NHẬN DIỆN RỦI RO THÔNG TIN TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

china_stocks_BM_Bay_566891g HƯƠNG GIANG

Đã có nhiều phân tích, bình luận và đưa ra các dấu hiệu để nhận biết các rủi ro trong đầu tư chứng khoán1, song để nhận biết và đề ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro thông tin trong đầu tư chứng khoán là chưa có nhiều, bởi lẽ, trong các loại rủi ro thì rủi ro thông tin là nguy hiểm nhất và là nguồn cội của tất cả các loại rủi ro khác. Làm thế nào để nhận diện được các rủi ro thông tin trong đầu tư chứng khoán và các biện pháp phòng ngừa là nội dung mà chúng tôi muốn trao đổi trong nội dung bài viết này.

1. Nguyên nhân phát sinh rủi ro thông tin trong đầu tư chứng khoán

Thứ nhất, tâm lý đầu tư theo đám đông dẫn đến rủi ro “bầy đàn”. Minh chứng cụ thể, năm 2006, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với 145% và đầu năm 2007 tăng thêm 46% – cao nhất trên thế giới. Rất nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho sự phát triển mãnh liệt này, nhưng phần lớn ý kiến cho rằng, một trong những nguyên nhân chính là do tâm lý đầu tư bầy đàn, đầu tư theo phong trào của các nhà đầu tư trong nước. Chơi chứng khoán đã được báo chí nói tới như một thứ “mốt”, một “phong trào” lan truyền với tốc độ cực nhanh. Có lẽ đã đến lúc dùng đến các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên TTCK. Bình thường, một nhóm các nhà đầu tư cá nhân có thể rất bình tĩnh và sáng suốt, nhưng cũng có lúc, họ bị áp đảo bởi những cảm xúc tiêu cực khi các nhà đầu tư khác hành động theo một cách thức phổ biến nào đó. Hiểu một cách đơn giản nhất thì chính sự sợ hãi bị “bỏ rơi” hay thất bại khi bạn bè, người thân, hàng xóm của họ có thể kiếm tiền một cách nhanh chóng, đã đưa đến sức mạnh áp đảo của đám đông2. Khi thị trường đảo chiều đi xuống thì nhà đầu tư “mạnh ai nấy chạy” và cũng đã không ít nhà đầu tư “bơ vơ” trong việc lựa chọn con đường đầu tư trong tương lai của mình.

Rõ ràng, sức mạnh tập thể, tâm lý đám đông là rất lớn để chúng ta vượt qua những khó khăn thử thách, song tâm lý đám đông lại không phát huy tác dụng trong đầu tư chứng khoán trong bối cảnh thị trường còn chưa thật sự ổn định như ở nước ta. Thận trọng, bình tĩnh trong từng bước đi, từng đánh giá nhận xét và đặt lên bàn cân lợi ích khi quyết định đầu tư sẽ trở thành cây gậy giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán ở nước ta.

Thứ hai, trình độ của nhà đầu tư chưa cao, chưa mang tính chuyên nghiệp và chưa có được các kỹ năng để phân tích thông tin. Để có được cái nhìn toàn cảnh về TTCK thì nhà đầu tư không chỉ am hiểu lĩnh vực kinh tế vĩ mô mà cả kinh tế vi mô cũng như kỹ năng phân tích diễn biến thị trường trong ngắn hạn và dài hạn dựa trên nhiều công cụ khác nhau. Tuy nhiên, mức độ am hiểu về cơ chế hoạt động của TTCK của công chúng đầu tư nước ta chưa cao. Theo TS. Đào Lê Minh, trong tổng số 684 người được hỏi, có 606 người, chiếm 88,6% biết TTCK là kênh thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển, chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến 77,9% biết về cổ phiếu, 77,5% biết Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, 77% biết khối lượng giao dịch chứng khoán hiện nay chưa đáp ứng được với nền kinh tế; 71,8% biết trái phiếu; 70% biết Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội; 69,6% biết Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và 61% biết công ty chứng khoán. Kết quả điều tra cũng cho thấy số người biết các tiêu chí khác về hoạt động của TTCK chiếm tỷ lệ không cao như chỉ có 56,3% biết các công ty niêm yết; 53,2% biết chứng chỉ quỹ đầu tư; 45,3% biết công ty quản lý quỹ và 35,2% biết hệ thống các thành viên lưu kí chứng khoán và ngân hàng chỉ định thanh toán, chính vì vậy, số người được hỏi không biết đến hoạt động này chiếm tỷ lệ 33,5% đến 9,4%. Ngoài ra, còn một số người được hỏi không trả lời cho các tiêu chí ở bảng hỏi, có thể họ hoàn toàn không biết về những câu hỏi trên. Nhận thức về các văn bản pháp quy chính – khung pháp lý để TTCK hoạt động kết quả cũng không khả quan3. Trung tâm đào tạo thuộc Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, Học viện Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Tài chính, Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh… đã mở hàng loạt các lớp đào tạo các kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK. Như vậy, về cơ bản, nhận thức của công chúng đầu tư về chứng khoán và TTCK cơ bản được cải thiện.

Sự phát triển quá nhanh của TTCK đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho thị trường trong những năm 2006, 2007 và từ đầu năm 2008 đến nay, sự suy giảm của TTCK đã khiến nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm chuyển sang lĩnh vực khác, hay tình trạng mua bán, sáp nhập các công ty chứng khoán cũng là một áp lực đối với sự phát triển của thị trường. Từ đó có thể rút ra kết luận là song song với việc kiện toàn các thể chế của TTCK thì cần phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường.

Thứ ba, những thay đổi trong chính sách không được công bố và cảnh báo kịp thời. Thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa ra một loại rủi ro mới, đó là “rủi ro chính sách”4 . Theo quan niệm này, rủi ro chính sách là những thay đổi trong các quy định pháp luật mà nhà đầu tư không thể biết được gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư. Điểm khác biệt giữa TTCK nước ta so với TTCK các nước, đó là có sự can thiệp/chi phối rất lớn từ phía Chính phủ, do vậy, các biện pháp can thiệp nhằm định hướng phát triển hoặc đưa thị trường ra khỏi tình trạng khó khăn.

Một trong những cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO, đó là phải bảo đảm được sự minh bạch trong cơ chế, chính sách và pháp luật. Minh bạch là tính tin cậy, nhất quán của thông tin, không thể có trường hợp cùng một thông tin mà một cơ quan nhà nước cấp Bộ đưa ra một dạng, một đơn vị quản lý nhà nước khác lại cung cấp dạng khác. Minh bạch là thông tin phải có tính dự báo. Minh bạch còn là sự cởi mở của chính cơ quan cung cấp thông tin. Mọi văn bản pháp luật, mọi chính sách của Nhà nước cũng như các thông tin có tính minh bạch của doanh nghiệp sẽ không đi đến đâu nếu những người nắm thông tin, những người cung cấp thông tin không cởi mở, khi đó mọi thông tin đều nằm một chỗ và không thể phát huy tính minh bạch5. Như vậy, minh bạch trong hệ thống pháp luật cũng như cơ chế chính sách là yếu tố rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của người dân đối với nhà nước và trong thị trường, đó chính là niềm tin của nhà đầu tư. Lòng tin trong đầu tư chứng khoán được coi là quan trọng nhất, vì nó có tác động đến việc nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư hay không.

Thứ tư, đồn thổi và phản ánh thông tin không chân thực của báo giới. Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến không ít những tin đồn đủ loại gây tâm lý hoang mang cho dân chúng và thiệt hại cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, mọi người không quên tin đồn gây xôn xao dư luận vào thời điểm năm 2003 về việc Tổng Giám đốc ACB bỏ trốn, hàng ngàn người xếp hàng trước trụ sở của ACB để rút tiền. Tổng Giám đốc ACB nhiều lần xuất hiện để giải thích nhưng nhiều người vẫn không tin. Đích thân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phải đứng ra tuyên bố đảm bảo cho ACB thì “cơn bão” mới qua đi. Tung tin đồn ngược với tin thật cũng đã xuất hiện như việc 4 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Hoa, Vũng Tàu, Châu Á Thái Bình Dương, Nam Đô bị Ngân hàng Nhà nước đưa vào danh sách “kiểm soát đặc biệt” thì có tin đồn các ngân hàng này đã được bãi bỏ lệnh kiểm soát! Hoặc trường hợp sau khi công bố đối tác chiến lược, mua cổ phần của nhau giữa Kinh Đô và Eximbank thì xuất hiện tin đồn Kinh Đô bán cổ phiếu Eximbank. Đối với nhà đầu tư có kinh nghiệm, những tin kiểu này thường không có tác dụng vì sẽ không thể có việc Ngân hàng Nhà nước gỡ bỏ lệnh kiểm soát một cách nhanh đến như vậy, cũng như đối tác chiến lược phải có sự chọn lựa kỹ và có nhiều ràng buộc chặt chẽ. Nhưng trên thực tế, không phải nhà đầu tư nào cũng có thể nhìn nhận được vấn đề này.

Truyền thông mang lại hiệu quả rất lớn đối với hệ thống tài chính, song tung tin đồn thất thiệt có sự “chung tay góp sức” của hệ thống truyền thông tài chính, trong khi đó bản thân hệ thống truyền thông tài chính vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế6 thì lại là vấn đề cần quan tâm. Kiểm soát luồng thông tin công bố, bảo đảm tính chân thực, khách quan của các thông tin mà giới truyền thông đưa ra phải được thực hiện ngay, mà quan trọng nhất là lượng thông tin cung cấp, mức độ xử lý thông tin và công bằng về thông tin là những vấn đề cần được ưu tiên giải quyết.

Thứ năm, tình trạng thông tin nội gián và trục lợi từ thông tin nội gián vẫn còn tồn tại khá phổ biến, song các biện pháp xử lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa đủ sức răn đe. Về nội dung này, pháp luật các nước lại quy định rất chặt chẽ, với những biện pháp xử lý rất mạnh tay để lập lại trật tự thị trường. Nhìn vào hoạt động của công ty có thể thấy có một số giao dịch giữa công ty và một số đối tượng nhất định có thể gây thiệt hại cho công ty và cổ đông, vì vậy, quản trị công ty đặc biệt nhằm vào điều chỉnh các giao dịch như công ty cho những người có liên quan (thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, cổ đông lớn…) vay mượn; công ty vay mượn của những người có liên quan; công ty đứng ra bảo lãnh cho những người có liên quan; công ty bán tài sản cho những người có liên quan; công ty mua tài sản từ cổ đông; công ty ký hợp đồng với các bên có liên quan; công ty bán cổ phần cho cổ đông với giá thấp hơn giá thị trường; công ty mua lại cổ phần từ cổ đông với giá cao hơn giá thị trường; khi có gian lận trong chuyển nhượng tài sản của công ty; khi những người quản lý công ty nhận tiền hoa hồng… Ngoài ra, vấn đề như cung cấp thông tin về tình trạng chung và tình trạng tài chính của công ty vấn đề thủ tục đưa ra các quyết định quan trọng trong công ty cũng cần được điều chỉnh một cách rõ ràng. Đối với các quan hệ này cổ đông cũng như nhà đầu tư khó có thể kiểm soát được và khi những giao dịch này được thực hiện thành công thì nó sẽ xâm phạm lợi ích của công ty cũng như lợi ích của nhà đầu tư.

Thứ sáu, mức độ tuân thủ pháp luật về công bố thông tin của tổ chức phát hành chưa cao. Có thể nói, các quy định pháp luật về công bố thông tin trên TTCK đã được quy định tương đối đầy đủ, song ở nước ta, các chủ thể có nghĩa vụ công bố thông tin không phải là không công bố thông tin mà công bố thông tin không kịp thời. Việc công bố thông tin không kịp thời đã làm tăng thêm tình trạng thông tin bất cân xứng trên TTCK vốn đã tồn tại từ lâu. Do đó, vấn đề mấu chốt hiện nay là bảo đảm tính hiệu quả của pháp luật về công bố thông tin trên TTCK. Bởi lẽ, nếu tổ chức phát hành không công bố thông tin thì tất các diễn biến, các hoạt động của tổ chức phát hành luôn là các “quan hệ nội bộ”, “thông tin nội bộ” mà thôi. Nếu vấn đề này vẫn tiếp diễn thì nó mang lại hậu quả rất lớn đối với thị trường và đối với nhà đầu tư.

Thứ bảy, trình độ của người quản trị công ty còn yếu, ý thức và trách nhiệm của người công bố thông tin của tổ chức phát hành còn nhiều hạn chế. Quản trị công ty là một hệ thống, thông qua đó, công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư người lao động và những người điều hành công ty. Governance có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “lèo lái”. Người ta hình dung corporate – công ty như một con tàu cần phải được lèo lái để đến bến thành công với thuyền trưởng và đoàn thuỷ thủ là những người điều hành và người lao động. Nếu so sánh công ty như một chiếc bánh thì quản trị công ty chính là cách thức để chiếc bánh đó không bị mất mát và trở nên to hơn chất lượng hơn. Tiêu chuẩn để đánh giá hệ thống quản trị công ty chính là việc tạo ra chiếc bánh to nhất có thể để sau đó phân bổ cho những người đầu tư nguyên liệu và những người trực tiếp làm bánh.

Quản trị công ty đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các nhóm lợi ích trong một công ty bao gồm cổ đông Hội đồng quản trị ban giám đốc và các bên có lợi ích liên quan như người lao động nhà cung cấp (đặc biệt là nhà cung cấp tài chính). Mục đích chính của quản trị công ty cần được xác định là để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư cổ đông và đảm bảo hài hoà giữa các nhóm lợi ích trong công ty. Các quy định của quản trị công ty chủ yếu liên quan đến Hội đồng quản trị các thành viên Hội đồng quản trị và ban giám đốc chứ không liên quan đến việc điều hành công việc hàng ngày của công ty. Quản trị công ty tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định và hành động của ban giám đốc thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư cổ đông và những người có lợi ích liên quan.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra các nguyên tắc Quản trị công ty bao gồm nguyên tắc về quyền của các cổ đông đối xử công bằng giữa các cổ đông, nguyên tắc về vai trò của các bên có lợi ích liên quan nguyên tắc công khai và minh bạch thông tin, nguyên tắc về trách nhiệm của Hội đồng quản trị.

Nhận thức được vị trí, vai trò của quản trị công ty trong việc xây dựng và phát triển bền vững TTCK nước ta, Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Chứng khoán 2006 đã cố gắng thể hiện những yêu cầu của quản trị công ty hiện đại, trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 12/2007/QĐ- BTC ngày 13 tháng 3 năm 2007 của Bộ Tài chính ban hành quy chế quản trị công ty đại chúng niêm yết trên Trung tâm/Sở Giao dịch chứng khoán. Đây được coi là nỗ lực lớn của Nhà nước trong việc thiết lập thị trường theo hướng minh bạch, song nền kinh tế thị trường nước ta mới vận hành được hơn 20 năm. Sức mạnh của các Tổng công ty nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá cũng chưa thể xây dựng được khung quản trị công ty thật sự hiệu quả.

Trong khi đó, vấn đề giám sát thông tin của các cổ đông chưa thật sự đạt hiệu quả thông qua đại hội đồng cổ đông. Về địa vị pháp lý, đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền cao nhất trong công ty, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty. Song trên thực tế, các cổ đông chưa thật sự hiểu và sử dụng các quyền của mình tại Đại hội đồng cổ đông, đặc biệt là quyền chất vấn, yêu cầu người quản trị công ty phải trả lời về những vấn đề mà mình quan tâm.

Thứ tám, hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động công bố thông tin còn yếu, làm tăng rủi ro cho nhà đầu tư và khó ngăn chặn, phát hiện các hành vi phạm tội. Ở hầu hết các nước có thị trường chứng khoán phát triển đều có hệ thống giám sát công nghệ thông tin, toàn bộ các giao dịch trên thị trường có thể phục hồi lại được và trên cơ sở đó, thanh tra sẽ phân tích và tìm các hành vi bất thường trong quá trình giao dịch. Hiện tại, để có đủ chứng cứ về một cá nhân, tổ chức vi phạm, cơ quan chức năng phải điều tra bằng phương pháp thủ công, và phải rà soát khoảng 300 nghìn tài khoản trên thị trường. Đây là khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện việc xử lý vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK.

Không những thế, sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ máy tính đã làm cho thị trường trở nên minh bạch hơn và có khả năng thực hiện những giao dịch với số lượng ngày càng lớn. Công nghệ thông tin đã tác động đến mọi khía cạnh của hoạt động chứng khoán, nhất là hoạt động công bố thông tin. Công nghệ thông tin dần làm thay đổi các quan hệ thị trường. Tuy nhiên, các giao dịch ảo, nhất là Internet cũng có những điểm yếu của nó, đó là việc kiểm chứng thông tin. Internet có thể được sử dụng để lan truyền những thông tin thất thiệt nhằm mục đích làm ảnh hưởng đến mặt bằng giá cả, thậm chí tạo ra những hiện tượng giao dịch tích cực giả tạo đối với một hay nhiều loại chứng khoán. Internet có thể gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc phát hiện và xử lý các vi phạm về công bố thông tin, nhất là việc tung tin đồn như truy tìm nghi can, xác định người cung cấp thông tin, việc bảo mật các tài khoản và giao dịch chứng khoán…Với các hành vi vi phạm liên quan đến công nghệ cao thì khó phát hiện song hậu qủa mà nó gây ra là cực kỳ lớn. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về công bố thông tin.

Thứ chín, mức độ truy cập thông tin của các công ty chưa thường xuyên. Trong số hơn 100 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, hiện vẫn còn hơn 40 doanh nghiệp chưa có cổng thông tin điện tử (Website) để giao tiếp với nhà đầu tư. Một số doanh nghiệp khác dù có website nhưng chỉ tồn tại trên danh nghĩa, vì nhà đầu tư không thể truy cập hoặc nội dung không được cập nhật thường xuyên. Điều này cho thấy, các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của website với hoạt động của mình. Một trong những điểm cần được sớm khắc phục của TTCK Việt Nam chính là nguồn dữ liệu. Ngay tại website của Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội, thông tin về doanh nghiệp niêm yết cũng bị phân tán rải rác, đặc biệt là những thông tin về bản cáo bạch mới của công ty niêm yết, phần tóm tắt thông tin chung hầu như chưa được cập nhật hoặc thiếu các thông tin chỉ dẫn. Với đặc trưng như vậy, nhà đầu tư sẽ rất khó khăn để có được thông tin toàn diện và đầy đủ về doanh nghiệp mình cần tìm kiếm, làm tăng thêm sự bất ổn cho thị trường.

2. Một số giải pháp góp phần hạn chế rủi ro thông tin trong đầu tư chứng khoán ở nước ta hiện nay

Một là, nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản trị công ty. Đối với nước ta, khái niệm quản trị công ty hầu như vẫn còn tương đối xa lạ với cả giới hoạch định chính sách cũng như những người nghiên cứu pháp lý. Chúng ta cũng đã phải trả giá quá đắt từ hậu quả của quản trị công ty yếu kém, nhất là ở các doanh nghiệp nhà nước, chẳng hạn như vụ án Lã Thị Kim Oanh – một người không có năng lực về quản trị kinh doanh (Lã Thị Kim Oanh tốt nghiệp Đại học Sư phạm) làm Giám đốc công ty? Hay tại sao một số cán bộ quản lý doanh nghiệp trong ngành dầu khí lạm dụng quyền lực để chia nhau hàng triệu đôla mà không sớm được phát hiện? Hoặc tại sao VNPT sai phạm trong tính chi phí viễn thông, trong đầu tư, mua sắm thiết bị… và khi lợi nhuận thu được quá lớn thì ông Chủ tịch Hội đồng quản trị giật mình không biết chúng ở đâu ra đành tìm cách phân tán chúng tránh nộp thuế và lợi nhuận vào Ngân sách nhà nước…? Để bảo đảm hiệu quả pháp luật về quản trị công ty trong trong mối liên hệ với việc hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trên TTCK, theo tôi cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:

– Cần coi việc tuân thủ các quy định về quản trị công ty là một trong những yêu cầu bắt buộc trước khi thực hiện việc niêm yết trên TTCK;

– Các công ty niêm yết tại Trung tâm/Sở Giao dịch chứng khoán phải thường xuyên báo cáo việc tuân thủ các quy định về quản trị công ty và báo cáo cho Trung tâm/Sở Giao dịch chứng khoán những thay đổi về nhân sự của công ty một cách kịp thời;

– Khi thiết kế Điều lệ công ty, quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị, người quản lý công ty và Ban kiểm soát công ty phải xác định rõ nội dung, thẩm quyền và cơ chế phối hợp trong việc thực hiện các nhiệm vụ về quản trị công ty; nội dung và phương pháp phối hợp giữa các bộ phận trong công ty khi giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình.

– Các công ty tự mình hoặc dưới sự trợ giúp, tư vấn của các chuyên gia khẩn trương rà soát hệ thống quản trị công ty của mình nhằm phát hiện những thiếu sót, lỗ hổng, những điểm chưa hợp lý từ đó đề ra biện pháp khắc phục. Nâng cao vị trí, vai trò của cổ đông – chủ sở hữu công ty trong việc đề xuất các yêu cầu quản trị công ty, nhất là việc thực hiện quyền giám sát của cổ đông đối với hoạt động của người quản trị công ty.

Hai là, nâng cao vai trò của người quản trị công ty trong hoạt động công bố thông tin trên TTCK Việt Nam. Là người trực tiếp điều hành hoạt động của công ty nên người quản trị công có rất nhiều thông tin và những thông tin đó cần phải được công bố, báo cáo cho cổ đông biết để họ thực hiện quyền của mình. Tuy vậy, người quản trị công ty luôn chịu sự chi phối từ rất nhiều phía như cổ đông lớn – người cử mình và Hội đồng quản trị, lợi ích tư nhân của mình… nên đã dẫn đến việc họ lợi dụng các thông tin từ hoạt động của công ty để trục lợi. Ở nước ta hiện nay, thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát thường nắm giữ rất ít cổ phần trong công ty, thêm vào đó họ lại thường xuyên chuyển nhượng cổ phần của mình khi thị trường tăng nóng hay sụt giảm làm ảnh hưỏng đến niềm tin của nhà đầu tư. Như vậy, để người quản trị công ty gắn bó với sự sống còn của công ty thì phải có các tiêu chuẩn vật chất đối với những người này (Xem bảng).

Tiêu chuẩn vật chất tối thiểu đối với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát

Theo chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Thành viên HĐQT nắm giữ cổ phần trị giá Thành viên ban kiểm soát nắm giữ cổ phần trị giá

Dưới 10 tỷ đồng 800 triệu đồng 400 triệu đồng

Từ 10 tỷ đến 30 tỷ đồng 1,5 tỷ đồng 600 triệu đồng

Trên 30 tỷ đồng Trên 2 tỷ đồng Trên 1 tỷ đồng

Nguồn: Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam số 459HHĐTC về việc tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp tại các công ty đại chúng ngày 14 tháng 3 năm 2008, tr 4

Bên cạnh việc gắn trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát thông qua việc nắm giữ trị giá cổ phần tại công ty, thì việc ban hành bộ quy tắc đạo đức của nhà quản trị doanh nghiệp là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Các công ty cần có những biện pháp khuyến khích thu hút người có năng lực vào quản trị công ty.

Ba là, đối với các nhà đầu tư cần trang bị kỹ năng chọn lọc, phân tích thông tin trước khi đưa ra quyết định đầu tư để giảm thiểu các rủi ro phát sinh. Trước thực trạng thiếu thông tin sạch trong đầu tư chứng khoán thì việc các nhà đầu tư tự trang bị cho mình những kỹ năng phân tích, đánh giá độ tin cậy của thông tin về công ty là rất cần thiết. Nhà đầu tư cần trang bị cho mình những kỹ năng cơ bản khi đọc và phân tích một báo cáo tài chính và khi phát hiện ra thông tin có vấn đề thì cần kiểm chứng kịp thời như hỏi công ty, tham vấn ý kiến của chuyên gia…

Bốn là, nâng cao vai trò của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán trong việc bảo đảm tính minh bạch trên thị trường. Ngày 14/5/2004, tại Hà Nội, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động. Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động sẽ tạo thêm sức mạnh cho hoạt động kinh doanh chứng khoán, tăng niềm tin cho công chúng đầu tư trong bối cảnh thị trường đang khó khăn hiện nay. Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán có nhiệm vụ thiết lập và duy trì mối quan hệ thường xuyên giữa các thành viên phối hợp với Uỷ ban Chứng khoán nhà nước để xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý về chứng khoán. Hiệp hội cũng tổ chức các hoạt động đào tạo chứng khoán và thiết lập mối quan hệ quốc tế về lĩnh vực này.

Trong những năm qua, vai trò của Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán trong việc hỗ trợ sự phát triển của thị trường đã được khẳng định. Với số lượng các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư chứng khoán tham gia là thành viên đã làm cho tiếng nói của Hiệp hội ngày càng có giá trị. Trước những biến động của TTCK nước ta thời gian gần đây, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán đã có không ít kiến nghị đối với UBCKNN, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam… nhằm tìm kiếm các giải pháp khôi phục lại vị thế của TTCK đối với công chúng đầu tư. Vai trò của hiệp hội Kinh doanh chứng khoán trong việc nâng cao tính minh bạch trên TTCK nước ta thể hiện ở những điểm sau đây:

– Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán sẽ phản ánh được mức độ thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của các thành viên;

– Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán sẽ đưa ra những khuyến cáo đối với nhà đầu tư trước những thông tin không đáng tin cậy, không có cơ sở;

– Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều chỉnh chính sách cho phù hợp với những biến động của thị trường.

Năm là, nâng cao hiệu quả hoạt động của báo giới, làm rõ vai trò của báo giới trong hoạt động công bố thông tin trên TTCK. Đây là việc làm cần được tiến hành ngay. Không thể phủ nhận những gì mà báo giới đã mang lại cho TTCK trong thời gian qua và cũng đã không ít những tác hại mà báo giới đã mang lại đối với thị trường. Thông qua kênh báo chí giúp cho tổ chức phát hành tiếp cận được với công chúng đầu tư và công chúng đầu tư tiếp cận được với tổ chức phát hành. Điều mà chúng ta quan tâm hiện nay, đó là bản thân doanh nghiệp không muốn tiếp cận với báo chí, bởi khi khai thác thông tin báo giới thường quá nhấn mạnh tới những thông tin nhỏ hay cường điệu hoá thông tin gây nên những hiểu nhầm cho nhà đầu tư. Vai trò của báo giới đối với hoạt động công bố thông tin trên TTCK thể hiện ở những điểm sau:

– Báo giới phải góp phần định hướng cho công chúng đầu tư, đưa các thông tin chính xác, khách quan và tránh những bình luận gây hại cho doanh nghiệp;

– Báo giới phải trở thành công cụ để cho doanh nghiệp quảng bá và khuếch trương thương hiệu của mình trên thị trường;

– Khi phản ánh các thông tin về doanh nghiệp phải bảo đảm tính khách quan, công bằng, không cường điệu hoá thông tin, không đưa những thông tin “gây nhiễu” làm khó khăn cho nhà đầu tư.

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK, Bộ Tài chính chỉ đạo Uỷ ban Chứng khoán nhà nước phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh việc thông tin tuyên truyền với nội dung và phương thức đa dạng để công chúng có hiểu biết hơn về những lợi ích cũng như những rủi ro khi tham gia thị trường chứng khoán, coi đây là một trong các giải pháp trọng tâm lâu dài nhằm phát triển lành mạnh và bền vững thị trường chứng khoán. Đây cần được coi là tôn chỉ, mục đích hoạt động của báo chí trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK.

Sáu là, củng cố lòng tin của nhà đầu tư cũng như tăng cường sự quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK. Các phân tích ở trên đã chỉ rõ rằng, TTCK rất nhạy cảm với thông tin. Thông tin càng minh bạch, càng rõ ràng thì niềm tin của công chúng đầu tư vào TTCK càng lớn. Niềm tin của công chúng đầu tư là động lực thúc đẩy thị trường ngày càng phát triển, vượt qua những giai đoạn khó khăn thử thách. Để thành công trên TTCK ngoài kiến thức, tiền bạc, sự kiên nhẫn, sự may mắn thì lòng tin vẫn là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Nếu không có lòng tin vào thị trường, không có lòng tin vào tổ chức phát hành thì chắc chắn nhà đầu tư không thể đầu tư tiền bạc của mình vào được. Nói một cách khác đi, lòng tin của nhà đầu tư quyết định đến sự phát triển của TTCK.

Tình trạng thông tin bất cân xứng trên TTCK Việt Nam thời gian qua cũng như việc sụt giảm quá nhanh của TTCK thời gian gần đây đã làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư vào TTCK. Một trong những nguyên nhân của việc suy giảm lòng tin của nhà đầu tư đó chính là việc họ không có cơ hội tiếp cận được với các thông tin chính thức trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Niềm tin của công chúng đầu tư sẽ được cải thiện nếu các quy định pháp luật về công bố thông tin trên TTCK được các chủ thể tham gia thị trường tuân thủ đầy đủ.

Công tác quản lý nhà nước về TTCK cũng cần phải dựa trên hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời. Các giao dịch bất hợp pháp trong lĩnh vực chứng khoán nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời thì những hậu quả mà nó mang lại là rất lớn. Các nước có TTCK phát triển thì cũng có một hệ thống thông tin về TTCK rất hiện đại. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc7, việc khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc khôi phục TTCK là một bộ phận của chương trình cải cách kinh tế ở Trung Quốc. Điều này phản ánh dấu ấn cải cách kinh tế theo mô hình Trung Quốc, cũng được tiến hành một cách tuần tự trên cơ sở sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô và là sản phẩm của quá trình chuyển hoá dần về quan hệ sở hữu. Chính phủ Trung Quốc đã chủ động, tích cực tìm kiếm những con đường mới cho việc thiết lập lại thị trường vốn, tiến hành thử nghiệm việc thành lập thị trường giao dịch cổ phiếu tập trung ở Thượng Hải và Thẩm Quyến để tạo tiền đề cho việc thành lập thị trường vốn rộng lớn ở Trung Quốc.

Thời gian qua, với những nỗ lực của Uỷ ban Chứng khoán nhà nước trong việc duy trì, củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào TTCK bằng rất nhiều các biện pháp khác nhau như điều chỉnh biên độ giao dịch, tăng cường các biện pháp hỗ trợ cho thị trường, xử lý vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK… Tất cả những nỗ lực đó đã góp phần không nhỏ vào việc củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào thị trường. Việc củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào thị trường là công việc khó khăn và phải được tiến hành thường xuyên, bởi nếu không chú tâm vào việc giám sát thị trường thì ngay lập tức có thể ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng vào thị trường.

3. Kết luận

Từ đầu năm 2008 đến nay, nhà đầu tư chứng khoán nước ta đã buộc phải nhìn nhận lại sự phát triển “quá nóng” và đang mỏi mắt mong chờ nó “quay đầu trở lại”. Điều này thật dễ hiểu bởi nhà đầu tư đã đổ không ít tài sản, trí tuệ của mình trên TTCK. Đã không ít nhà đầu tư “muốn bán” để quay sang đầu tư vào lĩnh vực khác như vàng, bất động sản, ngoại tệ… nhưng thật khó, bởi trên bảng điển tử là “một dòng sông máu” – tức là nhà đầu tư đang đứng trước sự lựa chọn thua lỗ và chờ đợi thị trường tăng điểm. Cả hai lựa chọn này đều không dễ dàng đối với bất cứ nhà đầu tư nào. Bình tĩnh là một yêu cầu mang tính sống còn, nó thật sự có ý nghĩa không chỉ trong các quan hệ ứng xử mà còn trong cả việc ra quyết định đầu tư. Nhà đầu tư hãy khoan nghĩ tới những lợi nhuận mà mình có thể thu được từ quyết định đầu tư mà hãy xem xét quyết định đầu tư đó dựa trên những thông tin nào.

Chú thích

1. TS. Nguyễn Minh Phong “Nhận diện rủi ro trong đầu tư chứng khoán”; “Rủi ro trong đầu tư tài chính”; “Bốn rủi ro đe dọa nhà đầu tư chứng khoán”; “Giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán”; “Quản trị rủi ro trong đầu tư chứng khoán”…

2. “Tài chính học hành vi, tâm lý bầy đàn và thị trường chứng khoán Việt Nam”

3. TS. Đào Lê Minh (2006): “Nhu cầu và khả năng xây dựng Luật chứng khoán: Nhìn từ kết quả của một dự án điều tra”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới số 4 (120) 2006, tr49-56.

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 21/2008

4. Minh Đức “Đầu tư chứng khoán: Sợ… rủi ro chính sách”.

5. Xem thêm bài phỏng vấn TS. Đinh Thị Mỹ Loa

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: