của Trọng tài theo hai cách. Cách thứ nhất liệt kê những tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài. Theo cách này, những tranh chấp nằm ngoài phạm vi được liệt kê Trọng tài không thể giải quyết. Cách quy định này tạo thuận lợi cho người nghiên cứu nhưng có điểm hạn chế là không bao quát, dự liệu được các tranh chấp có thể giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài nên sẽ hạn chế quyền lựa chọn của các bên tranh chấpvà hạn chế hiệu quả hoạt đọng của Trọng tài. Phương pháp này sẽ không phù hợp với những nước có nền kinh tế thị trường đa dạng về chủ thể và tranh chấp. Cách thứ hai liệt kê các loại việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. Theo phương pháp loại trừ này, thẩm quyền của Trọng tài được xác định ở phạm vi mở, tạo khả năng thích ứng và linh hoạt trong tố tụng trọng tài. Nhiều quốc gia áp dụng cách thứ hai, theo đó về nguyên tắc không cho phép Trọng tài giải quyết các vấn đề liên quan về: quyền nhân thân; tình trạng cá nhân, quan hệ hôn nhân, gia đình; tranh chấp về phá sản, vỡ nợ công ty, về sở hữu trí tuệ; tranh chấp liên quan đến trật tự công cộng, lợi ích công… Ở một số nước, các vấn đề trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ như phạm vi bảo hộ, hiệu lực của văn bằng, vi phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp không thể giải quyết bằng Trọng tài nhưng các bên lại có thể giải quyết bằng Trọng tài vấn đề li-xăng. Một số nước cho phép các chủ nợ có thể có thể ký kết thoả thuận Trọng tài về giải quyết nợ trước khi Toà án tiến hành thủ tục phá sản. Trong lĩnh vực hình sự, các bên không thể thoả thuận về mức hình phạt song có thể thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại và có thể dùng Trọng tài để giải quyết.

Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 của Việt Nam xác định phạm vi thẩm quyền theo cách liệt kê các loại việc Trọng tài được giải quyết (Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại). So với các quy định trước đây cách liệt kê này cũng đã mở rộng phạm vi Trọng tài ở rất nhiều lĩnh vực.

Thẩm quyền của các Trung tâm Trọng tài ở Việt Nam không được pháp luật phân định theo vụ việc hay lãnh thổ mà hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Nói đúng hơn thẩm quyền của các Trung tâm Trọng tài giống nhau nhưng nơi nào chưa được lựa chọn thì có quyền giải quyết tranh chấp. Quy định này của pháp lệnh năm 2003 đã tạo nên một mặt bằng pháp lý bình đẳng cho tất cả các Trung tâm Trọng tài trên cả nước. Căn cứ pháp lý để xác định vụ việc thuộc thẩm quyền của mỗi Trung tâm Trọng tài là thoả thuận trọng tài do các bên thành lập. Các bên tranh chấp có quyền thoả thuận lựa chọn bất cứ Trung tâm Trọng tài nào mà không phụ thuộc vào quốc tịch, nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của các bên. Trên cơ sở quy định của pháp luật về thẩm quyên vụ việc của Trọng tài, các Trung tâm Trọng tài có quyền xác định lĩnh vực hoạt động theo khả năng chuyên môn của các trọng tài viên của mình. Mọi thoả thuận trọng tài đều phải thể hiện bằng văn bản. Thoả thuận trọng tài có thể là thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng Trọng tài. Điều này khác với một số nước theo luật án lệ. Tuy nhiên Luật Trọng tài của nhiều nước khác trên thế giới và Luật mẫu UNCITRAL và Công ước quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế đều đòi hỏi thoả thuận trọng tài phải làm văn bản. Nội dung thoả thuận trọng tài phụ thuộc vào hình thức trọng tài. Đối với Trọng tài Adhoc các bên thường phải thoả thuận rất nhiều nội dung như: cách thức lựa chọn trọng tài viên, địa điểm trọng tài, thời hạn trọng tài, luật áp dụng, ngôn ngữ, trình tự trọng tài… Đối với Trọng tài thường trực do các trung tâm đã có bản Quy tắc tố tụng nên các bên không cần thoả thuận các nội dung này trừ khi họ muốn thoả thuận khác với quy định trong bản Quy tắc của Trung tâm. Vì vậy, đa số các thoả thuận trọng tài trong trường hợp này chỉ ghi tên Trung tâm Trọng tài sẽ giải quyết nếu tranh chấp phát sinh là đủ.

Có thể nói rằng các quy định về thoả thuận trọng tài hiện nay là tương đối đầy đủ.

Thứ tư, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 đã xác định đầy đủ các nguyên tắc tố tụng trọng tài

Nguyên tắc tôn trọng sự tự định đoạt của các bên tranh chấp: Đây là nguyên tắc cốt lõi của toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài vì thực chất sự hình thành trọng tài là do ý chí tự nguyên của các bên đương sự. Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại quy định “tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thoả thuận trọng tài”. Nguyên tắc này thể hiên các bên có toàn quyền lựa chọn hay không lựa chọn phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp; chọn các Trung tâm Trọng tài; chọn Trọng tài viên; chọn địa điểm tiến hành trọng tài; và cao hơn nữa họ còn có quyền thoả thuận các quy tắc tố tụng của của trọng tài. Thậm chí trong quá trình tố tụng các bên có quyền thoả thuận giải quyết tranh chấp và quyết định việc chấm dứt tố tụng trọng tài.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng cho các bên tranh chấp trong suốt quá trình tố tụng: Đây là nguyên tắc đã được Bản luật mẫu UNCITRAL thừa nhận và được Trọng tài của tất cả các nước thực hiện. Theo nguyên tắc này, các bên tranh chấp hoàn toàn có quyền như nhau trong việc lựa chọn, khước từ Trọng tài viên, lựa chọn địa điểm, đưa ra yêu cầu và các lý lẽ biên minh cũng như các chứng cứ để Trọng tài xem xét và việc tiếp nhận thông tin từ các bên. Trong quan hệ tranh chấp các bên có địa vị pháp lý như nhau và trong tố tụng trọng tài các bên có tư cách tố tụng bình đẳng với nhau trong tất cả mọi hoạt đọng nhằm bảo đảm giải quyết vụ tranh chấp một cách công bằng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên. Thưc hiện tốt nguyên tắc này thì việc giải quyết tranh chấp mới có khả năng thành công và phán quyết của Trọng tài sẽ dễ dàng được các bên tự nguyện thi hành.

Nguyên tắc độc lập của Trọng tài viên trong quá trình giải quyết tranh chấp: Khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại quy định “Khi giải quyết tranh chấp, Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư, phải căn cứ vào pháp luật và tôn trọng sự thoả thuận của các bên”. Sự độc lập là yêu cầu vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đến việc giải quyết và đưa ra một phán quyết khách quan cho vụ tranh chấp. Hơn thế nữa sự vô tư khách quan của trọng tài viên còn góp phần khẳng định uy tín của Trọng tài với các bên. Trong quá trình tố tụng không được có bất kỳ một sự can thiệp của bất kỳ ai đối với Trọng tài viên. Khi giải quyết vụ việc, các Trọng tài viên trong Hội đồng Trọng tài độc lập với nhau, chỉ lấy pháp luật và sự thoả thuận của các bên làm cơ sở cho quyết định của mình. Bất kỳ trọng tài viên nào không bảo đảm được sự khách quan trong khi làm việc, các bên tranh chấp đều có quyền thay đổi.

Nguyên tắc giữ bí mật thông tin trong quá trình giải quyết tranh chấp: Nguyên tắc này xuất phát từ đặc thù của hoạt đọng kinh doanh, thương mại là nhanh nhạy, bí mật và uy tín. Trong co chế thị trường, những yếu tố này quyết định sức mạnh thậm chí sự thành bại, sống còn của các nhà kinh doanh trên thương trường cạnh tranh. Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên luôn muốn việc giải quyết tranh chấp của mình được giữ kín, các bí mật, bí quyết trong kinh doanh không bị tiết lộ, uy tín của mình không bị ảnh hưởng. Nguyên tắc này được thể hiện bằng quy định: các phiên họp trọng tài không công khai, ngoài Trọng tài viên và các bên tranh chấp không ai được tham dự trừ khi có sự đồng ý của các bên, Trọng tài viên phải đảm bảo giữ bí mật những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của các bên mà mình biết được trong quá trình giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng tài không được công bố công khai trừ khi được các bên cho phép…

Nguyên tắc quyết định của Trọng tài là chung thẩm và không thể bị kháng cáo: Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng trọng tài. Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của hoạt động Trọng tài là nhân danh ý chí tối cao và quyền lực các bên trao cho để giải quyết tranh chấp. Nguyên tắc này chỉ được thể hiện bằng quy định: Tố tụng trọng tài là tố tụng một cấp, phán quyết là chung thẩm, các bên không có quyền kháng cáo. Các bên chỉ có quyền yêu cầu Toà án huỷ quyết định trọng tài trong những trường hợp rất hạn chế và Toà án trong trường hợp này không được quyền xét xử lại vụ tranh chấp mà chỉ kiểm tra tính hợp pháp của quyết định Trọng tài.

Thứ năm, Pháp lệnh năm 2003 đã quy định chặt chẽ về các giai đoạn của tố tụng trọng tài. Tố tụng trọng tài gồm các bước cơ bản sau đây:

· Bước thứ nhất: Gửi đơn khởi kiện.

Việc gửi đơn khởi kiện của nguyên đơn phải thoả mãn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại. Đây là lần đầu tiên vấn đề thời hiệu khởi kiện được pháp luật về Trọng tài quy định một cách cụ thể.

· Bước thứ hai: Lựa chọn hoặc chỉ định Trọng tài viên:

Các quy định của pháp lệnh năm 2003 về thủ tục chọn và chỉ định Trọng tài viên rất đầy đủ và chặt chẽ tôn trọng quyền định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp thể hiện đặc trưng của Trọng tài là quyền lực thuộc về các bên có lợi ích. Tố tụng trọng tài đảm bảo việc thành lập nên Hội đồng Trọng tài là thuộc ý chí quyết định của các bên, Chủ tịch trung tâm Trọng tài hoặc Toà án chỉ định khi có yêu cầu nhằm hạn chế việc cố tình kéo dài thời hạn tố tụng để gây trở ngại cho hoạt động trọng tài và ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của một bên.

· Bước thứ ba: Lựa chọn địa điểm, ngôn ngữ trọng tài và pháp luật áp dụng

· Bước thứ tư: Gửi bản tự bảo vệ:

· Bước thứ năm: Đơn kiện lại

· Bước thứ sáu: Cung cấp và thu thập chứng cứ cho vụ tranh chấp

· Bước thứ bảy: Nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc.

· Bước thứ tám: Biện pháp khẩn cấp tạm thời

Pháp lệnh Trọng tài Thương mại quy định cũng ghi nhận cụ thể về sự hỗ trợ của Tòa án để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đây là biện pháp hỗ trợ quan trọng nhất của Toà án đối với việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Quy định của pháp lệnh phù hợp với Luật trọng tài của nhiều nước, phù hợp với Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa kỳ.

· Bước thứ chín: Hoà giải.

· Bước thứ mười: Mở phiên họp Trọng tài.

Pháp lệnh năm 2003 có những quy định thông thoáng hơn cho các trường hợp giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài bằng Trọng tài. Với các tranh chấp trong quan hệ thương mại quốc tế, các bên không những được áp dụng những quy định, những nguyên tắc cơ bản nói trên mà còn có quyền thoả thuận chọn các nguyên tắc tố tụng trọng tài của một tổ chức Trọng tài nước ngoài, hoặc yêu cầu Toà án nước ngoài chỉ định Trọng tài viên theo quy định của pháp luật của nước đó. Các bên có quyền thoả thuận chọn và áp dụng luật nước ngoài để giải quyết vụ tranh chấp, có quyền thoả thuận địa điểm tiến hành trọng tài tại Việt Nam hoặc nước ngoài, có quyền thoả thuận việc sử dụng ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài.

Thứ sáu, Pháp lệnh năm 2003 đã quy định sự hỗ trợ của nhà nước đối với các bên tranh chấp tại Trọng tài Thương mại.

Là tổ chức phi chính phủ, Trọng tài Thương mại ở tất cả các nước đều không mang trong mình quyền lực nhà nước khi giải quyết tranh chấp. Điều này tạo nên cho Trọng tài những thuận lợi về việc chủ động trong quá trình tố tụng giải quyết tranh chấp, tôn trọng và bảo đảm cho các bên quyền tự do định đoạt tối đa về mọi lĩnh vực liên quan đến giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên cũng đặt ra cho Trọng tài Thương mại những khó khăn khi không có sự đồng thuận, hợp tác thiện chí của cả hai bên tranh chấp trong quá trình tố tụng cũng như việc thi hành phán quyết Trọng tài. Đây có thể coi là vấn đề góp phần quyết định đến sự hấp dẫn của phương thức tài phán này và quyết định hiệu quả trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Trọng tài. Với những nước có Luật Trọng tài, có lịch sử phát triển lâu đời của Trọng tài Thương mại thì trong nội dung của pháp luật về tài phán kinh tế đều có những quy định về sự hỗ trợ quyền lực nhà nước thông qua vai trò của cơ quan tài phán tư pháp là Toà án để trọng tài hoạt động thuận lợi hơn trong giải quyết tranh chấp kinh doanh. Riêng Việt Nam, suốt một thời gian dài của lịch sử lập pháp chúng ta không hề quy định về sự hỗ trợ của tài phán nhà nước đối với tài phán phi chính phủ trong pháp luật về tài phán kinh tế mà chỉ đơn thuần là sự quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động của Trọng tài. Pháp luật Trọng tài của chúng ta trước đây được xây dựng trên một quan điểm hoàn toàn xa lạ với thông lệ quốc tế. Theo quan điểm này, Trọng tài là một thiết chế tài phán phi chính phủ, do đó phải được thiết kế sao cho có thể tồn tại một cách độc lập với Toà án. Hậu quả là giữa Trọng tài và Toà án ở nước ta trong thời gian qua không hề tồ tại bất cứ một mối quan hệ nào và ở đây có thể coi là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất làm suy yếu sức mạnh và sức hấp dẫn của Trọng tài. Đó là một trong những ngưyên nhân cơ bản làm cho hình thức tài phán này ngày càng kém hiệu quả, không thuyết phục được các nhà kinh doanh lựa chọn yêu cầu giải quyết tranh chấp, mặc dù trên thế giới Trọng tài là phương thức rất được các doanh nhân ưa chuộng. Trên thế giới mối quan hệ đặc trưng giữa Toà án và Trọng tài là mối quan hệ hỗ trợ và giám sát. Nhờ có sự hỗ trợ và giám sát của Toà án mà Trọng tài tuy là tổ chức tài phán phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động được một cách có hiệu quả. Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003, Pháp lệnh thi hành án dân sự 2003, BLTTDS 2004 đã thể hiện một quan điểm mới tiếp cận với sự phát triển của pháp luật tài phán của các nước phát triển. Trong đó, một trong những nội dung cơ bản là việc thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Toà án nhân dân trong hỗ trợ, giám sát hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của Trọng tài Thương mại và sự hỗ trợ của nhà nước thông qua Cơ quan thi hành án dân sự về cơ chế thi hành phán quyết của Trọng tài. Có thể gọi đây là một sự tiếp sức cho Trọng tài, thể hiện quan điểm của nhà nước trong việc đa dạng hoá phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ của nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịnh thương mại. Đó cũng là một sự minh chứng về việc đáp ứng nhu cầu hội nhập của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Sự hỗ trợ của Toà án đối với hoạt động cuat Trọng tài Thương mại thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

-Toà án hỗ trợ lựa chọn Trọng tài viên: Trong tố tụng trọng tài quyền lựa chọn trọng tài viên thuộc về các bên tranh chấp. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ không phải lúc nào cả hai bên cũng tìm được tiếng nói chung trong việc xác định trọng tài viên cụ thể tham gia giải quyết tranh chấp. Do đó, khi thiếu sự thiện chí của một bên thì hoạt động của Trọng tài thể không thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của Toà án nhân danh quyền lực nhà nước để quyết định. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại đã đưa ra quy định liên quan đến thẩm quyền của Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc chỉ định trọng tài viên, theo đó thẩm quyền này thuộc về Toà án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú.

– Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp. Quy định này được ghi nhận tại khoản 3 Điều 99 BLTTDS. Đối với hoạt động giải quyết tranh chấp của Trọng tài, đây là sự hỗ trợ vô cùng cần thiết và quan trọng. Bởi vì Trọng tài chỉ nhân danh quyền lực của các bên để giải quyết vấn đề tranh chấp giữa hai bên đó mà thôi, không thể đương nhiên có quyền lực đối với các chủ thể thứ ba ngoài quan hệ tranh chấp. Trong quá trình tố tụng, có nhiều tài liệu, giấy tờ nằm trong tay người thứ ba thì Trọng tài không có quyền yêu cầu họ cung cấp hoặc thu giữ những tài liệu đó phục vụ cho hoạt động giải quyết tranh chấp. Hoặc muốn cấm một bên tranh chấp chuyển dịch tài sản, hoặc muốn kê biên tài sản, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp hay phong tỏa tài khoản ở nơi gửi giữ, phong tỏa tài khoản tại Ngân hàng ….thì các Trọng tài viên không thể tự mình thực hiện, cũng không có quyền ra lệnh cho người khác thực hiện. Vì vậy sự giúp đỡ, hỗ trợ của Toà án trong những trường hợp này sẽ giúp cho Trọng tài thuận tiện hơn rất nhiều trong tố tụng giải quyết tranh chấp.

– Toà án hỗ trợ Trọng tài trong việc lưu giữ hồ sơ: Sự hỗ trợ này xuất phát từ việc Pháp lệnh Trọng tài Thương mại thừa nhận hình thức trọng tài Ad – hoc, một hình thức do các bên thành lập, chỉ tồn tại từ khi được thành lập đến khi giải quyết xong tranh chấp. Sau khi ra phán quyết trọng tài Ad – hoc sẽ giải tán nên hồ sơ phải được Toà án quản lý. Khoản 2, Điều 48 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại quy định việc lưu giữ hồ sơ Hội đồng Trong tài do các bên thành lập tại Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài ra quyết định trọng tài hoặc lập biên bản hoà giải. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng quy định này thực sự không cần thiết và thiếu tính khả thi trong thực tiễn. Bởi lẽ trong tố tụng Trọng tài các bên đã được tiếp nhận đầy đủ các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp. Hơn nữa, liên quan đến vấn đề huỷ quyết định trọng tài, pháp luật quy định Toà án không xét lại vụ tranh chấp mà chỉ xét đến các yêu cầu về tính hợp pháp của quyết định trọng tài theo yêu cầu và bằng chứng đương sự cung cấp. Thông lệ quốc tế trong Công ước New York, Luật mẫu của UNCITRAL và pháp luật các nước đều không quy định vấn đề này.

Ngoài chức năng hỗ trợ, Toà án còn có chức năng giám sát đối với hoạt động của Trọng tài. Chức năng này thể hiện Toà án nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện một số hành vi sau đây:

-Toà án có quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Trọng tài về tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài: Trong tố tụng trọng tài, thoả thuận trọng tài là nền tảng, cơ sở pháp lý quyết định việc tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải mọi thoả thuận trọng tài đều được thực hiện một cách chuẩn xác, theo đúng quy định của pháp luật và do đó, không thể tránh khỏi tranh chấp giữa các bên về hiệu lực thoả thuận này. Tính pháp lý của vấn đề được đặt ra là nếu thoả thuận trọng tài có hiệu lực thì Trọng tài mới được giải quyết tranh chấp, còn nếu thoả thuận trọng tài vô hiệu thì các bên có quyền lựa chọn phương thức khác để giải quyết tranh chấp của họ. Pháp luật Trọng tài hầu hết các nước trên thế giới đều xác định Toà án là cơ quan phù hợp nhất được giao quyền xem xét tính có hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Điều 30 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại Việt Nam quy định về vai trò của Toà án trong việc xem xét thoả thuận Trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp của Hôi đồng Trọng tài đã thừa nhận thông lệ này.

Trường hợp Toà án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì Hội đồng Trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp. Nếu không có thoả thuận khác, các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra Toà án. Thời hiệu khởi kiện ra Toà án là hai năm, nhưng không tính thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài đến khi Toà án ra quyết định.

– Toà án có quyền huỷ quyết định Trọng tài:

Với tính chất phi chính phủ, Trọng tài hoạt động một cách độc lập, tự chịu trách nhiệm, không có bất kỳ một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có quyền can thiệp vào hoạt động giải quyết tranh chấp của Trọng tài nếu không có yêu cầu từ phía các bên tranh chấp.

Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên, hạn chế sự tuỳ tiện của Trọng tài viên, pháp luật quy định sau khi vụ tranh chấp được giải quyết bởi Trọng tài, nếu một bên không đồng ý sẽ có quyền yêu cầu Toà án nơi Hội đồng Trọng tài ra quyết định để yêu cầu được huỷ quyết định đó. Khi giải quyết Toà án không xét xử lại viêc tranh chấp bởi Toà án không phải là cấp xét xử thứ hai của Trọng tài đồng thời cũng không có quyền kết luận đúng sai về nội dung phán quyểt của Trọng tài đối với vấn đề xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tranh chấp mà chỉ có quyền xem xét căn cứ để ra quyết định huỷ bỏ hoặc giữ nguyên quyết định trọng tài. Trường hợp quyết định trọng tài bị huỷ bỏ thì có nghĩa tranh chấp chưa được giải quyết và các bên có quyền khởi kiện tại Toà án.

Bên cạnh vai trò hỗ trợ của Toà án, pháp luật còn quy định vai trò hỗ trợ của Cơ quan thi hành án dân sự đó với việc thi hành phán quyết của Trọng tài. Thủ tục thi hành quyết của Trọng tài trong nước được tiến hành giống với thủ tục thi hành các bản án, quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật. Các quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho sự phát triển của Trọng tài tại Việt Nam hiện nay.

b. Những bất cập của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003

Hiện nay, cả nước có 7 Trung tâm Trọng tài với tổng số Trọng tài viên là 165, trong đó riêng Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam có 123 Trọng tài viên. Thực tế các tranh chấp giải quyết bằng Trọng tài chủ yếu tập trung tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam. Năm 2004 Trung tâm này thụ lý 26 vụ, trong đó tranh chấp có yếu tố nước ngoài là 18 vụ chiếm 69%, còn lại 08 vụ tranh chấp trong nước, kể cả tranh chấp công ty liên doanh; Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội giải quyết được 02 vụ, các Trung tâm còn lại chưa giải quyết vụ nào. Năm 2005 thụ lý 18 vụ, (giảm 25% so với năm 2004) đã giải quyết 05 vụ. Hầu hết các tranh chấp giá trị không lớn và nguyên đơn phần lớn là doanh nghiệp trong nước. Nếu so với thực tế giải quyết ở các Trung tâm Trọng tài các nước (Ví dụ: Hiệp hội Trọng tài Mỹ năm 1981 đã giải quyết 38.421 vụ, năm 1999 giải quyết tới 140.000 vụ; Toà án Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại Quốc tế năm 2000 giải quyết xét xử 540 vụ; Hội đồng Trọng tài Thương mại và Kinh tế Trung Quốc năm 1999 xử trên 700 vụ…) thì thực tế trên đây cho thấy hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các Trung tâm Trọng tài Thương mại Việt Nam là bức tranh ảm đạm, không mấy lạc quan.

Nguyên nhân các doanh nhân không hào hứng tìm đến các Trung tâm Trọng tài Thương mại Việt Nam có thể lý giải bởi lý do cơ bản: Đội ngũ Trọng tài viên của các Trung tâm chưa thực sự là đội ngũ mạnh, chưa có năng lực giải quyết tranh chấp nên khó thuyết phục được, thậm chí nhiều trường hợp đương sự đã nộp đơn nhưng sau khi tiếp xúc ngay lập tức rút đơn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quen với phương thức Trọng tài nhưng các Trung tâm lại không có hình thức giới thiệu, quảng bá về mình để cung cấp thông tin cho doanh nghiệp. Do đó khoảng cách giữa Trọng tài và giới doanh nhân ngày càng rộng, không có cơ hội xích lại gần nhau.

Nhìn nhân 5 năm đã qua của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 có thể thấy những bất cập và những vướng mắc sau đây:

Thứ nhất, đó là vấn đề liên quan đến các quy định tại Điều 1 và kế đó là Khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003.

Như đã nói ở trên, các quy định này của pháp lệnh đã xác định phạm vi thẩm quyền theo cách liệt kê các loại việc mà Trọng tài được giải quyết.

Đến thời điểm này theo Luật Doanh nghiệp thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. (Khoản 5 Điều 4 Luật Doanh nghiệp). Luật Thương mại quy định: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại” (Điều 283) và liệt kê 14 hành vi được xác định là hành vi thương mại chủ yếu là hoạt động mua bán trao đổi mà không bao gồm các hoạt động rất quan trọng như sản xuất công nghiệp, ngân hàng, hối đoái… Pháp lệnh Trọng tài Thương mại tại khoản 3 Điều 2 xác định hoạt động thương mại ở phạm vi rộng hơn Luật Thương mại như chúng tôi đã trình bày trên đây. Bộ luật TTDS tại Khoản 1 Điều 29 lại có cách giải thích về tranh chấp kinh doanh, thương mại có một số điểm giống với khái niệm hoạt động thương mại trong Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, nội dung rộng hơn song lại không bao hàm cả hai khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp và khái niêm thương mại trong Luật Thương mại và khái niệm thương mại trong Pháp lệnh Trọng tài Thương mại. Do vậy, khi pháp luật còn chưa thống nhất thì quy định thẩm quyền theo cách loại trừ sẽ thuận lợi hơn rất nhiều trong thực tiễn áp dụng, bảo đảm hiệu lực pháp lý của phán quyết Trọng tài, hạn chế việc vô hiệu các phán quyết do nhầm lẫn trong xác định phạm vi thẩm quyền.

Thứ hai, vấn đề lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài trong giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài:

Hiện nay, mỗi Trung tâm Trọng tài sau khi thành lập đều có quy tắc hoạt động riêng của mình. Về nguyên tắc nếu các bên tranh chấp lựa chọn Trọng tài Ad – hoc thì họ có thể thoả thuận chọn áp dụng các quy tắc tố tụng của bất kỳ Trung tâm Trọng tài nào kể cả trong nước và quốc tế. Nhưng điều này đối vớí hình thức trọng tài do các Trung tâm Trong tài Thương mại Việt Nam tổ chức thì không thể áp dụng được trong thực tiễn. Quy định này tại khoản 2 Điều 49 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại đã cản trở hoạt động của Trọng tài và quyền khởi kiện của các bên tranh chấp. Thực tiễn cho thấy, khi các bên tranh chấp có thoả thuận theo cách thức nảy thì các Trung tâm Trọng tài thường từ chối không thụ lý vì cho rằng không thể thực hiện được. Pháp luật hiện hành không quy định nghĩa vụ thụ lý của Trọng tài, mà chỉ xác định là quyền. Khi Trung tâm Trọng tài đã chọn không thụ lý, các bên gửi đơn đến Toà án cũng sẽ không được thụ lý vì lý do đã có thoả thuận Trọng tài. Trường hợp này nếu các bên tranh chấp thiện chí để thoả thuận lại thì coi như bên có quyền lợi hợp pháp bị gây khó khăn, mất quyền khởi kiện mà không có cơ chế bảo vệ cho họ.

Thứ ba: Về thời hiệu khởi kiện tại Trọng tài; Điều 21 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại quy định: “Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp băng Trọng tài là 2 năm kể từ ngày xảy ra tranh chấp…”. Cách quy định này dẫn đến nhiều khó khăn cho đương sự và cả Trọng tài khi xem xét thụ lý. Bởi không biết căn cứ vào cơ sở nào để xác định chính xác ngày xảy ra tranh chấp. Thực tiễn kinh doanh cho thấy, ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm với ngày xảy ra tranh chấp không phải lúc nào cũng là một, thông thường người ta chỉ có thể có căn cứ để xác định ngày lợi ích bị xâm phạm chứ khó có thẻ có căn cứ để xác định ngày xảy ra tranh chấp. Hiện nay, BLTTDS, Luật Thương mại đều xác định thời hiệu khởi kiện kể từ ngày quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm, nên cách quy định này của Pháp lệnh đã thể hiện sự bất cập và gây nhiều khó khăn cho thực tiễn áp dụng.

Thứ tư: Vấn đề lựa chon Trọng tài viên: Pháp lệnh Trọng tài Thương mại đã thừa nhận quyền lựa chọn Trọng tài viên thuộc về các bên tranh chấp và cơ chế hỗ trợ của Toà án trong trường hợp họ không thực hiện được quyền này. Nhưng vấn đề đáng quan tâm trong các quy định hiên hành là đã tạo nên sự bất bình đẳng giữa các bên trong vụ tranh chấp của Việt Nam với nhau và các bên tranh chấp trong vụ việc có yếu tố nước ngoài về các thức thực hiện quyền lựa chọn Trọng tài viên. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, khoản 3 Điều 49 quy định: “Trọng tài viên do các bên chọn hoặc do toà án chỉ định có thể là Trọng tài viên có tên trong danh sách hoặc ngoài danh sách Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài của Việt Nam hoặc là Trọng tài viên nước ngoài theo quy định của pháp luật về trọng tài nước đó”. Tuy nhiên, nếu cả hai bên tranh chấp đều là các bên Việt Nam thì việc lựa chọn Trọng tài viên nước ngoài không được thừa nhân theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại. Do vậy, với các bên tranh chấp đều là Việt Nam mà thoả thuận chọn Trọng tài viên nước ngoài thì thoả thuận đó không có giá trị thực hiện.

Thứ năm, về Trọng tài viên: Trọng tài viên là hạt nhân của các Trung tâm Trọng tài, quyết định uy tín và hiệu quả hoạt động của các Trung tâm Trọng tài. Kết quả giải quyết vụ tranh chấp có khách quan , công bằng hay không hoàn toàn phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của Trọng tài viên. Vì vậy khi thành lập Trung tâm Trọng tài việc đầu tiên là phải xây dựng được đội ngũ Trọng tài viên giỏi, có uy tín trong những lĩnh vực hoạt động mà Trung tâm đã chọn. Trọng tài là tổ chức phi chính phủ hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải nên các Trọng tài viên không hưổng lương từ ngân sách nhà nước mà thường là kiêm nhiệm và chủ yếu hưởng thù lao theo vụ việc mà họ tham gia giải quyết. Mỗi Trung tâm Trọng tài đều có danh sách Trọng tài viên của riêng mình. Đó là yếu tố tiên quyết để khẳng định uy tín và cạnh tranh về hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp. Pháp luật ở hầu hết các nước đều có một đòi hỏi chung đối với các Trọng tài viên là phải có uy tín, hiểu biết sâu săc các lĩnh vực hoạt động của Trọng tài. Mỗi nước có những quy định cụ thể về tiêu chuẩn để trở thành Trọng tài viên. Pháp lệnh năm 2003 quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành Trọng tài viên. Có thể thấy, theo quy định này thì người nước ngoài không được làm Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài Việt Nam . Điều này sẽ hạn chế quyền tự do lựa chọn của các bên tranh chấp, đồng thời hạn chế sự tiếp cận của Trọng tài Việt Nam đối với kinh nghiêm và thực tiễn giải quyết tranh chấp của các trọng tài các nước. Việc mời chuyên gia nước ngoài làm Trọng tài viên không chỉ bảo đảm quyền tự do định đoạt của các bên tranh chấp mà còn tăng tính cạnh tranh cho hoạt động Trọng tài, giúp các Trọng tài viên Việt Nam nâng cao trình độ trong qua trình hội nhập và thúc đẩy sự phát triển của Trọng tài Việt Nam. Luật Trọng tài của nhiều nước quy định cho phép lựa chọn Trọng tài viên ở phạm vi rộng theo nguyên tắc bất kỳ cá nhân nào cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên. Bởi lẽ việc trở thành Trọng tài viên là do nhu cầu của thị trường xác địnhvà việc lựa chọn là do các bên tranh chấp quyêt định vì chính các đương sự trả thù lao cho các Trọng tài viện. Trong hoạt động của trọng tài, sự vô tư khách quan là tiêu chí hàng đầu của Trọng tài viên. Điều này được quy định trong rất nhiều các văn bản pháp luật về trọng tài của quốc tế và các nước. (Quy tắc trọng tài UNCITRAL; Quy tắc trọng tài của Uỷ ban kinh tế trọng tài Châu Âu; Quy tắc trọng tài của của Phòng Thương mại quốc tế Luân Đôn; Luật trọng tài Braxin…).

Nhìn chung, các Trung tâm Trọng tài của Việt Nam hiện nay không có Trọng tài viên nào là người nước ngoài, trong khi thẩm quyền của Trọng tài không những chỉ giải quyết tranh chấp thương mại trong nước mà còn giải quyết cả những tranh chấp trong quan hệ thương mại quốc tế. Điều này ít nhiều tạo nên tâm lý e ngại cho các bên tranh chấp mang quốc tịch nước ngoài khiến cho họ ít lựa chọn các Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam tham gia giải quyết các tranh chấp. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam là nơi giải quyết nhiều vụ việc nhất hiện nay cũng cho thấy thực trạng này. Theo báo cáo tổng kết năm 2005 có 18 vụ giải quyết tại Trung tâm thì 15 vụ nguyên đơn là doanh nghiệp Việt Nam. Mặt khác các Trọng tài viên của Việt Nam chủ yếu là các chuyên gia pháp lý mà ít có những nhà kinh tế có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh giỏi. Trong hoạt động kinh doanh của kinh tế thị trường yếu tố nghiệp vụ chuyên ngành kinh tế là rất quan trọng, nếu chỉ giỏi về trình độ pháp lý thì chưa chắc đã đủ khả năng xử lý tốt những vấn đề phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự hiện diện của các chuyên gia kinh tế trong đội ngũ Trọng tài viên sẽ là một trong những nhân tố làm tăng thêm sức hấp dẫn của Trọng tài Việt Nam…

Thứ sáu, về việc yêu cầu Toà án huỷ quyết định Trọng tài: Một trong những căn cứ để Toà án huỷ quyết định Trọng tài là thoả thuận trọng tài vô hiệu. Tuy nhiên, khi Toà án thụ lý thì vụ việc tranh chấp đã được Trọng tài giải quyết. Nếu trước đó, trong quá trình tố tụng trọng tài các bên đã yêu cầu xem xét thoả thuận vô hiệu nhưng Hội đồng Trọng tài xác định không vô hiệu, đã ra quyết định và tiếp tục giải quyết tranh chấp. Nay đương sự yêu cầu lại vấn đề này thì toà án có quyền xem xét lại lần nữa hay không? Nếu xét thì thủ tục như thế nào và căn cứ vào quy định nào. Vì hiện tại cả Pháp lệnh Trọng tài Thương mại và Bộ luật Tố dụng dân sự chỉ quy định Toà án có quyền tuyên huỷ quyết định giải quyết tranh chấp của Trọng tài mà không quy định quyền tuyên huỷ các loại quyết định khác của Trọng tài trong quá trình tố tụng trọng tài.

Chúng tôi cho rằng, sau khi Toà án xác định Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì việc đương sự khởi kiện tại Toà án phải áp dụng thời hiệu theo BLTTDS chứ không thể áp dụng thời hiệu được quy định tại Điều 21 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại bởi hai lý do: Pháp lệnh Trọng tài Thương mại không thể áp dụng cho tố tụng Toà án, và cách tính thời hiệu khởi kiện của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại hoàn toàn khác cách tính thời hiệu khởi kiện trong BLTTDS hiện hành. Do vậy, PLTTTM không thể chứa đựng trong đó quy định về thời hiệu khởi kiện tại Toà án khi mà vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND như Điều 30 nêu trên.

Các quy định tại Điều 53 và Điều 56 của PLTTTM sử dụng khái niêm Hội đồng xét xử và khái niệm phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cho thủ tục xét đơn yêu cầu huỷ quyết định Trọng tài là mâu thuẫn với BLTTDS hiện hành và không thể thực hiện được. Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 30 BLTTDS thì đây gọi là yêu cầu về kinh doanh, thương mại (tức là một việc dân sự) chứ không phải là một tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định ở Điều 29 BLTTDS. Vì vậy, theo các quy định từ Điều 311 đến Điều 318 của BLTTDS việc xem xét yêu cầu huỷ quyết định của Trọng tài không thành lập Hội đồng xét xử, không mở phiên toà mà chỉ mở phiên họp (kể cả thủ tục sơ thẩm và thủ tục phúc thẩm). Chính vì vậy, khi xây dựng các quy định này trong Luật Trọng tài, tốt nhất là nên dẫn chiếu đến BLTTDS để các quy định phù hợp và không trở thành hình thức gây chồng chéo, mâu thuẫn trong thực tiễn áp dụng của Toà án và Trọng tài

Thứ bảy, về thời hiệu yêu cầu xem xét thoả thuận trọng tài vô hiệu: Tại Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại có quy định sáu trường hợp thoả thuận trọng tài bị vô hiệu. Tại khoản 6 có quy định: “Thời hiệu yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu là 6 tháng kể từ ngày ký kết thoả thuận trọng tài nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp đầu tiên giải quyết vụ tranh chấp”. Trong thực tiễn áp dụng quy định này đã vướng mắc ở 2 vấn đề:

– Thời hiệu 6 tháng áp dụng chung cho cả 6 trường hợp tại Điều 10 hay chỉ áp dụng cho trường hợp thứ 6 là do bị lừa dối, đe doạ mà ký kết thoả thuận trọng tài. Nếu áp dụng riêng cho khoản 6 thì các trường hợp còn lại có được hiểu là vô thời hạn hay không? Nếu áp dụng cho tất cả thì cách thực hiện kỹ thuật lập pháp của Điều 10 không thể hiện điều đó, đương sự khiếu nại sẽ giải quyết như thế nào?

– Thoả thuận trọng tài thường được các bên ghi vào trong hợp đồng khi ký kết. Thời hạn của hợp đồng có thể là 6 tháng nhưng cũng có thể còn dài hơn rất nhiều. Vậy khi hợp đồng đang còn hiệu lực, các bên chưa tranh chấp về hợp đồng họ có thể gửi đơn đến Trọng tài để yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu mà không yêu cầu giải quyết tranh chấp hay không? Nếu không được thì chờ đến khi tranh chấp hợp đồng mới yêu cầu thì lại hết thời hạn 6 tháng, lúc này sẽ giải quyết thế nào.

Thứ tám, có một số quy định làm hạn chế sự quản lý, can thiệp mang tính chất hành chính- mệnh lệnh nhằm thực sự thừa nhận tính chất phi chính phủ của Trọng tài. Bản chất của Trọng tài là phi chính phủ, tồn tại và hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào uy tín và hiệu quả trong thực tế của chính nó. Trong sự phát triển của các quan hệ kinh tế thị trường sự can thiệp của nhà nước là cần thiết tuy nhiên chỉ nên dừng lại ở việc định ra khung pháp luật để Trọng tài hoạt động, không thể áp dụng nguyên tắc quản lý hành chính đối với Trọng tài.

Vấn để trước hết cần phải thay đổi đó là các quy định về việc thành lâp Trọng tài. Hiện nay, một số Trung tâm Trọng tài muốn ra đời phải qua hai lần thủ tục gồm thủ tục xin phép thành lập tại Bộ Tư pháp và thủ tục đăng ký hoạt động tại Sở tư pháp. Thực chất của hai thủ tục này chẳng qua cũng là để thừa nhân sự ra dời của một tổ chức tài phán phi chính phủ. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nên có cách nhìn thoáng hơn như nhiều nước áp dụng đó là thực hiện cơ chế đăng ký hoạt động cho Trọng tài (tương tự đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp). Các chủ thể có đủ điều kiện chỉ cần đăng ký hoạt động theo những quy định chung tại Sở tư pháp nơi đặt trụ sở là đủ. Hồ sơ đăng ký hoạt động chỉ cần có đơn, danh sách các Trọng tài viên sáng lập và lý lịch các nhân cùng với điều lệ trung tâm.

Sau đó là sự quản lý của nhà nước đối với Trọng tài. Theo Điều 60 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại thì sau khi ra đời, một Trung tâm Trọng tài chịu sự quản lý của chính phủ , Bộ tư pháp, Sở tư pháp, Hội luật gia. Điều này thực sự khôn gphù hợp, vì Trọng tài không ràng buộc với các bên tranh chấp một điều gì ngoài uy tín của nó. Nếu phán quyết Trọng tài không khách quan thì cũng không có cơ hội gây thiệt hại cho đương sự bởi đã có cơ chế hỗ trợ của Toà án trong việc huy quyết định của Trọng tài. Quy định này trước hết là kém hấp dẫn cho ngay cả với những người muốn thành lập Trung tâm Trọng tài. Suốt một thời gian dài chúng ta đã quá mệt mỏi với cơ chế quản lý nhiều tầng nấc mà không có hiệu quả của thời bao cấp, bước sang cơ chế thị trường cần phải có sự thay đổi ngay từ những vấn đề thủ tục đơn giản cho nhà nước vừa thuận lợi cho nhân dân. Thực tế của sự quan ngại này là sau khi Pháp lệnh Trọng tài Thương mại ra đời, các Trung tâm Trọng tài không những không thành lập thêm mà còn có xu hướng giảm xuống.

Thông thường ở các nước phát triển, nhà nước không trực tiếp quản lý Trọng tài mà do Hiệp hội Trọng tài quản lý, nhà nước chỉ quản lý gián tiếp bằng việc thông qua “bộ khung chuẩn về pháp luật” chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho Trọng tài hoạt động mà thôi.

Trong thời điểm hiện nay, để Trọng tài có thể hấp dẫn được các nhà kinh doanh, pháp luật về Trọng tài cần thừa nhận tính chất phi chính phủ của Trọng tài theo hướng: thừa nhận tính tự quản của tổ chức Trọng tài, mở rộng các điều kiện cho phép đăng ký hoạt động Trung tâm Trọng tài ở mọi địa bàn để tạo điều kiện cho các doanh nhân dễ dàng tiếp cận Trọng tài, có nhiều nơi để lựa chọn; cho phép các Trung tâm tự do lựa chọn Trọng tài viên cho mình theo những tiêu chuẩn của mỗi Trung tâm, phù hợp với các lĩnh vực mà Trung tâm đăng ký hoạt động trên cơ sở quy định chung của pháp luật. Các Trung tâm sẽ cạnh tranh trong việc xây dựng cho mình một đội ngũ Trọng tài viên có năng lực, uy tín để đáp ứng yêu cầu của các doanh nhân; các Trung tâm Trọng tài hoạt động trong một khuôn khổ pháp luật về trọng tài chung, phù hợp với thông lệ, tập quán quốc tế. Trên cơ sở quy định chung, mỗi Trung tâm xây dựng cho mình một quy chế riêng, linh hoạt, phù hợp với các loại tranh chấp mà Trung tâm giải quyết.

2. Những sửa đổi cơ bản của Dự thảo (so với Pháp lệnh năm 2003)

Quan điểm đổi mới

– Đảm bảo thể chế hoá kịp thời và đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

– Việc ban hành Luật Trọng tài thương mại phải phù hợp với thực tiễn thương mại và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong điều kiện hiện hành ở Việt Nam. Theo đó, việc xây dựng Luật Trọng tài thương mại phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, bảo đảm tính truyền thống và tính hiện đại của hệ thống pháp luật Việt Nam; phải phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, dân chủ và công bằng xã hội; phải kịp thời vững chắc và cơ bản, bảo đảm cho pháp luật tương đối ổn định, kế thừa và phát triển liên tục; phải đảm bảo tính khả thi, tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn cuộc sống.

Việc ban hành Luật Trọng tài thưong mại phải dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn áp dụng Pháp lệnh Trọng tài thương mại, nhất là thực tiễn xét xử của trọng tài thương mại để thấy những mặt tích cực cũng như những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, từ đó kế thừa và phát triển các quy định phù hợp đã đi vào cuộc sống, đồng thời tiếp tục pháp điển hoá pháp luật về trọng tài thương mại.. Việc ban hành Luật Trọng tài thương mại phải bảo đảm sự kế thừa có chọn lọc các văn bản quy phạm pháp luật trước đó về trọng tài thương mại và luật hoá một số quy định đã phát huy hiệu quả để nâng cao tính pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và cơ sở thực thi trong thực tiễn.

– Tăng cường vai trò của các hình thức giải quyết tranh chấp thay thế, khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng chúng; tăng cường vai trò hỗ trợ của Nhà nước (Tòa án). Thực tiễn giải quyết tranh chấp nhiều nước trên thế giới (Philíppin, Inđônêsia, Malaisia, Xingapo, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canađa…) cho thấy việc sử dụng các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn mang tính chất rất phổ biến. Các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn đề cao quyền tự định đoạt của các bên vè lựa chọn loại hình, tổ chức, trình tự, thủ tục để giải quyết. Cách phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn như thương lượng hay hòa giải còn nhằm khuyến khích các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp của mình một cách hòa bình, nghĩa là bằng thương lượng, hòa giải trước khi đưa vụ tranh chấp ra trọng tài. Khi đã thương lượng hoặc có trung gian hoà giải thì mối quan hệ giữa các bên sẽ có sự thân thiện. Hình thức của những phương pháp trên cũng rất linh hoạt và mềm dẻo.

– Phải quán triệt tinh thần đảm bảo hơn nữa quyền tự định đoạt của các bên. Về bản chất, trọng tài là một quá trình đồng thuận trong đó cơ sở đầu tiên để xác định thẩm quyền của trọng tài là thoả thuận trọng tài giữa các bên. Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên có thoả thuận trọng tài, đồng thời toà án phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp khi các bên đã có thoả thuận trọng tài. Đây là một nguyên tắc quan trọng của trọng tài, đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp, đồng thời cũng chỉ rõ thêm tính chất tài phán tư của hình thức giải quyết tranh chấp này. Cơ sở đồng thuận của trọng tài tạo cho trọng tài tiềm năng để trở thành phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt. Do đó, nguyên tắc cơ bản của lập pháp hiện đại đối với trọng tài chính là quyền tự định đoạt của các bên. Điều này tạo cơ sở cho các bên được tự mình thoả thuận tranh chấp nào có thể được giải quyết bằng trọng tài. Quyền tự định đoạt của các bên là một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài Thương mại Quốc tế và Luật Trọng tài nhiều nước trên thế giới. Do đó, các quy định về trọng tài cần được xây dựng trên cơ sở cho phép các bên tranh chấp quyền được lựa chọn mô hình và loại hình tranh chấp mà mình mong muốn để giải quyết các tranh chấp, đồng thời đảm bảo tối đa quyền được lựa chọn trọng tài của các bên.

– Việc ban hành Luật Trọng tài thương mại phải đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế.

Việc ban hành Luật Trọng tài thương mại phải được đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm sự phù hợp với các Điều ước quốc tế về thương mại mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập và pháp luật, tập quán và thông lệ thương mại quốc tế. Các chuẩn mực chung của thương mại quốc tế đang được Việt Nam từng bước áp dụng thông qua quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực thi các Điều uớc quốc tế. Vì vậy, việc xây dựng Luật Trọng tài thương mại tất yếu cũng phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tiếp cận với các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới và các nguyên tắc, chuẩn mực của pháp luật, tập quán và thông lệ thương mại quốc tế, từ đó tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia vào các định chế chung của thế giới trong lĩnh vực thương mại. Việc ban hành Luật Trọng tài thương mại phải dựa trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, các Điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta.

Nội dung đổi mới trong Dự thảo so với Pháp lệnh năm 2003

2.2.1 Cơ cấu của Luật Trọng tài:

Dự thảo Luật được chia thành 14 chương, bao gồm:

– 7 chương được sửa đổi

– 7 chương mới

2.2.2. Lập luận cho việc đổi tên Luật Trọng tài chứ không là Luật Trọng tài Thương mại

Đạo luật nên được đặt tên là Luật Trọng tài thay vì tên gọi là Luật Trọng tài Thương mại theo dự kiến trước đây. Cách đặt tên là Luật Trọng tài có nhiều ý nghĩa quan trọng.

Trước hết, điều này xuất phát từ sự cần thiết phải mở rộng thẩm quyền tài phán của trọng tài. Khi đó, Luật Trọng tài nên xem xét tới việc tổ chức trọng tài không chỉ có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp thương mại mà còn có thể giải quyết một số tranh chấp khác trong lĩnh vực dân sự, lao động theo yêu cầu của các bên và các bên tranh chấp không chỉ là tổ chức, cá nhân kinh doanh. Với đặc thù là hình thức tài phán tư, trọng tài cần được tạo điều kiện để có thể giải quyết tất cả các tranh chấp tư, bao gồm cả các tranh chấp hợp đồng và ngoài hợp đồng.

Thứ hai, cách đặt tên này cũng giúp tránh được các tranh chấp không cần thiết liên quan đến việc xác định thẩm quyền của trọng tài, chẳng hạn xác định nội hàm của thuật ngữ “hoạt động thương mại” như theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, phân biệt giữa hoạt động thương mại và các hoạt động khác không mang bản chất thương mại…

Thứ ba, việc đặt tên là Luật Trọng tài cũng phù hợp với thực tiễn pháp luật các nước và thông lệ quốc tế. Khảo sát pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới cho thấy, đa số các nước sử dụng tên gọi là Luật Trọng tài, ví dụ Luật Trọng tài Trung Quốc, Luật Trọng tài Thụy điển, Luật Trọng tài Nhật Bản, Luật Trọng tài Xingapo, Luật Trọng tài Thái Lan, Luật Trọng tài Hoa Kỳ, Luật Trọng tài Siri Lanka, Luật Trọng tài Niu Di Lân, Luật Trọng tài Lithunia, Luật Trọng tài Phần Lan, Luật Trọng tài Đan Mạch, Luật Trọng tài và Hoà giải Nigiêria, Luật Trọng tài Anh, Luật Trọng tài Zimbabuê…

Thứ tư, mặc dù trong quá trình xây dựng Luật Trọng tài, Ban Soạn thảo và Tổ biên tập đã tích cực tham khảo Luật Mẫu của UNCITRAL về Trọng tài Thương mại Quốc tế, tuy nhiên việc sử dụng tên gọi là Luật Trọng tài là phù hợp hơn đối với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam so với việc sử dụng tên gọi là Luật Trọng tài thương mại quốc tế xuất phát từ hai lý do cơ bản sau đây:

Một là, trọng tài thương mại quốc tế theo ngữ cảnh Luật Mẫu của UNCITRAL là trọng tài để giải quyết các tranh chấp đối với giao dịch qua biên giới quốc gia, mà đa số các giao dịch được thực hiện qua biên giới quốc gia là các giao dịch thương mại.

Hai là, thực tế cho thấy các văn bản pháp luật quốc tế đều loại trừ các trường hợp giao dịch qua biên giới không mang bản chất thương mại. Một ví dụ điển hình là Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980. Công ước Viên năm 1980 không áp dụng đối với các trường hợp mua bán sau đây:

a. Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán, vào bất cứ lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng, không biết hoặc không cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế.

b. Bán đấu giá.

c. Ðể thi hành luật hoặc văn kiện uỷ thác khác theo luật.

d. Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ.

e. Tàu thủy, máy bay và các tàu chạy trên đệm không khí.

g. Ðiện năng.

Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không chỉ giới hạn ở các giao dịch qua biên giới mang bản chất thương mại, mà còn các giao dịch tư không mang bản chất thương mại, các giao dịch tư trong nước. Vì lý do đó, việc đặt tên là Luật Trọng tài Thương mại Quốc tế như tên gọi của Luật Mẫu UNCITRAL tỏ ra không phù hợp với việc giải quyết các tranh chấp không mang bản chất thương mại qua biên giới, các giao dịch kinh doanh trong nước, thậm chí là các giao dịch mang tính chất tiêu dùng…

2.3.3. Các lập luận cho các điều khoản mới, điều khoản sửa đổi của Luật Trọng tài

a. Lập luận cho các điều khoản mới của Luật Trọng tài

Điều 7: Các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn

Thực tiễn giải quyết tranh chấp nhiều nước trên thế giới cho thấy việc sử dụng các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn mang tính chất rất phổ biến. Có thể lấy nhiều minh chứng trong số đó như Philíppin, Inđônêsia, Malaisia, Xingapo, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canađa… Do đó, việc làm rõ mối quan hệ giữa trọng tài với các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn khác, xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trong các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn trong mối quan hệ với trọng tài, cách thức sử dụng những tài liệu, bằng chứng đã được giải quyết trong các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn khác như thương lượng, hòa giải để giải quyết bằng trọng tài, là việc làm cần thiết. Điều khoản này cũng nhằm khuyến khích các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp của mình một cách hòa bình, nghĩa là bằng thương lượng, hòa giải trước khi đưa vụ tranh chấp ra trọng tài. Khi đã thương lượng hoặc có trung gian hoà giải thì mối quan hệ giữa các bên sẽ có sự thân thiện. Hình thức của nó cũng linh hoạt và mềm dẻo. Hoà giải nếu được thực hiện tốt thì sẽ rất nhanh chóng về thời gian và tiết kiệm được chi phí. Chi phí xét xử của Trọng tài đã rất thấp nhưng nếu tham gia hoà giải lại còn thấp hơn. Quy trình và thủ tục hoà giải cũng rất đơn giản.

Điều 8: Xác định Tòa án đối với Trọng tài

Điều 9: Phạm vi hỗ trợ và giám sát của Toà án trong tố tụng trọng tài

Điều 46: Hỗ trợ của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ

Điều 52: Trách nhiệm của tòa án trong việc không cho áp dụng hoặc áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 47. Đảm bảo sự có mặt của người làm chứng

– Trọng tài mặc dù là phương thức giải quyết tranh chấp có nhiều ưu thế, tuy nhiên đây là hình thức giải quyết tranh chấp tư, không mang quyền lực Nhà nước. Các quyết định của trọng tài chỉ ràng buộc các bên, không có giá trị ràng buộc đối với bên thứ ba như bảo hiểm, ngân hàng, vận tải… Vì lẽ đó, sự hỗ trợ và giám sát của Tòa án với tư cách là thiết chế quyền lực công đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, để sự hỗ trợ này có hiệu quả, cần phân định rõ phạm vi hỗ trợ và giám sát của Tòa án, xác định cụ thể Tòa án nào có thẩm quyền đối với trọng tài. Các quy định này được xây dựng trên tinh thần tạo thuận lợi cho các bên trong việc xác định Tòa án nào có thẩm quyền trong việc hỗ trợ và giám sát đối với trọng tài, đồng thời chỉ rõ những hoạt động nào thuộc trách nhiệm hỗ trợ và giám sát của Tòa án.

– Để cụ thể hóa sự hỗ trợ và giám sát của Tòa án đối với trọng tài, Luật Trọng tài đã xây dựng các điều khoản cụ thể liên quan đến việc thu thập chứng cứ, sự có mặt của người làm chứng, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… trên tinh thần phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 11. Ngôn ngữ Việc quy định điều khoản ngôn ngữ thành một điều khoản riêng nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của điều khoản này trên thực tế và cũng nhằm nhắc nhở các bên có liên quan và cả trọng tài viên trong các hoạt động trọng tài. Thực tế đã xảy ra trường hợp hai công ty đã thỏa thuận rằng “mọi thủ tục tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành bằng tiếng Anh”. Việc Hội đồng Trọng tài hỏi các bên về việc sử dụng tiếng Việt tại phiên họp của Hội đồng Trọng tài, thì không thể coi là các bên đã đồng ý việc sử dụng tiếng Việt tại phiên họp của Hội đồng Trọng tài.
Điều 12. Cách thức gửi thông báo và trình tự gửi thông báo – Điều khoản này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được biết các thông tin về việc giải quyết của trọng tài, cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho trọng tài có đầy đủ thông tin cần thiết để giải quyết tranh chấp, đồng thời giúp tòa án có cơ sở để xem xét các khiếu nại sau này (nếu có).
Điều 48. Hỗ trợ của Toà án Việt Nam đối với trọng tài nước ngoài – Việc xây dựng điều khoản này nhằm giải quyết có hiệu quả và triệt để một vấn đề nan giải hiện nay là trường hợp trọng tài Việt Nam giải quyết nhưng vụ tranh chấp lại được xử ở nước ngoài, vậy trọng tài trong trường hợp này được có được coi là trọng tài nước ngoài hay không?

– Điều khoản về trọng tài nước ngoài cũng nhằm giải quyết có hiệu quả trường hợp các bên chọn trọng tài nước ngoài giải quyết nhưng giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Theo quy định trước đây, việc giải quyết này không chịu sự chi phối của Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Ví dụ, năm 2003, Công ty Cơ khí A của Việt Nam ký một hợp đồng với Công ty Conares Metal của Vương quốc Lichtenxtain. Trong hợp đồng, các bên chọn Toà án Trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế ICC và “nơi giải quyết Trọng tài là Hà Nội”. Khi có tranh chấp, các bên đưa tranh chấp ra trước Trọng tài. Trung tâm trọng tài này đã chấp nhận giải quyết và đã sử dụng một trọng tài viên duy nhất giải quyết là một luật sư người Pháp đang làm việc tại Việt Nam. Ngày 18/10/2004, Trọng tài quốc tế thuộc Phòng Thương mại quốc tế đã ra phán quyết. Sau đó Công ty Conares Metal yêu cầu Toà án Hà Nội cho công nhận và thi hành quyết định. Trong quá trình sơ thẩm và phúc thẩm, Toà án đã áp dụng những quy định liên quan đến việc “yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài”.

Điều 17. Quyền khước từ trọng tài của người tiêu dùng Quy định này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi họ có thỏa thuận trọng tài, theo đó khi có tranh chấp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, thỏa thuận trọng tài sẽ không được viện dẫn để chống lại người tiêu dùng. Đây là vấn đề phát sinh nhiều trong thực tiễn và cần có sự điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt là dưới góc độ các Điều kiện giao dịch chung và các hợp đồng tiêu chuẩn. Lý do cơ bản của sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là họ ở thế yếu hơn khi tham gia quan hệ giao dịch, ít có cơ hội trong thỏa thuận, đàm phán, đồng thời mức độ chuyên nghiệp, sự hiểu biết của họ đối với đối tượng giao dịch là hạn chế. Luật pháp về trọng tài của nhiều nước trên thế giới cũng ghi nhận điều khoản về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Thụy điển, Niu Di Lân, Italia…).
Điều 18: Những tranh chấp sau đây không thuộc thẩm quyền của trọng tài – Việc xây dựng điều khoản này trên tinh thần tiếp thu quy định của Luật Trọng tài Trung Quốc.

– Thẩm quyền của trọng tài được xây dựng theo hướng mở rộng, không theo phương pháp liệt kê và chỉ tập trung vào hoạt động thương mại như trước đây. Theo hướng đó, Luật Trọng tài đã xây dựng thẩm quyền của trọng tài theo phương pháp loại trừ, nghĩa là chỉ rõ những tranh chấp nào không thuộc thẩm quyền của trọng tài. Điều này giúp tránh tình trạng phải phân định tranh chấp nào thuộc thẩm quyền của trọng tài, tranh chấp nào thuộc thẩm quyền của tòa án, đồng thời giúp mở rộng thẩm quyền của trọng tài.

Điều 76: Mất quyền từ chối – Quy định này được tiếp thu từ Luật Mẫu UNCITRAL và Luật Trọng tài Anh.

b. Lập luận cho các điều khoản sửa đổi của Luật Trọng tài

Các điều khoản thuộc phần chung của Luật Trọng tài

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Điều 5: Điều kiện và hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Điều 6. Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Điều 14. Pháp luật áp dụng giải quyết tranh chấp

Điều 15. Áp dụng điều ước quốc tế

– Các điều khoản này được sửa đổi trước hết nhằm mở rộng phạm vi chủ thể của Luật Trọng tài, mở rộng phạm vi các quan hệ thuộc thẩm quyền của trọng tài (bao gồm cả quan hệ hợp đồng và ngoài hợp đồng). Sự mở rộng này được tiếp thu từ các quy định của Luật Mẫu và nhiều Luật Trọng tài khác như Síp, Liên bang Nga, Ailen, Scốtlen, Ucraina, Venezuela, Hàn Quốc, Nhật Bản, Lithunia… và để phù hợp với các luật chuyên ngành có liên quan.

– Một số thuật ngữ mới được bổ sung để xác định cách hiểu thống nhất về Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập và Tổ chức Trọng tài, cũng như cách hiểu về hòa giải với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn.

– Pháp lệnh năm 2003 đã bỏ sót trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được. Trong khi đó, đây là trường hợp cũng xảy ra tương đối nhiều trong thực tiễn và được pháp luật trọng tài các nước ghi nhận (Luật Mẫu UNCITRAL, Luật Trọng tài Hàn Quốc, Luật Trọng tài Nhật Bản, Luật Trọng tài Xingapo…)

– Việc xây dựng điều khoản pháp luật áp dụng đã cân nhắc tới sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành, đồng thời chỉ rõ thêm việc Hội đồng Trọng tài sẽ lựa chọn pháp luật phù hợp nhất. Cách quy định này được xây dựng trên tinh thần có tham chiếu các văn bản quốc tế, ví dụ Công ước Rôm về luật áp dụng đối với hợp đồng, có điều chỉnh cho phù hợp với trọng tài.

Các điều khoản về thỏa thuận trọng tài

Điều 16. Hình thức thoả thuận trọng tài

Điều 19. Thoả thuận trọng tài vô hiệu

Điều 20. Sự độc lập của thoả thuận trọng tài

– Việc sửa đổi hình thức của thỏa thuận trọng tài có tiếp thu các quy định của Luật Mẫu UNCITRAL, Luật Trọng tài Anh, Cộng hòa Liên bang Đức, Xingapo, Phần Lan… nhằm mở rộng phạm vi được coi là văn bản của thỏa thuận trọng tài.

– Hình thức của thỏa thuận trọng tài được mở rất rộng, bao gồm cả trường hợp trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như vận đơn đường biển, hợp đồng thuê tàu, điều lệ công ty… và những tài liệu tương tự khác. Đây là sự bổ sung phù hợp với điều kiện thực tế khi có rất nhiều vận đơn, hợp đồng thuê tàu, điều lệ công ty… đã chỉ ra việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

– Sửa đổi quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, trong đó có nhiều quy định bất hợp lý trong thực tiễn áp dụng như quy định thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung là thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Thực tiễn cho thấy rất nhiều vụ tranh chấp được nguyên đơn khởi kiện ra trọng tài với những điều khoản trọng tài không chỉ rõ Tổ chức Trọng tài. Trong những trường hợp này, nếu các bên không có thỏa thuận bổ sung thì trọng tài không thể giải quyết được. Mặt khác, pháp luật trọng tài các nước cũng không đưa ra quy định về việc phải chỉ rõ tổ chức trọng tài. Luật Mẫu UNCITRAL không đưa ra tiêu chí phải xác định rõ tổ chức trọng tài cụ thể, đồng thời hầu hết các tổ chức trọng tài có uy tín trên thế giới đều không đưa tên tổ chức của mình vào điều khoản trọng tài mẫu.

Các điều khoản về trọng tài viên

Điều 21. Tiêu chuẩn Trọng tài viên

Điều 22. Quyền, nghĩa vụ của Trọng tài viên

– Việc sửa đổi được tiếp thu từ các quy định các nước về việc không phân biệt quốc tịch của trọng tài viên, có sự kết hợp với quy định của Pháp lệnh năm 2003, có sự mở rộng về phạm vi những người có thể trở thành trọng tài viên bao gồm cả thương nhân. Theo quy định của Pháp lệnh năm 2003 thì người nước ngoài không được làm trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài Việt Nam. Điều này sẽ hạn chế quyền tự do lựa chọn của các bên tranh chấp, đồng thời hạn chế sự tiếp cận của Trọng tài Việt Nam đối với kinh nghiệm và thực tiễn giải quyết tranh chấp của các trọng tài các nước. Việc mời chuyên gia nước ngoài làm trọng tài viên không chỉ bảo đảm quyền tự do định đoạt của các bên tranh chấp mà còn tăng tính cạnh tranh cho hoạt động trọng tài, giúp các trọng tài viên Việt Nam

– Bỏ quy định về “tuân thủ các quy định của Pháp lệnh” và “vô tư khách quan trong việc giải quyết tranh chấp”. Lý do cho điều này là việc quy định như vậy quá rộng, dễ dẫn đến việc điều khoản này bị lạm dụng trên thực tế.

Các điều khoản về Tổ chức Trọng tài

Điều 23. Điều kiện thành lập Tổ chức Trọng tài

Điều 24. Đăng ký hoạt động của Tổ chức Trọng tài

Điều 25. Công bố thành lập Tổ chức Trọng tài

Điều 26. Tư cách pháp nhân và cơ cấu của Tổ chức Trọng tài

Điều 27. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ chức Trọng tài

Điều 28. Chấm dứt hoạt động của Tổ chức Trọng tài

– Sửa đổi quy định về tên gọi của Trung tâm Trọng tài thành Tổ chức Trọng tài nhằm tạo điều kiện cho Tổ chức Trọng tài có thể tự lựa chọn tên gọi riêng cho mình, không chỉ bó hẹp là chỉ thành lập Trung tâm Trọng tài như trước đây. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế khi tên gọi của trọng tài trên thế giới hết sức đa dạng như Viện Trọng tài, Trung tâm Trọng tài, Hiệp hội Trọng tài, Ủy ban Trọng tài…

– Nên có cách nhìn thoáng hơn như nhiều nước áp dụng đó là thực hiện cơ chế đăng ký hoạt động cho Trọng tài (tương tự đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp). Các chủ thể có đủ điều kiện chỉ cần đăng ký hoạt động theo những quy định chung tại Sở tư pháp nơi đặt trụ sở là đủ.

– Việc thành lập Tổ chức Trọng tài được điều chỉnh theo hướng cần có ý kiến của Hiệp hội chuyên ngành bởi lẽ việc thành lập Trọng tài có thể gắn với lĩnh vực chuyên ngành mang tính chuyên sâu. Tuy nhiên, vai trò của Hội Luật gia Việt Nam để giám sát, kiểm tra, cũng như đảm bảo sự quản lý Nhà nước của Bộ Tư pháp đóng vai trò quan trọng.

– Là một tổ chức mang tính chất tư, mang tính chất phi lợi nhuận, do đó hoạt động của Tổ chức Trọng tài cần được miễn thuế đối với các khoản thu được từ phí trọng tài.

Các điều khoản về tố tụng trọng tài

Điều 29. Đơn kiện

Điều 30. Thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài

Điều 31. Phí trọng tài

Điều 32. Địa điểm tiến hành trọng tài

Điều 33. Bản tự bảo vệ

Điều 35. Thành lập Hội đồng Trọng tài tại Tổ chức Trọng tài

Điều 36. Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập

Điều 37. Thay đổi Trọng tài viên

Điều 38. Sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện

Điều 39. Đơn kiện lại

Điều 40. Phạm vi thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài

Điều 56. Việc vắng mặt của các bên

Điều 57. Hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp

Điều 59. Hoà giải

Điều 60. Đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp

– Sửa đổi quy định về đơn kiện để xây dựng một điều khoản chung cho cả trường hợp giải quyết tranh chấp tại Tổ chức Trọng tài và trường hợp giải quyết tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập.

– Việc sửa đổi nội dung điều khoản về đơn kiện cũng nhằm tạo điều kiện cho các bên có thể lựa chọn trọng tài viên mình mong muốn, không chỉ bị giới hạn trong danh sách trọng tài viên của Tổ chức Trọng tài. Thực tiễn cho thấy, có những trường hợp tranh chấp mang tính chuyên ngành nhưng trong đội ngũ trọng tài viên của Tổ chức Trọng tài không có trọng tài viên nào có chuyên môn sâu về lĩnh vực đó, khi đó các bên cần lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn phù hợp bên ngoài Tổ chức Trọng tài.

– Quy định bổ sung về việc nguyên đơn “phải minh chứng về thỏa thuận trọng tài” nhằm tạo sự phù hợp với các điều khoản trước đó liên quan đến hình thức của thỏa thuận trọng tài.

– Sửa đổi quy định về thời hiệu để phù hợp với các Luật chuyên ngành khác, ví dụ Luật Thương mại.

– Sửa đổi quy định về phí trọng tài với lý do có trường hợp Hội đồng Trọng tài có thể quyết định cả hai bên đều có lỗi và đều phải bồi thường hoặc gánh chịu các chi phí nhất định, khi đó khó chỉ rõ bên nào là bên thua kiện trong tố tụng trọng tài.

– Sửa đổi quy định về địa điểm tiến hành tố tụng trọng tài, cụ thể là “phải đảm bảo thuận tiện cho các bên”. Đây là quy định khó áp dụng trong thực tế, bởi lẽ trong nhiều trường hợp các bên có trụ sở tại những địa điểm khác nhau, hầu hết là ở những nước khác nhau, vì vậy rất khó có thể sắp xếp địa điểm giải quyết thuận lợi cho cả hai bên. Trên thực tế, đã có trường hợp các bên lấy lý do không thuận tiện về địa điểm làm lý do để xin hủy quyết định trọng tài., Trong khi đó, Luật Mẫu và pháp luật trọng tài các nước đều có quy định cho phép các bên được tự do thỏa thuận địa điểm trọng tài.

– Sửa đổi quy định về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài trên cơ sở tham khảo các quy định của Luật Mẫu UNCITRAL và Luật Trọng tài Anh.

– Sửa đổi quy định về hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp theo hướng quy định chặt hơn về nghĩa vụ lập thành văn bản, nêu rõ lý do kèm theo bằng chứng nhằm tránh tình trạng việc hoãn phiên họp có thể bị các bên lạm dụng, hoãn đi hoãn lại nhiều lần.

Các điều khoản về biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 49. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 50. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 51. Thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 52. Trách nhiệm của bên yêu cầu áp dụng biện pháp

Sửa đổi các điều khoản về biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm khắc phục những bất cập của các điều khoản trong Pháp lệnh. Ví dụ, quy định về quyền làm đơn của các bên đến Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không hợp lý đối với các vụ kiện có yếu tố nước ngoài. Theo Pháp lệnh, nếu bên Việt Nam muốn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với bên nước ngoài thì phải làm đơn ra Tòa án Hà Nội. Điều này sẽ không thể thực hiện được trong thực tế, vì Tòa án Hà Nội không thể ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các tài sản nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, việc quy định Tòa án nơi Hội đồng thụ lý vụ tranh chấp ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng không hợp lý vì nhiều vụ tranh chấp có tài sản là đối tượng của vụ tranh chấp lại ở nhiều nơi khác nhau.

– Mở rộng phạm vi của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng có thể áp dụng trước khi có tố tụng trọng tài. Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế là có những trường hợp các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng các bên chưa khởi kiện ra trọng tài, tuy nhiên vì những lý do khách quan nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, ví dụ nhằm bảo vệ tài sản có thể bị hư hỏng, một bên có nhu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

– Việc sửa đổi các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện trên tinh thần tham khảo pháp luật các nước, đối chiếu thực tiễn Việt Nam và phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các điều khoản về phán quyết trọng tài

Điều 61. Nguyên tắc ra phán quyết

Điều 62. Nội dung phán quyết trọng tài

Điều 63. Công bố phán quyết trọng tài

Điều 64. Sửa chữa phán quyết trọng tài

Điều 65. Lưu trữ hồ sơ trọng tài

Điều 73. Hiệu lực của phán quyết trọng tài

Điều 74. Thi hành phán quyết trọng tài

Sửa tên quyết định trọng tài thành phán quyết trọng tài nhằm phân biệt quyết định trọng tài cuối cùng (phán quyết trọng tài) với các quyết định được trọng tài ban hành trong quá trình giải quyết bằng trọng tài. Điều này cũng phù hợp với quy định của Luật Mẫu UNCITRAL và pháp luật các nước.

– Sửa đổi điều khoản hiệu lực của phán quyết trọng tài với mục đích nhấn mạnh vị trí quan trọng của phán quyết trọng tài như là bản án của Tòa án. Sự khẳng định này là cần thiết bởi lẽ về bản chất, trọng tài là thiết chế tài phán tư, không có sức mạnh cưỡng chế như Tòa án.

Các điều khoản về bác phán quyết trọng tài

Điều 66. Căn cứ để bác phán quyết trọng tài

Điều 67. Quyền yêu cầu bác phán quyết trọng tài

Điều 68. Đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài

Điều 69. Thụ lý hồ sơ

Điều 70. Toà án xét đơn yêu cầu bác phán quyết trọng tài

Điều 71. Kháng cáo quyết định của Toà án

Điều 72. Xét kháng cáo

– Sửa đổi các căn cứ để bác phán quyết trọng tài bởi lẽ việc quy định của Pháp lệnh là không phù hợp, dễ dàng làm cho phán quyết của trọng tài bị bác do những nguyên nhân không đáng có, ví dụ quy định của Pháp lệnh năm 2003 về việc trọng tài viên có nghĩa vụ “tuân thủ các quy định của Pháp lệnh này”. Với cách quy định đó thì chỉ cần Trọng tài không tuân thủ một trong các quy định của Pháp lệnh, quyết định của họ có thể bị hủy mà những quy định này trong Pháp lệnh thì rất nhiều. Do đó, bên không chấp nhận quyết định trọng tài có thể viện dẫn nhiều lý do để xin hủy quyết định trọng tài và, ở đây, Tòa án buộc phải xem xét. Ví dụ, theo Điều 40 Pháp lệnh, “bị đơn đã được triệu tập tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp mà không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng Trọng tài đồng ý thì Hội đồng Trọng tài vẫn tiến hành giải quyết vụ tranh chấp căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có”. Như vậy, Trọng tài có thể giải quyết tranh chấp vắng mặt bị đơn khi bị đơn “không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng”. Điều đó cũng có nghĩa là Trọng tài không thể giải quyết tranh chấp vắng mặt bị đơn khi bị đơn “không tham dự phiên họp” nhưng “có lý do chính đáng”. Việc không tuân thủ quy định này có thể dẫn đến hủy quyết định trọng tài.

– Bổ sung trường hợp cho phép của Tòa án đối với trọng tài để trọng tài có thể tiến hành các hoạt động cần thiết để loại trừ các cơ sở để hủy quyết định trọng tài. Điều này làm tăng tính chủ động của Hội đồng Trọng tài, góp phần làm giảm số quyết định trọng tài có thể bị Tòa án hủy, đồng thời làm tăng thêm uy tín của Trọng tài. Quy định này được ghi nhận trong Luật Mẫu UNCITRAL và Luật Trọng tài của nhiều nước.

– Bỏ quy định về sự tham gia của Viện Kiểm sát đối với việc giải quyết các tranh chấp trong nước. Lý do là ở chỗ trọng tài là hình thức tài phán tư, trong khi đó Viện Kiểm sát lại là cơ quan giữ quyền công tố. Riêng đối với việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài thì cần tới sự tham gia của Viện Kiểm sát vì liên quan đến lợi ích nhà nước, trật tự công cộng.

– Bổ sung quy định về “quyết định của Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành” nhằm thu gọn thủ tục tố tụng, hạn chế tình trạng quyết định trọng tài bị xử đi xử lại nhiều lần. Điều này sẽ làm mất đi một trong những điểm ưu việt của trọng tài là giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng.

Các điều khoản khác

Điều 75. Lệ phí toà án liên quan đến trọng tài

Điều 78. Áp dụng Luật đối với các tổ chức trọng tài được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực

Điều 79. Hiệu lực thi hành

Điều 80. Điều khoản thi hành

– Về cơ bản, các sửa đổi này nhằm tạo sự phù hợp về thời gian có hiệu lực của Luật Trọng tài để thay thế cho Pháp lệnh Trọng tài thương mại.

SOURCE: DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trích dẫn từ: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2178

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: