HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA CỦA WTO

1. Thuế quan:

WTO thừa nhận thuế quan (Thuế nhập khẩu) là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước và các hàng rào bảo hộ phi thuế phải được bãi bỏ. Điều này được đặt ra là do thuế quan là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả.

Thuế quan chia làm nhiều loại khác nhau:

– Thuế phần trăm là một số phần trăm nhất định trên giá trị hàng hóa nhập khẩu (như 10%)

– Thuế cụ thể quy định một khoản tiền cố định phải nộp trên một đơn vị hàng hoá (Ví dụ : 1.000 đồng/kg).

–  Ngoài ra, còn có thuế thay thế có thể áp dụng hoặc thuế phần trăm hoặc thuế cụ thể tuỳ theo loại thuế nào cao hơn (Ví dụ: 10% hoặc 1000 đồng/kg, tuỳ loại nào cao hơn). Trong khi đó, thuế kết hợp buộc người nhập khẩu phải trả cả hai loại thuế phần trăm và cụ thể (Ví dụ: 5% và 1000 đồng/kg).

Tuy nhiên, thuế phần trăm là loại thuế mang tính rõ ràng hơn cả nên được WTO khuyến khích dùng hơn các loại thuế khác. Trong các trường hợp áp dụng các loại thuế khác, cần phải đưa ra mức thuế phần trăm tương đương  nhằm xác định được mức bảo hộ tương ứng.

Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO.

Một số phương thức kỹ thuật áp dụng cho các biện pháp thuế quan của WTO:

Thuế hoá:

Do tính dễ dàng và dễ đàm phán cắt giảm của thuế quan, các thành viên WTO thoả thuận một cách thức mới cho việc tiếp cận thị trường nông sản là “chỉ sử dụng thuế quan”. Các biện pháp hạn chế số lượng tồn tại trước Vòng Uruguay nay phải tiến hành “thuế hoá” tức là chuyển biện pháp phi thuế thành một mức thuế quan bổ sung có tác dụng tương đương. Trong nông nghiệp người ta còn sử dụng hạn ngạch thuế quan.  Hạn ngạch thuế quan là cơ chế cho phép duy trì mức thuế suất thấp áp dụng với hàng nhập trong phạm vi hạn ngạch và mức thuế suất cao hơn đối với hàng hoá nhập khẩu vượt hạn ngạch. Mức thuế đạt được sau khi thuế hoá sẽ tiếp tục được ràng buộc và cắt giảm thông qua đàm phán.

–  Ràng buộc thuế:

Khi một nuớc thành viên cam kết “ràng buộc” về thuế suất với một dòng thuế, thành viên đó sẽ không được nâng thuế nhập khẩu cao hơn mức ràng buộc đó.

Đối với các sản phẩm nông nghiệp các nước thành viên cam kết ràng buộc thuế quan đối với toàn bộ các mặt hàng. Trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển ràng buộc thuế 99% số mặt hàng. Các con số tương ứng của các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi là 73% và 98%. Các con số này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế.

Các mặt hàng không nằm trong Biểu cam kết sẽ phải chịu mức thuế suất ràng buộc. Tuy nhiên, ngay cả đối với các mặt hàng này vẫn phải tuân thủ nguyên tắc MFN.

Cắt giảm thuế quan hơn nữa

Sau khi ràng buộc thuế, các nước sẽ phải không ngừng cam kết cắt giảm thuế quan. Ví dụ tại Vòng đàm phán Uruguay, trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước phát triển cam kết cắt giảm trung bình 36% tính gộp với tất cả các dòng thuế, cắt giảm tối thiểu 15% một dòng, tiến hành trong 6 năm kể từ 1/1995. Trong lĩnh vực công nghiệp, tuy không phải ràng buộc toàn bộ các dòng thuế nhưng xu hướng cắt giảm diễn ra mạnh mẽ “thuế quan theo ngành” và “hài hòa thuế quan”. Thuế quan của tất cả các mặt hàng trong ngành cắt giảm theo các hình thức này có mức thuế suất rất thấp (thậm chí bằng 0%). Đó trước hết là sản phẩm công nghệ thông tin, duợc phẩm, một số sản phẩm kim loại, gỗ, bột giấy….

2. Phi thuế

 

WTO thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp sản xuất trong nước. Ngoài thuế quan ra, các hàng rào cản trở thương mại khác phải bị loại bỏ. Tuy nhiên, các thành viên khác có thể sử dụng các biện pháp phi thuế để hạn chế nhập khẩu trong những trường hợp cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia, văn hoá truyền thống, môi trường, sức khoẻ con người…

Hạn chế định lượng nhập khẩu

Các thành viên không được duy trì các biện pháp hạn chế định lượng như cấm, hạn ngạch mà không có lý do chính đáng theo đúng các quy định của WTO

Doanh nghiệp có đặc quyền thương mại

Trong WTO, các doanh nghiệp được ban hành các đặc quyền thương mại gọi là các doanh nghiệp  thương mại nhà nước dù cho chúng thuộc sở hữu Nhà nước hay sở hữu tư nhân. Ví dụ về các doanh nghiệp này là những doanh nghiệp thuộc loại “đầu mối” nhập khẩu, hay là những doanh nghiệp có khả năng tiếp cận tới các nguồn tài chính hay ngoại tệ.

WTO cho phép các thành viên duy trì doanh nghiệp thương mại nhà nước với điều kiện các doanh nghiệp này sẽ hoạt động hoàn toàn trên tiêu chí thương mại.

–  Các vấn đề về trị giá tính thuế hải quan và các phụ thu tại cửa khẩu

WTO quy định giá trị tính thuế hải quan là trị giá giao dịch (Trong giao dịch đơn giản thông thường là giá trị hợp đồng). Trong trường hợp không áp dụng được giá trị giao dịch thì phải sử dụng các cách tính khác, nhưng không được xác định giá trị tính thuế một cách tuỳ tiện, chẳng hạn sử dụng giá nhập khẩu tối thiểu để tính thuế.

Ngoài ra hải quan chỉ được thu các khoản phí và lệ phí tương ứng với các chi phí cần thiết cho thủ tục thông quan. WTO không cho phép thu các khoản phí và phụ thu vì các mục đích bảo hộ hay thu ngân sách.

Thủ tục cấp phép nhập khẩu.

WTO quy định cấp phép nhập khẩu phải đơn giản, rõ ràng và dễ dự đoán. Các chính phủ phải công bố thông tin đầy đủ cho các nhà kinh doanh biết giấy phép được cấp như thế nào và căn cứ để cấp. Khi đặt ra các thủ tục cấp phép nhập khẩu mới hay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những quy định cụ thể cho WTO. Việc xét đơn nhập khẩu cũng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ.

– Các biện pháp bảo vệ tạm thời: thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng và hành động tự vệ  khẩn cấp.

Việc ràng buộc thuế quan không được tăng và áp dụng chúng một cách bình đẳng với mọi đối tác thương mại (MFN) là công cụ chủ yếu để đảm bảo thương mại toàn cầu được tiến hành thuận lợi. Tuy nhiên, trong một số bối cảnh nhất định, WTO cho phép một nước thành viên có thể không tuân thủ các nguyên tắc này

· Phá giá và thuế chống bán phá giá

Phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một sản phẩm với giá thấp hơn giá thông thường tại nước sản xuất. Không phải khi nào phá giá cũng tạo ra cạnh tranh không công bằng. Khi hành động phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất của một thành viên. WTO cho phép thành viên đó đặt ra thuế chống bán phá giá để khắc phục những thiệt hại do phá giá gây nên.

Tuy nhiên, việc áp dụng thuế chống bán phá giá phải tuân thủ theo những thủ tục chặt chẽ và phức tạp.

· Trợ cấp và thuế đối kháng.

Trợ cấp có thể được sử dụng để hỗ trợ cho một ngành sản xuất non trẻ vươn lên chiếm lĩnh thị trường hoặc vì các mục đích khác. Hầu như ngành nào cũng sử dụng trợ cấp. Tuy nhiên một số hình thức trợ cấp bị cấm trong WTO, đặc biệt là trợ cấp xuất khẩu nông sản.

Khi hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành công nghiệp của một thành viên, thành viên có thể  đặt ra thuế đối kháng để  hạn chế thiệt hại do hành động trợ cấp gây ra.

· Tự vệ khẩn cấp.

Khi nhập khẩu một mặt hàng nào đó tăng lên đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất . WTO cho phép các thành viên bị thiệt hại có thể sử dụng biện pháp tự vệ tạm thời kể cả hạn chế định lượng khác để khắc phục thiệt hại do nhập khẩu gây ra.

Nước áp dụng tự vệ khẩn cấp phải có  nghĩa vụ thông báo về biện pháp mà mình đang áp dụng và tiến hành tham vấn với các nước bị ảnh hưởng.

SOURCE: VIỆN KINH TẾ THÀNH PHỐ HCM

Trích dẫn từ: http://www.vienkinhte.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=2484&cap=4&id=2490

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: