KHÁI QUÁT MỘT SỐ MÔ HÌNH CƠ QUAN ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM MÀ VIỆT NAM CÓ THỂ THAM KHẢO, VẬN DỤNG

HỒ QUANG HUY

Hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm góp phần nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay . Do vậy, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mong muốn được cung cấp thông tin liên quan đến mô hình tổ chức cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm của một số quốc gia trên thế giới để chúng ta cùng nghiên cứu, trao đổi.

1. Khái quát một số mô hình cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm trên thế giới

1.1. Mô hình thứ nhất

Hệ thống cơ quan đăng ký được tổ chức phân tán, không tập trung. Việc đăng ký cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được thực hiện tại chính các cơ quan đăng ký quyền sở hữu tài sản. Đây là mô hình được nhiều nước áp dụng cách đây hơn nữa thế kỷ và hiện đã trở nên lỗi thời. Ngay cả những nước có hệ thống cơ quan đăng ký khá hoàn thiện về thể chế và năng lực hoạt động ở châu Âu hay như Nhật Bản, Úc, trước đây cũng đã từng áp dụng mô hình này.

Ưu điểm nổi bật nhất của mô hình thứ nhất là: Tình trạng pháp lý của một tài sản được đăng ký, theo dõi tại duy nhất một cơ quan. Khi cần thiết lập các giao dịch liên quan đến tài sản đó, các tổ chức, cá nhân chỉ cần tìm hiểu thông tin tại chính cơ quan đã đăng ký quyền sở hữu tài sản.

Nhược điểm của mô hình thứ nhất là:

Đứng ở giác độ kinh tế, mô hình này khiến các bên tham gia giao dịch mất nhiều thời gian, chi phí tốn kém, làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường, vì mỗi khi giao kết hợp đồng liên quan đến tài sản, các bên chủ thể phải tiến hành đăng ký quyền cầm cố, thế chấp tại nhiều cơ quan khác nhau.

Không phải tất cả các tài sản có giá trị lớn đều được đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan có thẩm quyền (ví dụ như: máy móc, thiết bị…). Do vậy, hệ thống đăng ký phi tập trung sẽ hạn chế phạm vi các tài sản được dùng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ.

Mô hình tổ chức cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm gắn với cơ quan đăng ký quyền sở hữu tài sản cho thấy, mục tiêu trước hết và chủ yếu của mô hình tổ chức này là phục vụ công tác quản lý nhà nước, còn mục tiêu đảm bảo cho các giao dịch được thực hiện thuận lợi, minh bạch, công khai chưa được chú trọng đúng mức. 1.2. Mô hình thứ hai

Mô hình đăng ký tập trung đối với cầm cố động sản, do một cơ quan không phải cơ quan đăng ký quyền sở hữu thực hiện và đăng ký thế chấp bất động sản ở những cơ quan đăng ký quyền sở hữu bất động sản (gọi tắt là Mô hình Quêbéc – Canada).

Tiêu biểu cho mô hình này chính là mô hình đăng ký hiện đang được áp dụng tại bang Quêbéc – Canada. Nội dung chủ yếu của mô hình thứ hai là việc đăng ký thế chấp và đăng ký các lợi ích khác liên quan đến bất động sản được thực hiện tại chính cơ quan đăng ký quyền sở hữu bất động sản và được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, còn việc cầm cố và các lợi ích khác liên quan đến động sản thì được đăng ký tại duy nhất một cơ quan trung ương với các chi nhánh đặt tại địa phương. Đây là mô hình đã tồn tại và phổ biến ở Mỹ và Canada trong hơn 50 năm qua. Tuy nhiên, theo khuyến nghị của Ông Allen – Chuyên gia pháp lý của ADB, thì sự tồn tại của mô hình đăng ký ở Mỹ mang tính lịch sử, khi mà điều kiện kinh tế – chính trị – địa lý không cho phép tổ chức mô hình với mức độ tập trung cao hơn.

Ưu điểm của Mô hình Quêbéc là:

Tạo điều kiện xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán khi một tài sản được bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ.

Giúp cho các bên trong quan hệ tín dụng giảm chi phí khi tìm hiểu thông tin về tài sản bảo đảm là động sản tại duy nhất một cơ quan đăng ký.

Mở rộng phạm vi tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, không chỉ giới hạn là tài sản có đăng ký quyền sở hữu.

Chi phí để thực hiện vi tính hoá, nối mạng sẽ không quá cao do phạm vi cơ quan đăng ký không nhiều.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, mô hình cơ quan đăng ký Quêbéc cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, đó là:

Người muốn mua tài sản là động sản phải thực hiện việc tra cứu thông tin tại hai hệ thống cơ quan là: cơ quan đăng ký tài sản bảo đảm và cơ quan đăng ký sở hữu.

Các bên trong quan hệ tín dụng vẫn phải thực hiện đăng ký quyền lợi được bảo đảm tại các cơ quan khác nhau, trong trường hợp nhận bất động sản ở nhiều địa phương làm tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ.

1.3. Mô hình thứ ba

Hệ thống đăng ký tập trung, theo đó cả động sản và bất động sản sẽ được đăng ký tại cùng một cơ quan và tách khỏi cơ quan đăng ký quyền sở hữu.

Theo mô hình này, việc cầm cố, thế chấp tài sản và các lợi ích liên quan đến tài sản đều được đăng ký tại một cơ quan và độc lập với cơ quan đăng ký quyền sở hữu. Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu, thì khi đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ có viện dẫn nơi đăng ký và số đăng ký quyền sở hữu. Đồng thời, giữa cơ quan đăng ký quyền sở hữu với cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ thiết lập một cơ chế trao đổi thông tin liên quan đến tình trạng pháp lý của tài sản.

Hiện nay, Hồng Kông, Malaixia, Singgapore và một số nước ở châu Âu… đang áp dụng mô hình này.

Ưu điểm của mô hình đăng ký tập trung đối với cả động sản và bất động sản là:

Giúp xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán hơn so với 2 mô hình trên, do toàn bộ tài sản đều được đăng ký tại duy nhất một cơ quan, mà không cần phải xác định theo đối tượng là động sản hay bất động sản.

Giúp cho bên nhận bảo đảm có thể dễ dàng tra cứu thông tin hơn cả mô hình 2 khi tìm hiểu tài sản của bên bảo đảm đã được dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ khác chưa.

Giống như mô hình 2, mô hình đăng ký tập trung này cho phép dùng chính những tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ.

Giảm chi phí cho các chủ thể trong quan hệ tín dụng khi tiến hành tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình trạng pháp lý của tài sản được dùng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ.

Giảm chi phí khi thực hiện vi tính hoá, nối mạng cho một cơ quan đăng ký.

Nhược điểm của mô hình thứ ba là: Nếu muốn tìm hiểu thông tin về tài sản có đăng ký quyền sở hữu, các tổ chức, cá nhân trong xã hội phải tìm hiểu ở cả hai hệ thống cơ quan là: cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và cơ quan đăng ký quyền sở hữu. Khắc phục vấn đề này, nhiều nước hiện áp dụng cơ chế trao đổi thông tin giữa 2 hệ thống cơ quan đăng ký.

Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy, cả 3 mô hình cơ quan đăng ký nêu trên đều có những ưu và nhược điểm nhất định. Do vậy, việc lựa chọn mô hình cơ quan đăng ký nào cần phải có sự cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, phù hợp trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phù hợp với xu hướng phát triển của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm trong khu vực và trên thế giới, trong đó thực hiện đăng ký tập trung được xem là xu hướng nổi bật, phổ biến trên thế giới với sự hỗ trợ đắc lực của các thiết bị kỹ thuật hiện đại.

2. Đâu là mô hình cơ quan đăng ký phù hợp với Việt Nam?

Chúng tôi cho rằng, Việt Nam cần phải có cải cách triệt để về mô hình cơ quan đăng ký (trong đó bao gồm cả đăng ký giao dịch bảo đảm) theo hướng đăng ký tập trung về tình trạng pháp lý của tài sản, tách bạch với quản lý hiện trạng vật lý. Sở dĩ chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề xuất nêu trên vì những lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Việt Nam hiện chưa đầu tư nhiều cho hệ thống đăng ký, nên ngay từ bây giờ cần thực hiện vi tính hoá, nối mạng đối với toàn bộ hệ thống đăng ký, tránh tình trạng như các nước do yếu tố lịch sử nên muốn kiện toàn và thay đổi là không thể.

Thứ hai: Qua thảo luận với các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, chúng tôi nhận thấy, nếu thực hiện mô hình cơ quan đăng ký tập trung thì độ tin cậy của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng lên rất nhiều do các giao dịch được minh bạch, công khai và đặc biệt là thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ được xác định chính xác.

Thứ ba: Chúng ta nên tham khảo mô hình thứ ba, trên cơ sở phải đẩy mạnh, triệt để hơn về mức độ tập trung vì ưu điểm nổi bật của mô hình thứ ba là đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra đối với một hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm hiện đại (thuận lợi, an toàn, minh bạch và hiệu quả).

Thứ tư: Cần tăng cường hơn mức độ tập trung vì nếu chúng ta chỉ đăng ký tập trung về giao dịch bảo đảm thì mới chỉ giải quyết được “phần ngọn”, mà chưa xử lý được những vấn đề “gốc rễ” liên quan đến tình trạng pháp lý của tài sản.

Song, cũng cần thấy rằng, khó khăn lớn nhất trong việc triển khai mô hình cơ quan đăng ký tập trung chính là sự phân tán trong quản lý nhà nước đối với các tài sản (nhất là bất động sản). Theo quy định hiện hành thì có nhiều cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài sản (như: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải) và đăng ký hiện trạng tài sản lại là một trong những nội dung của hoạt động quản lý nhà nước. Vậy thiết lập mô hình cơ quan đăng ký tập trung liệu có ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước hay không? Theo chúng tôi, để trả lời câu hỏi nêu trên, chúng ta có thể tổ chức thực hiện đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng và các quyền khác liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (nhất là đối với bất động sản) tập trung tại một hệ thống cơ quan đăng ký nhằm tạo điều kiện thuận lợi khi theo dõi tình trạng pháp lý của tài sản, còn đăng ký hiện trạng sẽ vẫn do cơ quan quản lý nhà nước mang tính chuyên ngành kinh tế – kỹ thuật thực hiện. Dĩ nhiên, giữa cơ quan đăng ký các quyền liên quan đến tài sản và cơ quan quản lý về hiện trạng tài sản phải thiết lập một cơ chế phối hợp hiệu quả, linh hoạt. Khi đó, cơ quan đăng ký sẽ cung cấp thông tin không chỉ phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, mà còn thúc đẩy sự phát triển minh bạch, an toàn của các giao dịch trên thị trường.

Để nâng cao năng lực của hệ thống đăng ký, Việt Nam cần áp dụng tổng thể nhiều biện pháp, trong đó việc đổi mới về mô hình tổ chức của cơ quan đăng ký theo hướng tập trung, thống nhất là một trong những mục tiêu quan trọng cần được nghiên cứu, thí điểm thực hiện trong thời gian tới.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ;

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n420.uP?uP_root=me&cmd=item&ID=11195

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: