LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật quốc tịch Việt Nam.

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Quốc tịch Việt Nam

Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.

Điều 2. Quyền đối với quốc tịch

1. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch. Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này.

2. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Advertisements

PHÂN BIỆT GIỮA CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

imageTS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Ở nước ta, trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là SHTT) đã trở thành một vấn đề nổi cộm, tuy chưa có một thống kê chính thức và toàn diện nào về tình trạng vi phạm song qua các phương tiện thông tin đại chúng có thể thấy sự vi phạm diễn ra ngày càng phổ biến, mức độ theo chiều hướng trầm trọng hơn và cách thức ngày càng tinh vi hơn.

Các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam đã tạo ra những cơ sở pháp lý cần thiết cho việc xử lý các hành vi vi phạm quyền SHTT. Theo các quy định hiện hành, chủ thể bị vi phạm quyền SHTT có thể áp dụng hay đề nghị áp dụng các biện pháp dân sự[1], hình sự[2], hành chính[3] hay biện pháp kiểm soát tại biên giới[4] nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm.

Ngoài các biện pháp bảo vệ quyền nêu trên, ngay từ khi ra đời Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/01/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định 54), các chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp (sau đây gọi tắt là SHCN) đã biết đến một «vũ khí» tự vệ mới, đó là các quy định về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN được quy định tại Chương IV của Nghị định này.

Thật ra, việc sử dụng quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong các vụ việc có liên quan đến SHTT đã được biết đến từ lâu trên thế giới. Ngay từ năm 1883, trong Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN đã có các quy định liên quan đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN (Điều 1 và 10bis). Có thể nói, việc có thêm các quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHTT chứng tỏ từ lâu các nhà làm luật đã mong muốn sử dụng nhiều quy phạm khác nhau để bảo hộ quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh nói chung và quyền SHTT nói riêng. Ngoài ra, các khía cạnh pháp lý của việc áp dụng luật cạnh tranh trong SHTT cũng đã được nghiên cứu, áp dụng trên thực tế tại rất nhiều nước trên thế giới, thể hiện sự lo lắng của nhà làm luật đối với tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đang diễn ra ngày một nghiêm trọng[5].

Tiếp tục đọc

KHÁI QUÁT MỘT SỐ MÔ HÌNH CƠ QUAN ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM MÀ VIỆT NAM CÓ THỂ THAM KHẢO, VẬN DỤNG

HỒ QUANG HUY

Hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm góp phần nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay . Do vậy, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mong muốn được cung cấp thông tin liên quan đến mô hình tổ chức cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm của một số quốc gia trên thế giới để chúng ta cùng nghiên cứu, trao đổi.

1. Khái quát một số mô hình cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm trên thế giới

1.1. Mô hình thứ nhất

Hệ thống cơ quan đăng ký được tổ chức phân tán, không tập trung. Việc đăng ký cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được thực hiện tại chính các cơ quan đăng ký quyền sở hữu tài sản. Đây là mô hình được nhiều nước áp dụng cách đây hơn nữa thế kỷ và hiện đã trở nên lỗi thời. Ngay cả những nước có hệ thống cơ quan đăng ký khá hoàn thiện về thể chế và năng lực hoạt động ở châu Âu hay như Nhật Bản, Úc, trước đây cũng đã từng áp dụng mô hình này.

Ưu điểm nổi bật nhất của mô hình thứ nhất là: Tình trạng pháp lý của một tài sản được đăng ký, theo dõi tại duy nhất một cơ quan. Khi cần thiết lập các giao dịch liên quan đến tài sản đó, các tổ chức, cá nhân chỉ cần tìm hiểu thông tin tại chính cơ quan đã đăng ký quyền sở hữu tài sản.

Nhược điểm của mô hình thứ nhất là:

Đứng ở giác độ kinh tế, mô hình này khiến các bên tham gia giao dịch mất nhiều thời gian, chi phí tốn kém, làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường, vì mỗi khi giao kết hợp đồng liên quan đến tài sản, các bên chủ thể phải tiến hành đăng ký quyền cầm cố, thế chấp tại nhiều cơ quan khác nhau.

Không phải tất cả các tài sản có giá trị lớn đều được đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan có thẩm quyền (ví dụ như: máy móc, thiết bị…). Do vậy, hệ thống đăng ký phi tập trung sẽ hạn chế phạm vi các tài sản được dùng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ.

Mô hình tổ chức cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm gắn với cơ quan đăng ký quyền sở hữu tài sản cho thấy, mục tiêu trước hết và chủ yếu của mô hình tổ chức này là phục vụ công tác quản lý nhà nước, còn mục tiêu đảm bảo cho các giao dịch được thực hiện thuận lợi, minh bạch, công khai chưa được chú trọng đúng mức. Tiếp tục đọc

VAI TRÒ XÂY DỰNG ÁN LỆ CỦA CỦA TÒA ÁN

LS. LÊ CÔNG ĐỊNH

Hệ thống tòa án Việt Nam hiện tại được tổ chức và vận hành thuần túy như một thành phần của bộ máy công quyền hơn là cơ quan tư pháp với vai trò duy trì công lý trong một cộng đồng có nhiều quyền lợi đa dạng. Tuy hành xử quyền tài phán, một trong ba quyền nền tảng của hệ thống quyền lực quốc gia, tòa án lại hoạt động như một cơ quan hành pháp, và các thẩm phán cũng chỉ đơn thuần là những công chức mẫn cán của bộ máy công quyền đó.

Hệ quả của quan niệm “hành pháp hóa” hệ thống tòa án là hoạt động của thẩm phán bị giới hạn trong phạm vi hẹp của việc áp dụng, thường máy móc và thiếu uyển chuyển, các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành để xét xử. Điều này vô tình tước mất trọng trách “cao cả” hơn mà lẽ ra tòa án phải gánh vác, đó là xác lập một khuôn khổ ứng xử cho mọi hành vi của các thành viên trong xã hội. Phán quyết của tòa án hiện nay thường thiếu chiều sâu và sự uyên bác trong nhận định và phân tích các vấn đề pháp lý cụ thể. Một số thẩm phán đôi khi phải đưa ra những lời giáo huấn về đạo đức không cần thiết cho bị cáo hoặc các bên tranh chấp nhằm khỏa lấp khiếm khuyết đó.

Trả lại vai trò năng động và sáng tạo cho tòa án đòi hỏi phải có sự điều chỉnh cách diễn giải nguyên tắc “khi xét xử thẩm phán chỉ tuân theo luật pháp”. Luật pháp không chỉ là những bản văn lập pháp và lập quy do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, mà còn bao gồm cả án lệ, tức là những phán quyết quan trọng đánh dấu một đường hướng mới trong việc giải thích luật hoặc giải quyết một vấn đề pháp lý cụ thể. Thông thường án lệ là công trình của tòa án tối cao.

Tiếp tục đọc

LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 2008

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật cán bộ, công chức.

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Luật này quy định về cán bộ, công chức; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức; nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện bảo đảm thi hành công vụ.

Điều 2. Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức

Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan.

Điều 3. Các nguyên tắc trong thi hành công vụ

1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

2. Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

3. Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát.

4. Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả.

5. Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ.

Tiếp tục đọc

CÁC CHIẾN LƯỢC MUA BÁN VÀ SÁT NHẬP (M&A) TRONG MỘT THỊ TRƯỜNG SUY THOÁI

MINH HÀ (Dịch từ MckinseyQuarterly)

Mặc dù các nhà đầu tư luôn ngày càng trở lên nguyên tắc hơn trong những bản hợp đồng hiện nay của họ thì việc nâng cao chi phí mua lại và gia tăng tính cạnh tranh sẽ kiểm tra dũng khí của họ. Do đó, các cổ đông đều đang thu được một khoản hời từ bản hợp đồng tốt hơn trong thời kỳ bùng nổ M&A hiện nay so với những gì họ đã làm được trong thời gian vừa qua. Thế nên bản nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng năm 2006 đã trở thành năm được đánh giá có giá trị cao nhất trong mười năm qua (theo tỷ lệ phần trăm của các hoạt động hợp đồng) về những khoản lợi tức được trả cho các cổ đông. Nhưng với cảnh tượng không có điểm kết thúc hiện nay về việc tiêu tiền khủng khiếp thì các ban giám đốc cũng như nhà quản lý sẽ cần phải chứng tỏ được thần kinh vững vàng của mình nếu tham gia vào việc mua bán và sáp nhập công ty bởi ở đó, những tín hiệu đang được dùng để kiểm tra đều đã sẵn sàng.

Để đánh giá được những xu hướng trong việc tạo ra giá trị thông qua M&A, chúng tôi đã phải rà soát lại gần 1000 công ty được dựng lên thông qua mua bán và sáp nhập trên toàn cầu, được định giá nhiều hơn 500 tỷ đô la và xuất hiện từ năm 1997 tới năm 2006. Và nhờ việc kiểm tra những động thái về giá cổ phiếu một cách nhanh chóng trước và sau mỗi một hợp đồng được đưa ra, chúng tôi có đủ khả năng để đánh giá được các thị trường tài chính đã nhìn nhận về giá trị của bản hợp đồng đó như thế nào. Trong khi ngay cả “những tác động thông cáo” đều không phải là phương tiện đánh giá hoàn hảo thì bản nghiên cứu về mặt lý thuyết lại cho thấy chúng chính là một người chỉ đường rất tốt trong việc tạo ra giá trị về mặt lâu dài.

Phân tích của chúng tôi chỉ ra rằng, giá trị do các bản hợp đồng tạo ra trong thời kỳ bùng nổ M&A hiện nay (từ 2003 tới 2006) đối với cả bên mua lẫn bên bán hợp lại trung bình đạt được 6% giá trị giao dịch. Con số này cho thấy sự tương phản rõ ràng với thời kỳ bùng nổ trong khoảng thời gian từ 1997 tới 2000, khi mà trung bình chỉ đạt được 2% giá trị giao dịch. Bên cạnh đó, trong khi một điều đáng lo ngại là hơn 58% tất cả công ty được mua lại vẫn hoạt động để thanh toán cho những khoản mua lại thì con số đó đã được nâng lên tới hơn 70% cho những công ty từng hoạt động trong thời kỳ hoàng kim trước khi bùng nổ M&A.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: